Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao kỹ thuật canh tác nương rẫy gắn với bảo vệ môi trường cho cộng đồng người thái tại xã chiềng bằng quỳnh nhai sơn la - Pdf 34

LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành chƣơng trình đào tạo và kết thúc sau 3 năm học tập và rèn
luyện tại Trƣờng cao đẳng Sơn La, đƣợc sự đồng ý của nhà trƣờng, Khoa nông
lâm, Bộ môn Lâm Sinh, tôi tiến hành thực hiện chuyên đề tốt nghiệp: "Nghiên
cứu, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao kỹ thuật canh tác nương rẫy gắn
với bảo vệ môi trường cho cộng đồng người Thái xã Chiềng Bằng - Quỳnh
Nhai, Sơn La”.
Trong quá trình thực hiện chuyên đề tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng và nỗ
lực của bản thân, tôi đã nhận đƣợc sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo: Chu Văn
Tiệp và các thầy cô giáo khác trong bộ môn, khoa nông lâm, trƣờng cao đẳng
Sơn La. Cùng sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ, nhân dân xã Chiềng Bằng và
các bạn bè đồng nghiệp.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Chu văn
Tiệp ngƣời đã trực tiếp hƣớng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành chuyên đề này.
Do hạn chế về mặt thời gian và kinh nghiệm cũng nhƣ năng lực của bản
thân, hơn nữa đây là lần đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, nên
chuyên đề không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy tôi kính mong nhận đƣợc sự
góp ý của bạn bè và sự chỉ đạo của các thầy cô giáo để chuyên đề tốt nghiệp tôi
đƣợc hoàn thành hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, ngày 10 tháng 4 năm 2013
Sinh viên

Là Văn Thuận

1


Chƣơng I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất dốc ở nƣớc ta chiếm ¾ diện tích tự nhiên toàn quốc, bao gồm cả ở đất

đầu tƣ về cơ sở hạ tầng chƣa cao nên năng suất còn thấp và ảnh hƣỏng không
nhỏ đến môi trƣờng xung quanh nhƣ ô nhiễm môi trƣờng, nguồn nƣớc, đất bị
xói mòn...
Xã Chiềng Bằng, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La là một trong những xã
chậm phát triển, sản xuất mang tính tự cung, tự cấp. Cộng đồng ngƣời Thái ở
đây thuộc nhóm Thái đen với tập quán canh tác chủ yếu là nƣơng rẫy theo lối
quảng canh. Do địa hình phức tạp núi cao độ dốc lớn, nƣớc sinh hoạt và sản xuất
khó khăn, ruộng nƣớc canh tác ít, chăn nuôi hạn chế nên ngƣời dân đã khai phá,
đốt nƣơng làm rẫy và dẫn đến hiện tƣợng cháy rừng vẫn thƣờng xảy ra. Mặc dù
canh tác nƣơng rẫy là chủ yếu nhƣng chỉ canh tác vào mùa mƣa, mà xung quanh
nƣơng rẫy canh tác lại không hề có vành đai cây xanh nên thƣờng ngày sau khi
thu hoạch đất sẽ bị rửa trôi, xói mòn rất mạnh.
Vì vậy vẫn đề cải tiến kỹ thuật canh tác nƣơng rẫy cho ngƣời dân, xây
dựng luân canh hợp lý để nâng cao hiệu quả canh tác, tăng cƣờng mức thu nhập
cho ngƣời dân và hạn chế đến mức tối thiểu sự thiệt hại về tài nguyên đất do
canh tác của con ngƣời gây ra đang là một vấn đề cần đƣợc quan tâm. Song chƣa
có một đề tài nào nghiên cứu đƣa ra những giải pháp để nâng cao kiến thức canh
tác cho cộng đồng ngƣời Thái ở khu vực này. xuất phát từ thực tế đó mà chúng
tôi tiến hành chọn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm
nâng cao kỹ thuật canh tác nương rẫy gắn với bảo vệ môi trường cho cộng
đồng người Thái xã Chiềng Bằng, huyện Quỳnh Nhai”.

3


Chƣơng II
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Trên thế giới
Canh tác cây thân gỗ cùng với cây công nghiệp trên cùng một diện tích là
một tập quán sản xuất lâu đời của nông dân ở nhiều nơi trên thế giới. Theo king

Từ đầu thập niên 70, chính sách phát triển của Ngân hàng thế giới (WB)
đã bắt đầu chú ý hơn các vùng nông thôn nghèo cùng với sự tham gia của nông
dân vào các chƣơng trình phát triển nông thôn.
Trong chƣơng trình Lâm nghiệp xã hội của WB trong năm 1980 không
chỉ chứa đựng nhiều yếu tố của nông lâm kết hợp mà còn thiết kế trợ giúp nông
dân thông qua sản xuất lƣơng thực, thực phẩm bảo vệ môi trƣờng và phát huy
các lợi ích truyền thống của rừng. Trong thời gian này, bên cạnh phát triển nông
nghiệp, FAO đặc biệt nhấn mạnh vai trò của lâm nghiệp trong phát triển nông
thôn, khuyến cáo các nông dân và nhà nƣớc chú trọng đến lợi ích của rừng và
cây thân gỗ, khuyến cáo các nhà quản lí sử dụng đất kết hợp cả nông nghiệp và
lâm nghiệp vào hệ thống canh tác của họ.
2.2. Ở Việt Nam
Cũng nhƣ nhiều Quốc gia khác trên thế giới, các tập quán canh tác nông
lâm kết hợp đã có ở Việt Nam từ lâu đời. Đây là những xã có thu nhập bình
quân đầu ngƣời lao động từ 150 - 200 USD/năm và là những vùng có nhiều
đồng bào dân tộc thiểu số có đời sống, dân trí chƣa cao và hơn 80% thu nhập
của ngƣời dân phụ thuộc vào đất canh tác nông nghiệp. Hệ thống giao thông
chậm phát triển, có nhiều nơi ô tô chƣa đến đƣợc trụ sở ủy ban nhân dân xã. Tỉ
lệ nhà tranh, tre lên đến 70%. Nhiều nơi nhƣ những vùng cao núi đá tỉnh Cao
Bằng, Sơn La, Điện Biên ngƣời dân còn đói. Phƣơng thức canh tác còn lạc hậu
nên năng suất, Sản lƣợng đạt đƣợc trên một số đơn vị diện tích thấp, dẫn đến
tình trạng mặc dù diện tích canh tác nƣơng rẫy lớn những vẫn không đủ ăn. Khả
năng tiếp cận thông tin khoa học công nghệ còn thiếu thốn, thiếu vốn đầu tƣ cho
canh tác, thiếu hiểu biết về môi trƣờng và pháp luật, do sự phân hóa của các
vùng miền ngày càng lớn. Hình thức canh tác chủ yếu là trồng cây lƣơng thực
nhƣ lúa, ngô, khoai , sắn. Các hình thức làm nƣơng rẫy gồm:
- Nƣơng rẫy cố định ( Chiếm 65 - 70% )
+ Nƣơng rẫy làm một vụ ( Chiếm khoảng 55 - 60 % )
5


6


đất lâm nghiệp, nằm trên những diện tích có độ dốc tƣơng đối lớn (trên 160 ).
Nên việc canh tác của ngƣời dân trở nên rất khó khăn mặt khác do trình độ dân
trí của đồng bào vùng cao việc tiếp cận với khoa học kỹ thuật tiên tiến còn hạn
chế. Hầu hết họ canh tác theo lối quảng canh và không chú ý đến hiệu quả sử
dụng đất nên làm nƣơng rẫy thƣờng bị xói mòn mạnh, sức sản xuất của đất giảm
làm cho diện tích đất trống đồi núi trọc tăng lên. Từ đó ảnh hƣởng nghiêm trọng
đến môi trƣờng xung quanh đặc biệt là môi trƣờng đất và nƣớc.
Kiến thức bản địa cổ truyền là nguồn tài nguyên quan trọng của các Quốc
gia. Nó giúp cho con ngƣời tìm ra những giải pháp bảo vệ môi trƣờng và duy trì
các hệ sinh thái bên vững.
Kiến thức bản địa đƣợc lƣu truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác. Ở nhiều
cộng đồng kiến thức bản địa chỉ truyền khẩu nhƣng đã đƣợc tôn trọng đặc biệt.
Theo Ngô Đức Thịnh (1996) mọi sự phát triển đều phải đảm bảo tính kế thừa và
liên tục, mọi cộng đồng đều phải đi lên từ truyền thống vốn có của bản thân
mình.
Theo Hoàng Bính và Hoàng Xuân Tý (1998) thì ngƣời Thái Sơn La phân
loại đất canh tác theo mục đích sử dụng và hệ thống phân loại đất canh tác theo
địa chung, bằng cây chỉ thị nhằm xác định cơ cấu cây trồng thích hợp cho từng
loại đất đai.
Theo Lê Trọng Cúc (1998), các kỹ thuật truyền thống có khả năng thích
ứng cao với điều kiện môi trƣờng tự nhiên, cũng nhƣ tập quán xã hội nơi sản
sinh ra chúng. Việc gắn kết kỹ thuật địa phƣơng với kỹ thuật hiện đại là phƣơng
pháp tốt nhất để ứng dụng khoa học kỹ thuật mới vào nông thôn miền núi.
Trong nhƣng năm gần đây Đảng và Chính phủ đã có những hỗ trợ ngƣời
dân vùng cao canh tác nông lâm nghiệp thay thế canh tác nƣơng rẫy truyền
thống cũ lạc hậu. Tuy nhiên tình trạng phát, đốt nƣơng làm rẫy vẫn thƣờng
xuyên xảy ra làm cho đất trở nên nghèo kiệt và làm một diện tích khá lớn rừng

thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam giới mặc kiểu chân què có cạp để thắt lƣng; áo
cánh xẻ ngực có ở hai bên gấu vạt. Màu quần áo chủ yếu là màu đen, có thể màu
gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có
một lần áo trắng, tƣơng tự để mặc lót. Bình thƣờng cuốn khăn đen theo kiểu mỏ
rìu. Khi vào lễ cuốn khăn dài một sải tay.

8


* Ở: Nhà sàn, bốn mái mặt hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà
sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp long.
* Phƣơng tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra là gùi chằng dây
đeo vắt qua trán, dùng, ngựa cƣỡi, thồ.
* Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền gọi là bản. Tông tộc Thái gọi là
Đẳm. Mỗi ngƣời có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải noọng (Tất cả thành viên
sinh nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời); Lung Ta (Tất cả các thành viên nam
thuộc họ ngƣời đến làm rể).
* Cƣới xin: Trƣớc kia ngƣời Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể,
nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bƣớc, trong đó hai bƣớc cơ bản:
- Cƣới lên (Đong khửu): Đƣa rể lên cƣ trú nhà vợ, là bƣớc thử thách phẩm
giá, lao động của chàng rể. Ngƣời Thái đen có búi tóc ngƣợc lên đỉnh đầu cho
ngƣời vợ ngay sau lễ cƣới này.
- Cƣới xuống (Đong long ): Đƣa gia đình chở về với họ cha.
* Ma chay: Lễ tang có hai bƣớc cơ bản.
- Pông: Phúng viếng đƣa tiễn hồn ngƣời chết lên cõi hƣ vô, sau đó thiêu.
- Xống : Đƣa đồ tang lễ ra bãi tha ma và kết thúc bằng lễ gọi ma trở về
ngụ tại gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.
* Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm củi đốt lửa ở bếp
mới. Ngƣời ta thực hiện nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác, thu điều
lanh, cúng tổ tiên, vui chơi.

- Các loại hình sử dụng đất.
- Công tác quản lý nƣơng rẫy.
3.3.3. Đánh giá hiệu qủa của hệ thống cây trồng đến đời sống và môi
trường xung quanh.
10


3.3.3.1. Đánh giá những thuận lợi, khó khăn và tiềm năng của khu vực.
3.3.3.2. Đánh giá hiệu quả của loại hình sử dụng đất.
3.3.3.3. Đánh giá và lựa chọn cây trồng.
- Cây lâm nghiệp
- Cây ăn quả.
- Cây màu.
- Cây lúa.
- Cây công nghiệp dài ngày.
3.3.3.4. Đề xuất các giải pháp để nâng cao kiến thức canh tác nương rẫy
gắn với bảo vệ môi trường sinh thái bền vững cho cộng đồng người Thái xã
Chiềng Bằng.
3.4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài chúng tôi sử dụng một số phƣơng pháp sau:
- Phƣơng pháp thu thập thông tin.
- Phƣơng pháp ghi chép.
- Phƣơng pháp PRA, RRA.
- Phƣơng pháp khảo sát.
- Phƣơng pháp phân tích tổng hợp.
- Phƣơng pháp chuyên gia.
3.4.1. Điều tra ngoại nghiệp
- Điều tra về phong tục, tập quán
- Điều tra về thu nhập kinh tế hộ gia đình.
- Mô hình canh tác nƣơng rẫy, sử dụng lâm sản, quản lí và bảo vệ rừng.

Quan sát các loại hình canh tác chủ yếu, các loại cây trồng, quan sát xem
ngƣời dân làm gì và làm nhƣ thế nào?
+ Chọn bản điểm điều tra: Tiến hành chọn 6 bản có cộng đồng ngƣời Thái
sinh sống để điều tra phỏng vấn. Gồm có: Bản Bó Ban, Bản Huổi Quổy, Bản
Huổi Púa, Bản Co Trặm, Bản Co Hả, Bản Bung.
+ Chọn các cá nhân phỏng vấn: Thƣờng cán bộ nông – lâm nghiệp, cán bộ
địa phƣơng…
Bước 3: Khảo sát trên diện rộng.
Xây dựng các bản câu hỏi để phỏng vấn hộ gia đình.

12


Công việc khảo sát đƣợc tiến hành tại các buổi trao đổi với cán bộ địa
phƣơng, tại các hộ gia đình, trên đồng ruộng, trên nƣơng…
Thời gian phải thuận lợi cho ngƣời dân nhƣ vào buổi trƣa.
Để phỏng vấn có hiệu quả cần đƣa ra những câu hỏi dễ hiểu để đạt đƣợc
sự giải thích và quan điểm của từng cá nhân, ghi chép cẩn thận vào mẫu biểu,
kiểm lại tính thực tiễn của thông tin thông qua quan sát trực tiếp.
Bước 4: Phân loại hệ thống cây trồng canh tác.
Bằng phƣơng pháp lập bảng cho điểm với kết quả đánh giá tiêu chí cao
nhất là 10 điểm, thấp nhất là 0 điểm. Phƣơng pháp cho điểm là một biểu mà
hàng trên là tên các loại cây trồng chủ yếu ở địa phƣơng, cột bên trái là ghi các
tiêu chí đánh giá cây trồng và mô hình canh tác, các ô, các hàng còn lại để ghi
kết quả đánh giá. Hàng cuối cùng để ghi tổng số điểm.
Bước 5: Phân tích lịch mùa vụ.
Nhằm cung cấp khá chi tiết thông tin về các yếu tố trong thôn bản nhƣ
lịch gieo trồng các loại cây chính, các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp, lịch
sử dụng lao động, lịch chăm sóc…
3.4.2. Công tác nội nghiệp

nam của huyện Quỳnh Nhai, cách thị xã Sơn La 60km, cách huyện Quỳnh Nhai
1km. Có vị trí địa lí cụ thể sau:
- Phía bắc giáp xã Chiềng ơn, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La.
- Phía đông giáp xã Mƣờng Sại, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La.
- Phía tây giáp Mƣờng Giàng, huyện Quỳnh Nhai và xã Phổng Lái huyện
Thuận Châu, tỉnh Sơn La.
- Phía nam giáp xã Chiềng Khoang, huyện Quỳnh Nhai, Sơn La.
Xã Chiềng Bằng đƣợc chia thành 25 bản, dân số toàn xã có 1.293 hộ, với
6.369 nhân khẩu. Toàn xã có 3 dân tộc anh em cùng sinh sống chủ yếu là dân
tộc Thái chiếm 90% là dân sở tại còn lại là dân tộc Kinh chiếm 3% và Kháng
chiếm 7% là dân nhập cƣ.
4.1.2. Diện tích tự nhiên
Tổng diện tích tự nhiên xã Chiềng Bằng là: 4078,1 ha.
4.1.3. Địa chất
Địa chất chủ yếu gồm 2 loại:
- Nhóm đá Macma axit gồm có: Granit, Liparit.
- Nhóm đá axit và đá biến chất: Phiến sét, phiến thạch biến chất và Sparit.
4.1.4. Đất đai
- Đất đai đƣợc hình thành chủ yếu trên đất Feralit phát triển trên đá sa
thạch và phiến thạch sét.
4.1.5. Khí hậu
Xã Chiềng Bằng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ
rệt trong năm.

15


- Mùa khô từ tháng 10 năm trƣớc đến tháng 3 năm sau, cuối tháng 12 năm
trƣớc đến tháng 3 năm sau thƣờng xen kẽ gió tây nam khô nóng và thƣờng xuất
hiện sƣơng muối.

- Tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp chiếm 10% diện tích toàn xã.
4.2.2. Tập quán canh tác, sinh họat văn hóa, phong tục địa phương
* Tập quán canh tác:
- Canh tác nƣơng rẫy là chính, với phƣơng thức quảng canh, chƣa thâm
canh, ít sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu để nâng cao năng suất cây trồng, kỹ
thuật chọc lỗ bỏ hạt, cuốc hố bỏ hạt để phát triển tự nhiên dựa vào độ phì có sẵn
của đất, không làm chủ mùa vụ cây trồng, sản xuất bấp bênh, thiếu ổn định,
chƣa áp dụng khoa học tiên tiến. Tự túc, tự cấp trong sản xuất. sản xuất vẫn du
canh, chƣa thâm canh nƣơng rẫy, đây là nguyên nhân chính đƣa tới tình trạng

16


xâm phạm vào rừng nhƣ: Khai thác gỗ, củi, măng, sẵn bắn thú rừng, động vật
đem bán.
- Ngƣời dân khai thác tài nguyên sẵn có từ rừng, việc chăn nuôi phát triển
theo tự nhiên.
* Sinh hoạt văn hóa, phong tục địa phương:
- Trong xã tỉ lệ ngƣời Thái cao nhất, ít nhất là dân tộc Kinh. Ngƣời Thái ở
nhà sàn kiên cố, nhà bố trí ngăn nắp gọn gàng. Ngƣời kháng cũng ở nhà sàn
nhƣng cấu trúc đơn giản hơn. Ngƣời kinh chủ yếu là dân nhập cƣ từ dƣới xuôi
lên làm ăn sống ở nhà đất, mái thấp thể hiện cuộc sống không ổn định lâu dài.
- Sinh hoạt văn hóa: Mỗi dân tộc đều có bản sắc riêng.
4.2.3. Tình hình kinh tế địa phương
* Các hoạt động kinh tế:
- Kinh tế chậm phát triển, mang tính tự cung, tự cấp, canh tác lạc hậu
(quảng canh), canh tác lúa nƣớc, nƣơng rẫy.
- Chăn nuôi gia súc, gia cầm ở qui mô gia đình.
- Trồng cây công nghiệp, kinh tế đồi rừng hạn chế.
* Thu nhập, đời sống:

- Diện tích đất rừng đặc dụng là: 766,24ha.
- Diện tích thuộc khu phục hồi sinh thái là: 2153,32ha
4.3.1. Thảm thực vật rừng
- Kiểu thảm thực vật rừng kín thƣờng xanh Á nhiệt đới núi thấp
- Kiểu thảm thực vật rừng kín thƣờng xanh Á nhiệt đới núi thấp hỗn giao
cây lá rộng và cây lá kim: Thông nàng, kim giao, Sến, Sối đá, Re, họ đậu, Mộc
lan...
- Kiểu thảm thực vật rừng thứ sinh nhân tác kín thƣờng xanh Á nhiệt đới
núi thấp sau tác động của con ngƣời.
- Kiểu rừng kín thƣờng xanh ẩm nhiệt đới núi thấp: Họ Dẻ, Thầu dầu,
Long não, Trám...
- Tầng ƣu thế sinh thái: Họ côm, Hai mảnh vỏ, Ngái, Chẻo, Trâm ...
- Kiểu phụ nhân tác rừng kín thƣờng xanh ẩm nhiệt đới núi thấp.
- Kiểu phụ nhân tác rừng kín thƣờng xanh mƣa ẩm nhiệt đới phục hồi sau
nƣơng rẫy.
- Kiểu thảm thực vật: Tre, Giang, Nứa xen cây gỗ.
18


- Trảng cỏ cây bụi gỗ thứ sinh phân tán.
4.3.2. Hệ thực vật rừng
Có 5 ngành thực vật, với 156 họ, 424 chi và 639 loài.
4.3.3. Hệ động vật rừng
- Lớp thú có: 21 loài.
- Lớp chim có: 22 loài.
- Lớp bò sát có: 10 loài.
Lớp ếch nhái có: 1 loài.
Theo nghị định 48/2002/NĐ - CP của Chính phủ có 46 loài đặc hữu quý
hiếm chiếm 18,25%.



20


Qua điều tra cho thấy: Tháng 2 bắt đầu cuốc đất, tháng 4 (bắt đầu mùa
mƣa) thì chọc lỗ tra hạt và đến tháng 8 - 9 thu hoạch. Trong thời gian chăm sóc
làm cỏ 3 lần.
Ở những chỗ địa hình bằng phẳng thì họ dùng cuốc hoặc cày ải làm tơi
đất trƣớc khi trồng và ở khu vực này họ thƣờng trồng lúa nƣớc, nƣớc đƣợc lấy
từ các khe suối về qua các máng bằng tre và sử dụng kỹ thuật làm ruộng bậc
thang. Trồng lúa nƣớc một năm có hai vụ, vụ chiêm xuân thƣờng hết ngày 10/3
là trồng xong, đến cuối tháng 7 thì thu hoạch sau đó chuyển sang cấy lúa mùa.
Ngoài ra đất để trồng các cây lƣơng thực ngắn ngày trên nƣơng thì vào
cuối tháng 2 đầu tháng 3 cũng cuốc ải đất, dụng cụ chủ yếu là cuốc. Thƣờng ngô
và sắn cuối tháng tƣ phải trồng xong, đầu tháng 5 là rẫy cỏ, và chỉ trồng
1vụ/năm đến tháng 8 - 9 thu hoạch.
5.1.1.2. Kỹ thuật bảo quản hạt giống
Sau khi thu hoạch chọn lấy hạt tốt nhất treo lên gác bếp, vụ sau đem
trồng. Để bảo quản giống lúa tốt họ thƣờng chọn hạt chắc (sàng, sẩy kĩ), phơi
khô và đóng bao kín đến trƣớc khi cấy thì cho lên gác bếp 3 - 4 ngày. Cây sắn
thƣờng họ để cây sống ở trên nƣơng, khi trồng thì chặt khúc. Với cách làm nhƣ
vậy ngƣời thái gữi đƣợc nhiều giống tốt và duy trì cây trồng qua nhiều năm. Tuy
nhiên có một số ngƣời chỉ gữi hạt trong nilon, không bảo quản tốt nên dễ bị
hỏng.
5.1.1.3. Nguồn giống
Giống lúa bao gồm có giống lúa địa phƣơng (nếp bong, tam chiêm..),
thƣờng năng suất thấp, chủ yếu là sử dụng lúa lai`Trung Quốc 82, 83, lúa 63,
nếp 87 thƣờng cho năng suất cao, trung bình là 180kg thóc/ngƣời/năm. Ngô tẻ
thì mua giống có sẵn thƣờng là giống Ngô lai 10 Đan phƣợng - Hà Tây giá thành
hợp lí và cho năng suất cao, sau đó là Ngô lai 10 Chiềng Sung - Sơn La, còn

có chính sách giao đất, giao rừng cho từng hộ gia đình.
Qua điều tra và phỏng vấn một số hộ gia đình về mức độ hiểu biết trƣờng
cho thấy với kỹ thuật canh tác lạc hậu (quảng canh), đang ngày càng làm cho đất
bị suy thoái và xói mòn. Họ cũng đã nhận thấy đất ngày càng xấu đi, năng suất
cây trồng giảm và họ đã khắc phục bằng cách bỏ hoang khu đất đó từ 2 - 3 năm
mới quay lại làm. Kiểu bỏ hoang này cho thấy một phần có thể cải tạo đƣợc đất

22


vì trong thời gian 2 - 3 năm không có sự tác động cơ giới vào đất nhƣng lại xảy
ra tình trạng ngƣời dân thiếu đất canh tác và thu nhập hàng năm giảm.
Nhìn chung kỹ thuật bảo vệ đất chƣa nhiều song cũng đã tiếp cận nhiều
kiến thức bản địa nhập cƣ nhƣ làm ruộng bậc thang, biết tận dụng nguồn phân
chuồng bón cho cây cải tạo đất, cũng đã áp dụng một số mô hình nông lâm kết
hợp.
Ngoài ra trong quá trình làm rẫy, ngƣời Thái chia diện tích nƣơng rẫy làm
nhiều ô nhằm tạo độ bằng tƣơng đối để dễ canh tác và ngăn giữa các ô là tạo bờ
bằng cỏ, cây bụi ô hoặc thân cây hoa màu khi thu hoạch (thân cây sắn). Với cách
làm này đã hạn chế đƣợc dòng chảy bề mặt, tăng lƣợng nƣớc thấm và hạn chế
xói mòn đất.
5.1.3. Các hệ canh tác tại khu vực nghiên cứu
Hệ canh tác là một thuật ngữ đƣợc dùng trong nghiên cứu về quá trình
canh tác. Nó đƣợc hiểu là một hệ thống mà trong đó con ngƣời tiến hành một
phƣơng thức nhất định tạo nên những đặc điểm riêng biệt. Khi mô tả hệ canh tác
ngƣời ta phải kể đến điều kiện lập địa, địa hình, thổ nhƣỡng, cơ cấu cây trồng,
kỹ thuật canh tác...
Qua qúa trình khảo sát điều tra tại khu vực có thể sơ đồ hóa hệ thống canh
tác xã Chiềng Bằng nhƣ sau:
Các hệ canh tác


ruộng

rừng trồng

nghiệp
cây lƣơng
thực

23


Tại khu vực xã thì hệ thống canh tác nƣơng rẫy là chủ yếu, cơ cấu cây
trồng là lúa, ngô, sắn và một số hoa màu khác. Trong đó kinh tế hộ gia đình
chƣa phát triển, sản xuất tự cung, tự cấp, nguồn giống tự túc tùy theo ý thích của
từng hộ gia đình. Hầu nhƣ chế độ canh tác phụ thuộc vào tự nhiên, đất tốt, khí
hậu, thời tiết thuận lợi thì cho năng suất cao, chỉ có một số hộ gia đình kinh tế
khá mới đầu tƣ về vốn.
Nhìn chung sản xuất nông lâm kết hợp chƣa thật sự chú ý ở vùng đất dốc.
Tuy có nhận đƣợc một số mô hình trình diễn nông lâm kết hợp của một số
chƣơng trình đầu tƣ cùng với sự hƣớng dẫn của cán bộ khuyến nông - khuyến
lâm nhƣng do lâu thu đƣợc kết quả, không đáp ứng đƣợc nhu cầu trƣớc mắt về
kinh tế cho ngƣời dân nên ít đƣợc ngƣời dân chấp nhận.
Qua điều tra cho thấy: Khu vực sƣờn và đỉnh đồi: chủ yếu là trồng sắn vì
họ cho biết giá thành sắn rẻ, ít tốn công chăm sóc và hầu nhƣ không bón phân,
năng suất thu đƣợc chủ yếu dựa vào điều kiện thời tiết.
Ngoài ra còn quan sát thấy mô hình trồng cây lƣơng thực ngắn ngày nhƣ
cây ngô, đậu... ở dƣới tán cây cao su.
Chủ yếu là hệ thống vƣờn tạp trong đó trồng cây ăn quả nhƣ: mơ, mận,
nhãn, xoài, vải thiều ... và một số cây lâm nghiệp nhƣ Trám, lát hoa ... nhƣng

Cơ cấu diện tích một số loại hình sử dụng đất tại xã Chiềng Bằng thông
qua bảng biểu sau:
Tình hình sử dụng đất ở xã Chiềng Bằng - Quỳnh Nhai - Sơn La
STT

1

Loại hình sử dụng đất
Tổng diện tích tự nhiên

4078,1

Diện tích có đất rừng

3281,56

Diện tích phân khu đất quy hoạch phòng hộ

1128,24

Diện tích phân khu phục hồi sinh thái

2153,32

Diện tích đất kinh tế
2

Diện tích (ha)

890


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status