CÔNG TR Ạ
NG C Ủ
A CÁC CHÚA NGUY Ễ
N VÀ V ƯƠ
N G TRI Ề
U NGUY Ễ
N
Kể từ những năm 70 của thế kỷ XX tr ở về tr ước, ở nhiều góc độ khác nhau, V ương triều Nguyễn
từng bị phê phán gay gắt và th ời kỳ này cũng t ừng bị xem là th ời kỳ chuyên chế phản động nhất
trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Khuynh hướ ng này vẫn còn tồn tại cho đến tận ngày nay, mặc dù
về sau này, trong giới Sử học n ướ c nhà đã có nh ững chuyển biến tích c ực về mặt nhận th ức. Biểu
hiện rõ nét nhất cho khuynh h ướng này là nội dung trong nh ững bộ s ử dành cho học sinh cấp II và
cấp III. Tôi đã đặt thử một câu hỏi cho các em học sinh cấp II, cấp III rằng: “Theo các em, Nguyễn
Huệ và Nguyễn Ánh, ai m ới là anh hùng dân tộc?”. Và hầu nh ư tất cả học sinh đều xem Nguyễn
Huệ là anh hùng dân tộc và không công nhận nh ững gì mà Nguyễn Ánh đã làm cho đất n ước. Rõ
ràng, một câu hỏi nhỏ cũng đã phản ánh một s ự bất công bằng khi đánh giá về Nguyễn Ánh nói
riêng và Vươ ng triều Nguyễn nói chung.
Sự lên án triều Nguyễn trong gi ới Sử học n ước nhà được biểu hiện qua nh ững “chỉ khống” nh ư:
Chia cắt đất nướ c, cầu viện Tư bản Pháp, hành động cầu viện quân Xiêm để “cõng rắn cắn gà
nhà”… Những “chỉ khống” đó đã kết thúc s ự đánh giá của các nhà nghiên c ứu về triều đình này
bằng cụm từ: “Triều đại bán nước”.
Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh th ực tiễn tình hình chính trị của đất n ước trong giai đoạn tr ước (đặc
biệt là từ năm 1945 đến những năm tr ướ c 1975), ta có thể hiểu được. Đây là giai đoạn mà cả n ước
đang ráo riết tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất n ước. Điều này đồng
nghĩa với một thực tiễn: Độc lập dân tộc là quan trọng nhất; bất kỳ hành động nào trong quá kh ứ
xúc phạm hay đi ngượ c lại v ới chân lý đó đều bị phê phán kịch liệt. Tôi không phủ định triều Nguyễn
đã có những động thái đi ngược lại v ới chân lý đó. Nh ưng, lịch s ừ phải công minh, lịch s ử càng phải
là sự thật. Mà sự thật thì v ới nh ững gì đã làm được cho đất n ước, triều Nguyễn đã có nh ững đóng
góp hết sức to lớn cho dân tộc. Đấy là sự thật mà ta không thể phủ định !
Tội trạng của triều Nguyễn có hay không ? Xin th ưa là “Có”. Thậm chí tr ước đây, ở trong bối cảnh
lịch sử như vậy, tội trạng của vươ ng triều này có lẽ còn được nghiên c ứu kỹ h ơn so v ới công trạng,
Sơn. Để lý giải cho từng nguyên nhân trên, hiển nhiên cần có thêm dẫn giải, nh ưng trong phạm vi
bài viết, tôi không đi sâu lý giải chúng. S ở dĩ đề cập đến nguyên nhân thành công của Nguyễn Ánh
trong việc đánh bại nhà Tây S ơn để lập nên V ương triều Nguyễn ngay trong bài viết này b ởi vì cá
nhân tôi muốn nhấn mạnh một nhận thức sai lầm của gi ới S ử học ngày tr ước, đó là việc ch ưa nhận
định được những nguyên nhân khách quan (yếu tố khách quan trong bài viết của Nguyễn H ữu Hiếu)
trong việc đánh giá năng lực của Nguyễn Ánh. Và v ới vai trò là ng ườ i sáng lập V ương triều Nguyễn,
sự đánh giá chủ quan về ông, theo tôi, có lẽ là tiền đề để nh ững ng ười nghiên c ứu tiếp tục lún sâu
vào con đường đánh giá tiêu cực triều Nguyễn. Và tôi th ực s ự hoan nghênh nh ững nhìn nhận khách
quan mà Nguyễn H ữu Hiếu đã chỉ ra để lý giải s ự thành công của Nguyễn Ánh trong việc m ở đầu
triều Nguyễn trong lịch sử dân tộc.
Trong tổng số 90 bài tham luận được in trong Kỷ yếu, bằng ph ương pháp tổng h ợp, cá nhân tác giả
xin phép được tổng kết lại những công trạng mà các nhà nghiên c ứu, các học giả đã nhìn nhận và
công nhận các Chúa Nguyễn và V ươ ng triều Nguyễn đã làm được cho đất n ước. Cụ thể, tôi tập
trung vào 4 đóng góp l ớn của nhà Nguyễn trong việc củng cố và phát triển đất n ước: Thống nhất và
mở rộng lãnh thổ – Xác lập chủ quyền tại 2 quần đảo Hoàng Sa và Tr ường Sa – Phát triển nền văn
hóa dân tộc v ới việc để lại nh ững di sản văn hóa – Hình thành nh ững cảng thị có vai trò quan
trọng.Cũng cần nói thêm, “9 ngườ i 10 ý” mà do vậy, s ự tổng h ợp ở đây của cá nhân tác giả mang
tính chủ quan vì tôi cho rằng, 4 đóng góp này là ý ngh ĩa nhất mà các Chúa Nguyễn và V ương tri ều
Nguyễn đã làm cho dân tộc. Nói nó ý nghĩa vì nh ững việc làm này của các Chúa Nguyễn và triều
Nguyễn đã tác động đến cả thực tại, hay nói cách khác là nh ững đóng góp ấy vẫn còn giá trị đến
ngày nay.
Thứ nhất, thống nhất và mở rộng lãnh thổ:Ngườ i ta cứ bảo nhau rằng Nguyễn Ánh “rước voi về giày
mã tổ”, “cõng rắn cắn gà nhà” khi cầu viện quân Xiêm. Nh ưng xét lại lịch s ử, năm 1801, Cảnh Thịnh
cũng cầu viện quân Thanh. Nếu khi đấy, quân Thanh kéo sang xâm l ược n ước ta thì nh ư thế nào ?
Như vậy, đặt trong tình thế khi ấy, Nguyễn Ánh cầu viện quân Xiêm cũng là lẽ th ường tình. Hoàng
Tuấn Phổ trong tham luận “Nguồn gốc Gia Miêu Ngoại Trang và nh ững đóng góp của dòng họ
Nguyễn trong lịch sử dân tộc” đã có một nhận xét rất xác đáng: “…Cái ng ười x ưa gọi là “khí số”
chính là vai trò lịch sử. Khi nhà Tây S ơn hết vai trò lịch s ử, lịch s ử tất phải chọn ai đó, không ng ười
này thì ngườ i khác, đứng ra dọn dẹp đống đổ nát để xây dựng trên nền tảng quốc gia ngôi nhà m ới.
Và lịch sử đã chọn Nguyễn Ánh. Lịch sử có thể chọn nhầm ai đó, nh ưng v ới Nguyễn Ánh, là nhân
Lôi
Lạp,
Bàn
Lân.
Năm
1698,
Chúa
Nguyễn
Phúc
Chu
cho
đặt
phủ
Gia
Định.
Năm
1732,
Chúa
Nguyễn
lập
châu
Định
Viễn
và
dinh
Long
Hồ.
Năm 1757, vua Chân Lạp là Nặc Nguyên mất, chúa Nguyễn đưa Nặc Ông Tôn lên ngôi. Để tạ ơn,
Nặc
Ông
sau). Hình hài của nước Việt Nam v ới hình ch ữ S nh ư ngày nay có s ự góp s ức rất nhiều của các
Chúa Nguyễn và Vươ ng triều Nguyễn.
Những sự kiện chính yếu mà tôi đã thống kê ở trên cho phép ta nhìn nhận s ự linh hoạt trong vấn đề
mở rộng lãnh thổ của đất nước dướ i thời các Chúa Nguyễn. Trong đó, m ở rộng lãnh thổ bằng con
đường hôn nhân là một phương thức quen thuộc mà lịch s ử dân tộc đã ch ứng kiến không d ưới một
lần. Đó là mối hôn nhân gi ữa Công n ữ Ngọc Vạn – con của Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (sau
này là Hoàng hậu Ang Cuv) v ới quốc v ương Chân Lạp là Chey Chetta II vào năm 1620. Một cuộc
hôn nhân chính trị đã diễn ra v ới viễn cảnh đôi bên v ừa có l ợi: Chân Lạp có thể d ựa vào thế l ực của
Chúa Nguyễn để chống đỡ với Xiêm La, các Chúa Nguyễn có thể d ựa vào mối quan hệ này để đưa
lưu dân vào khai phá và định c ư tại vùng đất Nam Bộ. Nh ững b ước đi đầu tiên này chính là tiền đề
vững chắc để Vươ ng triều Nguyễn có thể gầy dựng và phát triển đất nướ c sau này.
Nói tóm lại, Quang Trung – Nguyễn Huệ và triều Tây S ơn đã có công trong việc củng cố và hoàn tất
việc thống nhất đất nướ c sau bao năm nội chiến và chia cắt đất n ước, đồng th ời cũng đã đập tan
âm mưu đánh chiếm nướ c ta của các thế lực ngoại bang. Tuy nhiên, Gia Long – Nguyễn Ánh m ới là
ngườ i đã tiếp nối sự thống nhất đó v ới việc phát triển đất n ước. Hai con ng ười của hai triều đại này
đã có những hành động theo mối quan hệ t ương hỗ lẫn nhau để giúp đất n ước thống nhất và phát
triển. Nhìn nhận được mấu chốt này m ới gọi là đánh giá khách quan và công bằng. Và nh ững động
thái khôn khéo dưới th ời các Chúa Nguyễn là bàn đạp v ững chắc để sau này Gia Long có c ơ s ở
phát triển đất nướ c.
Thứ hai, xác lập chủ quyền tại 2 quần đảo Hoàng Sa, Tr ường Sa: Ngày 1/5/2014, báo chí trong
nướ c đồng loạt đưa tin về việc Trung Quốc đưa giàn khoan Hải D ương 981 vào lãnh hải của n ước
ta, gần với quần đảo Hoàng Sa và mạnh dạn tuyên bố đây là vùng biển thuộc chủ quyền của mình.
Từ ngày 2/5/2014 đến 27/5/2014, vị trí của giàn khoan chỉ cách đảo Lý S ơn (Quảng Ngãi) 120 hải lý
về phía Đông. Động thái này cho thấy tham vọng nuốt trọn biển Đông của Trung Quốc, đồng th ời
Trung Quốc cũng muốn chiếm trọn hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Tr ước tình
hình đó, giới nghiên cứu trong n ướ c đã tìm lại rất nguồn s ử liệu, bằng ch ứng lịch s ử để ch ứng minh
đây là một phần của lãnh thổ Việt Nam. Trong quá trình ch ứng minh cho quan điểm “Hoàng Sa,
Trườ ng Sa là của Việt Nam”, gi ới S ử học đã tìm thấy nh ững minh ch ứng về chủ quyền lãnh thổ của
ràng nhất về chủ quyển biển đảo của n ước ta. Vậy, ý th ức về biển của Minh Mạng mạnh đến m ức
nào? Nó thể hiện trên những ph ươ ng diện gì? Và nh ững chỉ đạo của ông về việc cắm mốc chủ
quyền và khai thác tại hai hòn đảo này có tác động như thế nào v ới Việt Nam đương đại?
Trong tham luận “Ý thức về biển của vua Minh Mệnh” cho rằng khoảng th ởi gian 21 năm trị vì của
Minh Mạng là đỉnh cao của sự phát triển nền hàng hải thuyền buồm và xây d ựng hải quân của Việt
Nam. Vua Minh Mạng luôn theo dõi việc đóng tàu thuyền và nâng cao kỹ thuật hàng hải; vì theo ông,
sự phát triển của thủy quân phải gắn chặt v ới s ự phát triển của nh ững con tàu, ngoài kỹ thuật thì
đây là phương tiện đắc lực quyết định chất lượng thủy quân. Ngoài ra, việc xây d ựng l ực l ượng hải
quân biển nhằm mục tiêu chống cướ p biển, giữ gìn an ninh hàng hải, thúc đẩy hoạt động hàng hải ở
hải ngoại, … Những việc làm trên cho ta thấy được tầm nhìn của vị vua này trong việc nhận định
tầm quan trọng của hải đảo nướ c ta. Ngoài những hoạt động mang tính thúc đẩy kinh tế và bảo vệ
tổ quốc, bên cạnh đó, những chỉ đạo của ông về ph ương diện văn hóa tinh thần cũng rất đáng l ưu
ý. Đó là việc thờ các vị thần Biển v ới mong ước cầu cho m ưa thuận gió hòa, bình yên trong hoạt
động biển… Theo quan điểm của bản thân, tác giả nghĩ rằng đây cũng là một điểm nhấn trong dòng
chảy lịch sử văn hóa của dân tộc mà rõ nét nhất chính là tín ng ưỡng th ờ Cá Ông mà hiện nay c ư
dân biển vẫn còn giữ được tập tục ấy. Ngoài những biểu hiện ấy, có một đặc điểm cũng khá thú vị
dù không nói lên tất cả, thế nh ưng một trong 9 chiếc vạc (C ửu Đỉnh) đặt trong Kinh thành Huế cũng
phản ánh ý thức về biển của vị vua này. “… Nh ững hình vẽ phản ánh về l ực l ượng quân s ự trên vạc
Cửu Đỉnh chủ yếu là hỏa khí và tàu thuyền, nh ững hình vẽ về tàu thuyền chủ yếu bao gồm các tàu
thuyền trên biển…” [3: 276].
Những biểu hiện trên chứng minh một nhận th ức về biển nói chung của Minh Mạng là rất l ớn. Về
phía hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ngay t ừ d ưới th ời vua Gia Long (bắt đầu t ừ năm 1815)
đã bắt đầu tiến hành đo đạc hải trình nhằm giúp cho các tàu thuyền di chuyển an toàn trên biển. Tuy
nhiên, đến thời vua Minh Mạng, công việc này càng được chú trọng. Việc ban th ưởng và giáng tội
đã được thực hiện một cách nghiêm túc. Bên cạnh đó, l ực l ượng thủy quân – một l ực l ượng đặc
nhiệm nhận sự chỉ đạo trực tiếp t ừ vua Minh Mạng (sau này có vua Thiệu Trị cũng nh ư vậy) hằng
năm theo định kỳ đều đặn ra Hoàng Sa, Trường Sa để “… đi vãng thám, đo đạc thủy trình, cắm cột
mốc, dựng bia chủ quyền, và các hoạt động khác trên quần đảo Hoàng Sa và Tr ường Sa…” [8:
Tiêu biểu cho những thành tựu nghệ thuật độc đáo, nh ững kiệt tác do bàn tay con ng ười lao động.
Có giá trị to l ớn về mặt kỹ thuật xây d ựng, nghệ thuật kiến trúc trong một kế hoạch phát triển đô thị
hay một chươ ng trình làm đẹp cảnh quan tại một khu v ực văn hóa của thế gi ới.
Quần
thể
kiến
trúc
tiêu
biểu
cho
một
th ời
kỳ lịch
sử
quan
trọng.
Kết hợp chặt chẽ v ới các sự kiện trọng đại, nh ững t ư t ưởng hay tín ng ưỡng có ảnh h ưởng l ớn, hay
v ới
các
danh
nhân
lịch
sử.
Như vậy, rõ ràng là trong xu thế phát triển du lịch trên quy mô toàn cầu nh ư hiện nay, nh ững giá trị
văn hóa (trong đó bao gồm giá trị về mặt kiến trúc, điêu khắc, mỹ thuật, phong thủy, …) tại đây th ực
sự là một kho tàng văn hóa nghiên c ứu đa dạng và đầy thú vị. Đất n ước ta đã thống nhất, hòa bình
đã 40 năm; những giá trị văn hóa vật thể mà V ương triều Nguyễn để lại còn rất nhiều, nh ưng cá
nhân tôi chỉ nêu ra công trình Quần thể Di tích Cố đô Huế để minh ch ứng cho s ự thịnh v ượng một
thời của Vươ ng triều này. Đóng góp này theo tác giả nghĩ, đây không chỉ là một công trình mang
yếu tố cảm quan, mà ẩn trong đó còn khắc họa đậm nét yếu tố lịch s ử – V ương triều Nguyễn đã
Cùng với quá trình m ở rộng lãnh thổ về ph ương Nam mà tổ tiên đã làm được, đến th ời V ương triều
Nguyễn, các vua Nguyễn đã làm cho ý nghĩa của vùng đất Nam Bộ này càng được thể hiện rõ nét;
vai trò của chúng càng được chú trọng khi mà nh ững cảng thị quan trọng đã dần được hình thành
và phát huy vai trò của chúng. Nh ững tác phẩm nh ư “Gia Định Thành Thông Chí”, “Đại Nam th ực
lục”, “Đại Nam nhất thống chí” đã có nh ững ghi chép về diện mạo của các cảng thị Cù Lao Phố, Mỹ
Tho Đại phố, Hà Tiên và Sài Gòn; bên cạnh đó còn có nh ững ghi chép về các đô thị th ương c ảng
của những ngườ i nướ c ngoài trong giai đoạn này. Trong số nh ững cảng thị l ớn ấy, cho đến ngày
nay chỉ còn duy nhất Sài Gòn còn gi ữ được vai trò của nó, các cảng thị khác chỉ còn trong quá kh ứ,
sự biến mất ấy chủ yếu là do nguyên nhân chiến tranh. Tuy đã lụi tàn, thế nh ưng chính chúng đã
từng tạo nên một diện mạo sống động trong đời sống của cư dân tại vùng đất m ới này mà trong đó,
dấu ấn của các Chúa Nguyễn và Vươ ng triều Nguyễn là rất đậm nét.
Với cảng thị Bến Nghé – Sài Gòn, kh ởi điểm vốn là n ơi quần c ư của cộng đồng ng ười Việt. S ự phát
triển của n ơi đây được đánh dấu v ới sự kiện năm 1698, Chúa Nguyễn Phúc Chu đã cho Nguyễn
Hữu Cảnh vào kinh lý vùng đất ở ph ương Nam; vùng đất này đã tr ở thành một đơn vị hành chính
của chính quyền Đàng Trong và nhanh chóng tr ở thành một trung tâm buôn bán, quần tụ trên sông
Bến Nghé. “Từ một điểm tụ cư, trạm thu thuế, tr ở thành trung tâm hành chính – quân s ự, trung tâm
kinh tế – văn hóa, vùng Bến Nghé – Sài Gòn – Ch ợ L ớn phát triển h ơn cả, dần dần tr ở thành một đô
thị tiêu biểu của Nam Bộ. Thành lũy,đường sá phục vụ yêu cầu hành chính, quân s ự, góp phần tạo
điều kiện cho hoạt động thương mại…” [11: 702].
Đánh giá về sự hình thành phát triển cũng nh ư vai trò của các cảng thị Nam Bộ, Trần Thị Thanh
Thanh trong tham luận “Góp thêm ý kiến về vai trò của các Chúa Nguyễn và V ương triều Nguyễn
trong lịch sử Việt Nam” đã nhận xét: “Nh ư vậy, có thể nhận xét rằng trong các thế kỷ XVII – XVIII,
các chúa Nguyễn đã để lại những dấu ấn quan trọng cho quá trình đô thị hóa ở Nam Bộ. Các chúa
Nguyễn đã tạo điều kiện cho việc quần c ư tụ dân, phát triển kinh tế, m ở mang hệ thống giao thông,
giao thươ ng, chọn đặt và tổ chức xây dựng lập trấn, làm nên các trung tâm hành chính – quân s ự,
kinh tế – văn hóa, hình thành nên các cảng thị, nền móng và diện mạo ban đầu cho các đô thị này”
[11: 702].
Nhà thơ Nguyễn Duy từng nói: “Lịch s ử có cách đi của nó. Cho đến bây gi ờ, nhiều ng ười biết rằng
nhà Nguyễn có công lớn đối v ới nướ c nhà, nh ưng không hiểu tại sao và t ừ lúc nào, lại bị biến dạng,
bị hạ thấp một cách oan sai về thang bậc giá trị lịch s ử và văn hóa. Cho đến nay, [tháng 7 năm 2008