Đồ án tốt nghiệp
GVHD: Th.S Vũ Hải Yến
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
- Môi trường đang trở thành vấn đề chung của nhân loại, được cả thế giới
quan tâm. Việt Nam cũng là nước có môi trường đang bị hủy hoại nghiêm trọng do
các hoạt động của con người như phá rừng, khai thác tài nguyên thiên nhiên vô tội
vạ…. gây nguy cơ mất cân bằng sinh thái, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống
cũng như sự phát triển của đất nước. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến
hậu quả trên là do nhận thức và thái độ của con người về môi trường còn nhiều hạn
chế. Từ đó yêu cầu đặt ra là phải làm thế nào để nâng cao hiệu quả giáo dục môi
trường, truyền thông môi trường.
- Tại TP.Hồ Chí Minh trong những năm gần đây, nền kinh tế đã đạt được
những thành tựu đáng kể nhưng môi trường thì bị ô nhiễm nghiêm trọng bởi nhiều
nguyên nhân. Bên cạnh đó, ý thức hiểu và bảo vệ môi trường của người dân nói
chung, học sinh – sinh viên nói riêng còn nhiều sự hạn chế, nhất là bộ phận học
sinh, sinh viên đang ở trong quá trình hình thành nhân cách, dễ tiếp thu….là đối
tượng quan trọng trong việc góp phần xây dựng, bảo vệ môi trường một cách hiểu
quả nhất.
- Hiện nay chương trình giáo dục môi trường đã được đưa vào giảng dạy ở
các cấp tiểu học, trung học và đại học. Nhưng giải pháp chỉ là giảng dạy lý thuyết
và chưa được hiệu quả trong việc nâng cao nhận thức cũng như ý thực tự giác bảo
vệ môi trường.
- Với đối tượng là sinh viên- tầng lớp tri thức trẻ của đất nước, ngoài việc
được trang bị kiến thức chuyên môn, xã hội thì việc nhận thức được vấn đề môi
trường là một vấn đề thiết yếu nhưng không phải chỉ là hiểu mà sinh viên cần phải
đưa những hiểu biết về môi trường của mình thành những thói quen ý thức bảo vệ
SVTH: Khưu Đức Phượng 1
Đồ án tốt nghiệp
GVHD: Th.S Vũ Hải Yến
môi trường. Và từ đó tuyên truyền rộng rãi đến tất cả mọi người, để nhiệm vụ bảo
là sinh viên trường ĐH KTCN TPHCM để có thể đánh giá hiệu quả công tác truyền
thông môi trường.
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Thống kê số liệu sau khi khảo sát để
có thể đánh giá hiệu quả công tác truyền thông môi trường có hiệu quả hay không?
4. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
Để đạt được mục tiêu đã đề ra, nội dung cần nghiên cứu bao gồm:
- Nghiên cứu hiện trạng giáo dục môi trường tại Việt Nam và nhất là công
tác truyền thông môi trường tại các trường Đại học trên địa bàn TPHCM.
- Khảo sát công tác truyền thông môi trường tại trường ĐH Kỹ thuật Công
nghệ TPHCM qua các hoạt động truyền thông môi trường, phiếu khảo sát…
- Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả truyền thông, nâng cao ý thức
bảo vệ môi trường cho sinh viên…
5. Ý NGHĨA KHOA HỌC- THỰC TIỄN
5.1 Ý nghĩa khoa học
SVTH: Khưu Đức Phượng 3
Đồ án tốt nghiệp
GVHD: Th.S Vũ Hải Yến
- Là cơ sở dữ liệu đầy đủ về hoạt động truyền thông môi trường tại trường
ĐH KTCN TPHCM trong 12 năm vừa qua.
- Cung cấp thông tin giúp các nhà quản lý hoạch định các chiến lược về
truyền thông tại trường ĐH KTCN TPHCM.
- Cung cấp các giải pháp để có thể nâng cao hiệu quả truyền thông tại trường
ĐH KTCN TPHCM.
5.2 Ý nghĩa thực tiễn:
- Đề tài có thể xem như là sự kế thừa của các ý tưởng về GDMT trong học
đường vốn đã có từ rất lâu. Đó là những ý tưởng về xây dựng các trình hoạt động
câu lạc bộ, đội nhóm nhằm cung cấp thêm nhiều thông tin về môi trường cũng như
ý thức bảo vệ môi trường của học sinh, sinh viên – những thế hệ trẻ của đất nước.
- Đề tài đánh giá đầy đủ nhất về công tác truyền thông tại trường, đưa ra
những ưu điểm, nhược điểm trong công tác truyền thông tại trường.
giáo dục môi trường có thể tóm tắt trên một số quan điểm sau đây:
- Giáo dục môi trường nhằm hiểu biết mối quan hệ môi trường tự nhiên, môi
trường xã hội và vai trò của con người trong đó.
- Giáo dục môi trường là quá trình học hỏi liên tục phát triển theo kinh
nghiệm của chúng ta trong quá trình trải nghiệm cuộc sống.
- Mục tiêu cuối cùng đạt được qua học hỏi, trải nghiệm là thay đổi hành vi
của nhân loại.
- Nỗ lực giáo dục của chúng ta cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng
cuộc sống bền vững và thân thiện với môi trường.
Con người với các tổ chức khác nhau coi giáo dục môi trường như một
phương tiện để tiến đến sự bền vững hơn, bảo vệ môi trường tốt hơn và thay đổi
hành vi của con người.
Một số định nghĩa về giáo dục môi trường
- Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa thế giới (UNESCO), (Belgrade-
Nam Tư năm 1975): “Mục tiêu của giáo dục môi trường là phát triển một thế giới
SVTH: Khưu Đức Phượng 6
Đồ án tốt nghiệp
GVHD: Th.S Vũ Hải Yến
mà mọi người nhận thức và quan tâm về môi trường cũng như các vấn đề liên quan
và có kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm và cam kết hành động cá nhân hay tập
thể hướng đến các giải pháp cho các vấn đề hiện tại và ngăn chặn các vấn đề mới
phát sinh”
- Báo cáo kết luận hội nghị liên chính phủ về Giáo dục môi trường (Tbilisi,
USSR,1977): “…nhằm tiếp tục làm cho mỗi cá nhân và cả cộng đồng hiểu tính
phức tạp của môi trường tự nhiên và xã hội trong sự tác động lẫn nhau giữa các
phương diện vật lý, sinh học, xã hội, kinh tế và văn hóa; thu được kiến thức, giá trị,
thái độ và các kỹ năng thực hành để tham gia với tinh thần trách nhiệm và hiệu quả,
nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường trong việc quản lý nâng cao chất lượng
môi trường”.
- Hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN-1971): “…quá trình nhận thức giá
học từ trung học trở lên thì nội dung GDMT được gắn hữu cơ vào chương trình
Sinh học và Đòa lí
- Bungari, cấu tạo chương trình khoa học ở cấp 1 và học sinh ở cấp 2và
3 theo tư tưởng chủ đạo “Con người và Môi trường”. Trong chương trình cấp 1
có hẳn một môn riêng biệt là “Kiến thức về môi trường”, cung cấp cho học
sinh nội dung đơn giản nhưng rất cơ bản về môi trường xung quanh như: nhà
trường, làng mạc, thôn xóm, đòa phương, đường xá, giao thông, vườn cây, rừng,
nước, lửa, động vật có ích, có hại. Chương trình học sinh cấp 2 biên soạn theo
quan điểm “Tìm hiểu môi trường từ gần tới xa” như môi trường thôn xóm, môi
trường rừng, các cây nông nghiệp, sinh vật đồng ruộng,…
- Nhật, trọng tâm của GDMT là chống ô nhiễm và bảo vệ sức khỏe, nội
dung này đựơc lồng ghép vào các môn học đặc biệt là môn Sinh học và Đòa lý.
- Indonesia, người ta đã thiết lập các trung tâm nghiên cứu về môi
trường trong các học viện. Các trung tâm này là nơi cung cấp các chuyên gia
SVTH: Khưu Đức Phượng 8
Đồ án tốt nghiệp
GVHD: Th.S Vũ Hải Yến
cho việc nghiên cứu, đào tạo cho các công việc khác có liên quan đến khoa học
môi trường ở các cấp quốc gia và khu vực. Tuy nhiên ở các vùng sâu vùng xa
thì trình độ dân trí về môi trường chưa được cao.
- Malaysia, các trường đại học đã có mối liên kết với các học viện
trong và ngoài nước để đào tạo các chuyên gia về môi trường. Một số trường
đại học đã tổ chức các khóa chính trò, các khóa học ngoại khóa về môi trường
cho hầu hết các sinh viên ở các ngành khác nhau. Trình độ môi trường của
nhân dân Malaysia khá cao.
- Singapore, các chương trình giảng dạy môi trường ở các trường đại
học tổng hợp, đại học bách khoa. Học viện giáo dục được tiến hành tốt nhất.
Việc giáo dục về môi trường được các quy đònh về pháp luật đi kèm. Các
trường đại học thành lập các ủy ban để cố vấn cho chính phủ về mặt môi
trường nhằm đưa ra những chính sách, những chủ trương kòp thời và thích hợp.
xét lại tình hình GDMT và đưa GDMT vào chương trình giáo dục cho tất cả mọi
lớp và ở các cấp học. Đây cũng là một trong những mục tiêu chủ yếu của
chương trình GDMT quốc tế (IEEP) của UNESCO và UNEP. Sau hội nghò này
tất cả các nước xem lại tình hình GDMT ở quốc gia mình và xây dựng những
mô hình giáo dục mới phủ hợp nhằm nâng cao hiệu quả.
1.1.3.2 Một số thành tựu GDMT ở Việt Nam
- nước ta, việc GDMT mới được bắt đầu từ những năm cuối thập niên 70,
còn việc GDMT trong trường phổ thông chỉ mới được thực hiện vào thập niên
80 cùng với kế hoạch cải cách giáo dục. Để thực hiên nhiệm vụ GDMT trong
trường phổ thông, ngay từ thời kỳ đó đã có hai đề tài cấp nhà nước được tiến
hành nghiên cứu về phương thức nội dung GDMT trong nhà trường, trong đó tập
SVTH: Khưu Đức Phượng 10
Đồ án tốt nghiệp
GVHD: Th.S Vũ Hải Yến
trung chủ yếu là môn sinh học và đòa lý. Từ năm 1982 – 1983 khoa học đòa lý
trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã đưa môn bảo vệ tự nhiên, mà nay là GDMT
vào chương trình đào tạo. Đến năm 1985, cuốn “Quán triệt tinh than giáo dục
kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp, dân số và bảo vệ môi trường” của nhà xuất
bản Giáo dục và cuốn “Giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường phổ
thông” của PGS. Nguyễn Dược in vào năm 1986 cho thấy rõ sự nhận thức về
GDMT ở nước ta. Hiện nay, các hoạt động GDMT được tiến hành một cách
mạnh mẽ. Ngoài việc GDMT cho quần chúng nhân dân thông qua phương tiện
truyền thông đại chúng rất đa dạng và phong phú ( chương trình “Dân số và
Môi trương”, “Môi trường và Đời sống”. Các phong trào “Sạch và Xanh” của
các thành phố lớn, các trường đại học đã đóng góp đáng kể vào công tác
GDMT) trong nhiều trường đại học đã có các môn học về môi trường. Từ năm
học 1995 – 1996 trở đi, tất cả trường đại học khoa học tự nhiên (Hà Nội), năm
học 1993 – 1994 khoa “Môi trường học” được thành lập và triển khai đào tạo
các cán bộ về khoa học môi trương. Tp. Hồ Chí Minh, khoa môi trường cũng
được thành lập ở trường Đại học Khoa học Tự nhiên và Đại học Kỹ thuật Công
những nội dung và phương pháp GDMT vào các chương trình đào tạo giáo
viên.
• Xây dựng các hoạt động GDMT cụ thể để thực hiện ở cấp Tiểu học và
Trung học.
- Các mục tiêu trên được thực hiện ở mức chi tiết và cụ thể hơn trong thực
tiễn thông qua dự án VIE 98/018.
- Ngày 17 tháng 10 năm 2001 Thủ tướng Chính Phủ đã có Quyết đònh số
1363/QĐ– TTG về việc phê duyệt đề án “Đưa nội dung BVMT vào hệ thống
giáo dục quốc dân”
SVTH: Khưu Đức Phượng 12
Đồ án tốt nghiệp
GVHD: Th.S Vũ Hải Yến
1.2 TRUYỀN THÔNG MÔI TRƯỜNG
1.2.1 Truyền thông
Khái niệm : Truyền thông là quá trình trong đó người gửi, truyền các thông điệp tới
người nhận hoặc trực tiếp hoặc thông qua các kênh, nhằm mục đích thay đổi nhận
thức, kiến thức, thái độ, kỹ năng thực hành của người nhận thông điệp.
• Truyền thông có thể phổ biến các tri thức, trình bày các giá trị, các chuẩn mực
xã hội. Các tri thức bao gồm kiến thức, nhận thức và ý thức trách nhiệm về bất
cứ hành vi nào vì lợi ích tốt đẹp, vì mục tiêu chính đáng của phát triển bền
vững.
Các yếu tố của hệ thống truyền thông
Với mô hình truyền thông như trên thì một hệ thống truyền thông bao gồm các yếu tố
sau:
• Người gửi
• Thông điệp
• Kênh truyền thông
SVTH: Khưu Đức Phượng 13
NNgười gửi
Cuối cùng, người nhận phải xác nhận là đã được nhận thông điệp, nghĩa là
người đó phải cho người gửi biết là thông điệp đã được thu nhận, tái tạo và đã được
hiểu rồi.
Như mô hình trên, truyền thông có vẻ như là một chu trình đơn giản, dễ dàng.
Trong thực tế, rất hiếm khi diễn ra suôn sẻ như vậy. Việc sử dụng mô hình giản lược
này không phải là cung cấp giải pháp cho quá trình truyền thông mà chính là các
tham số để phân tích các quá trình truyền thông và để xác định ra các khiếm khuyết
nhằm cải thiện chúng một cách có hiệu quả hơn.
Trên thực tế, một người vừa là người gửi, vừa có thể đồng thời là người nhận.
Nội dung thông điệp tác động tới hành vi của chúng ta, và cũng ảnh hưởng tới hình
thức, cường độ và nội dung của quá trình truyền thông. Các yếu tố gây nhiễu có thể
xuất hiện ở bất kỳ bước nào trong quá trình truyền thông và dẫn tới hiểu nhầm hoặc
chẳng hiểu gì.
SVTH: Khưu Đức Phượng 14
Đồ án tốt nghiệp
GVHD: Th.S Vũ Hải Yến
1.2.2 Truyền thông môi trường
Khái niệm: Truyền thông môi trường là một công cụ quan trọng, cơ bản của quản lý
môi trường, nó tác động trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi thái độ, hành vi của con
người trong cộng đồng từ đó thúc đẩy họ tự nguyện tham gia vào các hoạt động bảo
vệ môi trường từ đơn giản nhất đến phức tạp nhất, và không những chỉ tự mình tham
gia mà còn lôi cuốn những người khác cùng tham gia tạo ra các kết quả có tình đại
chúng.
1.2.2.1 Tại sao lại cần truyền thông môi trường
Các dự án/ chương trình môi trường thường đem lại kết quả hạn chế, vì những
sự đổi mới và giải pháp của dự án hay chương trình đưa ra không được những người
có liên quan hiểu rõ và cùng tham gia.
Những người thực hiện các dự án hay chương trình môi trường thường nghĩ
rằng các sự kiện khoa học và sự quan tâm đến môi trường của họ có sức thuyết phục, tuy
Cách thức truyền thông cần phù hợp với đối tượng truyền thông, có nghĩa là
cần phải đơn giản, cụ thể và phù hợp về văn hoá - xã hội.
Truyền thông có định hướng tới các vấn đề cần được giải quyết, hay các nhu
cầu của cộng đồng.
Tính tới chi phí - hiệu quả và có tính sáng tạo bằng cách sử dụng các cơ sở vật
chất, nguồn nhân lực, phương tiện truyền thông sẵn có ở địa phương, hơn là dựa vào
các sản phẩm truyền thông đắt tiền.
Trao quyền cho cộng đồng.
Có sự hợp tác giữa những người có trình độ khác nhau, chức năng khác nhau
(giữa các cấp chính quyền, các tổ chức cộng đồng, khu vực tư nhân, các cơ quan
nghiên cứu…).
Kết hợp các kênh, phương tiện, sản phẩm truyền thông khác nhau.
SVTH: Khưu Đức Phượng 16
Đồ án tốt nghiệp
GVHD: Th.S Vũ Hải Yến
Thử nghiệm trước sản phẩm truyền thông.
Có sự hoà hợp giữa người truyền thông và cộng đồng
Nhấn mạnh vào tính bền vững.
SVTH: Khưu Đức Phượng 17
Đồ án tốt nghiệp
GVHD: Th.S Vũ Hải Yến
CHƯƠNG II
CÁC HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG MÔI TRƯỜNG TẠI
CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH
2.1 CÁC CHỦ TRƯƠNG CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ
NGÀNH GIÁO DỤC ĐÀO TẠO VỀ BVMT - GDMT
2.1.1 Nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ chính trị ngày 15/11/2004 về “BVMT
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
2.1.1.1 Một số nội dung quan trọng của Nghị quyết
- BVMT là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại, là nhân tố đảm
- “Tăng cường công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường” trong đó
chú ý đến việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về BVMT, tăng cường công tác thanh
tra, kiểm tra, giám sát, sớm xây dựng, ban hành quy định giải quyết bồi thường thiệt
hại về môi trường.
- “Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động BVMT” trong đó chú trọng tạo cơ sở
pháp lý và cơ chế, chính sách khuyến khích cá nhân, tổ chức và cộng đồng tham gia
công tác BVMT, xây dựng và thực hiện các quy ước, cam kết về BVMT của cộng
đồng dân cư.
- “Áp dụng các biện pháp kinh tế trong BVMT, tạo sự chuyển biến cơ bản
trong đầu tư BVMT”, ngân sách nhà nước sẽ có mục chi riêng cho sự nghiệp môi
trường và tăng dần mức đầu tư hằng năm để đến năm 2006 đạt ít nhất 1% tổng chi
SVTH: Khưu Đức Phượng 19
Đồ án tốt nghiệp
GVHD: Th.S Vũ Hải Yến
ngân sách nhà nước. Ngoài đầu tư của Nhà nước, sẽ có chính sách khuyến khích các
tổ chức cá nhân trong và ngoài nước đầu tư BVMT.
- “Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, đào tạo nguồn
nhân lực về môi trường, mở rộng hợp tác quốc tế về môi trường”
2.1.2 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 1363/QĐ –TTG ngày
17/10/2001 về việc phê duyệt dự án “Đưa nội dung BVMT vào hệ thống giáo dục
quốc dân”
2.1.2.1 Mục tiêu của dự án
- Giáo dục học sinh, sinh viên các cấp học, bậc học, trình độ đào tạo trong hệ
thống giáo dục quốc dân có hiểu biết về pháp luật và chủ trương chính sách của
Đảng và nhà nước về BVMT, có kiến thức về môi trường để tự giác thực hiện
BVMT.
- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ giảng dạy, giáo viên, cán bộ nghiên cứu khoa
học công nghệ và cán bộ quản lý về BVMT.
2.1.2.2 Các hoạt động thực hiện dự án
Bộ giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan thực
tổ chức hội thảo môi trường và phát triển bền vững…
- Tổ chức phong trào thi đua xây dựng “Giảng đường văn minh- sạch- đẹp”,
“Lớp học kiểu mẫu” tại các trường trên địa bàn TPHCM.
- Hưởng ứng tuần lễ quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường được phát
động vào ngày 5/6 – Ngày Môi trường thế giới hằng năm, các cấp Bộ, Ban ngành,
Đoàn - Hội sinh viên các cấp đã phát động nhiều hoạt động tuyên truyền thu hút
SVTH: Khưu Đức Phượng 21
Đồ án tốt nghiệp
GVHD: Th.S Vũ Hải Yến
đông đảo sinh viên tham gia giao lưu văn hóa mang nội dung tìm hiểu về môi
trường; mít-ting kỷ niệm Ngày Môi trường thế giới; ra quân tổng vệ sinh- Ngày chủ
nhật xanh; đạp xe tuyên truyền bảo vệ môi trường…
- Vào dịp hè hằng năm, Trung ương Hội Sinh viên phát động chiến dịch Mùa
hè Xanh, các cấp bộ Hội phối hợp với Đoàn thanh niên tổ chức các đội sinh viên
tình nguyện về hoạt động tại các vùng sâu xa, khó khăn với nhiều hoạt động phong
phú. Trong đó hoạt động tuyên truyền người dân bảo vệ môi trường thiên nhiên
luôn được đẩy mạnh hoạt động với nhiều chương trình thiết thực như tuyên truyền
người dân ăn chín, uống sôi; sử dụng các công trình vệ sinh đúng cách; chăn nuôi
gia súc gia cầm hợp vệ sinh; phát quang bụi rậm; tư vấn về y tế công đồng; hướng
dẫn người dân cách lọc nước…Các hoạt động tình nguyện của sinh viên đã và đang
có những chuyển biến tích cực, để lại hình ảnh đẹp trong xã hội, góp phần xây dựng
bảo vệ môi trường lành mạnh và phát triển bền vững.
Hình 2.1 Sinh viên Hutech tham gia ngày chủ nhật xanh- làm sạch đẹp mỹ quan TPHCM.
- Xây dựng công tác giáo dục môi trường không chỉ tác động đến cuộc sống
trước mắt của thế hệ hôm nay mà còn tác động lâu dài cho thế hệ mai sau. Vì vậy,
SVTH: Khưu Đức Phượng 22
Đồ án tốt nghiệp
GVHD: Th.S Vũ Hải Yến
làm tốt công tác giáo dục bảo vệ - truyền thông môi trường sẽ tạo nên những lớp
người thấm nhuần ý thức bảo vệ môi trường, phát triển bền vững.
- Là 1 tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận. C&E hoạt động nhằm thúc đẩy
sự tham gia cũng như tăng cường năng lực cho các tổ chức/nhóm cộng đồng để giải
quyết tốt hơn các vấn đề môi trường liên quan đến cuộc sống của chính họ và cộng
đồng, góp phần phát triển xã hội dân sự và phát triển bền vững môi trường ở Việt
Nam.
- Trung tâm được hình thành trên nền tảng kế thừa nhân sự và kinh nghiệm
của Quỹ Môi trường Sida (SEF). Sáng lập viên Trung tâm là các thành viên Nhóm
Cố vấn của Quỹ SEF là những người đã và đang hoạt động thực tiễn liên quan đến
môi trường và phát triển bền vững. Quỹ SEF do Đại sứ quán Thuỵ Điển tại Hà nội
thành lập nhằm khuyến khích và hỗ trợ các sáng kiến của cộng đồng trong bảo vệ
môi trường và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên. Với 12 năm hoạt
động (1997-2008) Quỹ SEF đã hỗ trợ 300 dự án nhỏ trong cả nước, tăng cường
năng lực cho các tổ chức cộng đồng, nâng cao nhận thức môi trường cho công
chúng và thúc đẩy mạng lưới xã hội dân sự về bảo vệ môi trường và quản lý tài
nguyên thiên nhiên.
2.2.3.2 Trung tâm phát triển nông thôn bền vững (SRD)
SVTH: Khưu Đức Phượng 24
Đồ án tốt nghiệp
GVHD: Th.S Vũ Hải Yến
- Trung tâm Phát triển Nông thôn Bền vững (SRD) là một tổ chức phi chính
phủ phi lợi nhuận của Việt Nam. SRD cam kết làm việc với các cộng đồng chịu
thiệt thòi ở miền núi, hỗ trợ họ cải thiện chất lượng cuộc sống và nâng cao khả năng
quản lý và sử dụng các nguồn lực một cách bền vững
- SRD là một phần của tổ chức CIDSE Việt Nam cũ – ‘Coopération
Internationale pour le Développement et la Solidarité’ (Tổ chức Hợp tác Quốc tế về
Phát triển và Đoàn kết). CIDSE Việt Nam là một tổ chức phi chính phủ quốc tế
triển khai nhiều dự án phát triển trên toàn quốc từ những năm 1978 đến cuối năm
2005. Với sự hình thành của SRD, CIDSE đã hiện thực hóa được mục tiêu cuối
cùng của mình là quốc gia hóa các hoạt động phát triển địa phương.
- SRD đã được Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam cho phép