UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
TRƢỜNG CAO ĐẲNG SƠN LA
Ths. NGUYỄN THỊ HOA
PHÒNG KHẢO THÍ VÀ ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG
MỨC ĐỘ THÍCH ỨNG VỚI HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
CỦA SINH VIÊN NĂM THỨ NHẤT
TRƢỜNG CAO ĐẲNG SƠN LA
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƢỜNG
NĂM HỌC 2011 - 2012
CỘNG TÁC VIÊN: Ths NGUYỄN VĂN SINH
PHÒNG KHẢO THÍ VÀ ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG
Sơn La, tháng 5/2012
MỤC LỤC
Trang
Mục lục
1
Danh mục các chữ viết tắt
3
Danh mục các bảng
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6
7. Cấu trúc của đề tài
7
8. Kế hoạch thời gian
7
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
8
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
8
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Khái niệm thích ứng
10
1.2.2 Khái niệm hoạt động học tập
22
1.2.3. Khái niệm sinh viên
33
3.1. Thích ứng với nội dung học tập ở trƣờng cao đẳng
33
3.2. Thích ứng với phƣơng pháp học tập ở trƣờng cao đẳng
38
3.3. Thích ứng với điều kiện, phƣơng tiện học tập ở trƣờng cao đẳng
43
3.4. Thích ứng với các mối quan hệ ở trƣờng cao đẳng
47
10
1
3.5. Tổng hợp mức độ thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên
51
3.6. Một số yếu tố cơ bản tác động đến mức độ thích ứng với hoạt động
học tập của sinh viên
1
CĐSP
Cao đẳng sƣ phạm
2
ĐTB
Điểm trung bình
3
ĐK, PTHT
Điều kiện, phƣơng tiện học tập
4
HSSV
Học sinh, sinh viên
5
KQHT
Kết quả học tập
11
TB
Trung bình
12
tbdkpt
Trung bình thích ứng với điều kiện, phƣơng tiện học tập
13
tbnd
Trung bình thích ứng với nội dung học tập
14
tbpp
Trung bình thích ứng với phƣơng pháp học tập
15
tbqh
Trung bình thích ứng với các mối quan hệ
21
xlpp
Xếp loại mức độ thích ứng với phƣơng pháp học tập
22
xlqh
Xếp loại mức độ thích ứng các mối quan hệ
TT
3
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1:
Cơ cấu khách thể nghiên cứu
Bảng 3.1:
Nhận thức của sinh viên về các khối kiến thức
Bảng 3.2:
Tâm trạng của sinh viên trong các giờ học
Thích ứng của sinh viên với các điều kiện học tập, sinh hoạt
Bảng 3.11:
Thích ứng của sinh viên với các MQH ở trƣờng cao đẳng
Bảng 3.12:
Biểu hiện của sinh viêểntong quá trình tiếp xúc với bạn bè
Bảng 3.13:
Thứ hạng các chỉ số TƢHĐHT của sinh viên
Bảng 3.14:
Mức độ TƢHĐHT của sinh viên theo vùng, miền
Bảng 3.15:
Mức độ TƢHĐHT của sinh viên theo ngành học
Bảng 3.16:
Mối quan hệ giữa TĐHT và mức độ TƢHĐHT của sinh viên
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1:
là yêu cầu cấp thiết đối với các trƣờng cao đẳng, đại học. Trong đó, nâng cao
chất lƣợng học tập của sinh viên trong quá trình học tập tại các cơ sở đào tạo
là yếu tố có ý nghĩa quyết định
Sinh viên của trƣờng cao đẳng Sơn La đến từ 11 huyện, thị của tỉnh với
12 dân tộc khác nhau, trong đó có xã, bản thuộc vùng đặc biệt khó khăn. Sinh
viên các dân tộc thiểu số chiếm tỉ lệ lớn trong tổng số sinh viên của trƣờng, có
em còn hạn chế trong ngôn ngữ giao tiếp. Hơn 40 năm qua, trƣờng đã đào tạo
hàng ngàn cán bộ, giáo viên phục vụ cho các ngành kinh tế-xã hội của tỉnh. Tuy
nhiên, chất lƣợng sinh viên ra trƣờng còn có những hạn chế. Một trong những
nguyên nhân đó là sự kém thích ứng với hoạt động học tập ở trƣờng cao đẳng.
dẫn tới tình trạng lúng túng, thiếu linh hoạt, hiệu quả thấp trong việc thực hiện
các hoạt động nghề nghiệp ở các cơ sở tuyển dụng sau khi tốt nghiệp.
Sự thay đổi môi trƣờng học tập từ trƣờng trung học phổ thông lên
trƣờng cao đẳng với nội dung học tập mới, phƣơng pháp học tập mới; từ cuộc
sống ở gia đình đến cuộc sống tập thể, tự lập làm cho các em gặp phải không
ít khó khăn trong quá trình học tập.
Thích ứng với hoạt động học tập ở trƣờng cao đẳng làm cho sinh viên
nhanh chóng hoà nhập với môi trƣờng học tập, tìm ra cho mình cách học phù
hợp với bản thân, với nội dung, phƣơng pháp dạy và học ở trƣờng cao đẳng
tạo điều kiện cho các em học tâp tốt hơn.
Với mong muốn làm rõ thực trạng và đề xuất một số biện pháp giúp sinh
viên có khả năng thích ứng tốt hơn với hoạt động học tập ở trƣờng cao đẳng
Sơn La chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: " Mức độ thích ứng với hoạt
động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường cao đẳng Sơn La".
2. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ thực trạng mức độ thích ứng với hoạt động học tập của sinh
viên, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp giúp sinh viên thích ứng tốt hơn
với việc học tập ở trƣờng cao đẳng tạo điều kiện cho sinh viên đạt đƣợc kết
quả cao trong học tập
5
viên. Trên cơ sở đó, xác định rõ những nội dung của vấn đề đã đƣợc nghiên
cứu, những tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.
6.2. Phƣơng pháp điều tra bằng bảng hỏi: Tìm hiểu thực trạng mức độ
thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất một số chuyên
ngành đào tạo của trƣờng cao đẳng Sơn La.
6.3. Phƣơng pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn một số sinh viên tại các
lớp mà đề tài nghiên cứu để thu thập những thông tin cần thiết nhằm làm rõ
6
hơn các nội dung nghiên cứu trong đề tài.
6.4. Phƣơng pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của một số chuyên gia
đã và đang nghiên cứu về sự thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên để
xác định các biểu hiện và tiêu chí đánh giá mức độ thích ứng với hoạt động
học tập của sinh viên.
6.5. Phƣơng pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động.
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng kết quả học tập nhƣ là sản phẩm
của hoạt động học tập và đối chiếu kết quả này với mức độ thích ứng với hoạt
động học tập của sinh viên.
6.6. Phƣơng pháp thống kê toán học: Xử lý các kết quả nghiên cứu bằng
phần mềm SPSS 13.0
7. Cấu trúc của đề tài
Mở đầu
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận
Chƣơng 2: Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu
Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
8. Kế hoạch thời gian
Năm 1971, X.A. Kughen và O.N. Nhicandov đã nghiên cứu sự thích ứng
với hoạt động lao động của các kỹ sƣ trẻ. Các tác giả này đã đƣa ra nhiều mức
độ thích ứng khác nhau.
Năm 1972, D.A. Andreeva đã phân tích khá sâu sắc khái niệm thích ứng.
Tác giả đã nêu lên sự khác nhau cơ bản giữa thích ứng và thích nghi sinh học,
đặc biệt bà đã sử dụng nguyên tắc hoạt động theo quan điểm tâm lý học hiện
đại để nghiên cứu vấn đề thích ứng. Theo bà, thích ứng là sự thích nghi đặc
biệt của cá nhân với điều kiện,hoàn cảnh mới, là sự thâm nhập vào những
điều kiện mới một cách không gượng ép. Từ đó tác giả đƣa ra định nghĩa về
thích ứng: " là một quá trình tạo ra một chế độ hoạt động tối ƣu có mục đích
của nhân cách, tức là con ngƣời vừa thích nghi với điều kiện mới, vừa phải
8
chủ động thâm nhập vào những điều kiện đó để xây dựng một chế độ hoạt
động mới, phù hợp và đáp ứng
những yêu cầu của điều kiện mới".
Ngoài ra, trong cuốn "Con ngƣời và xã hội ", D.A. Andreeva đã so sánh khái
niệm " thích ứng và xã hội hoá". Bà cho rằng, hai khái niệm này có sự khác biệt về
nội dung: thích ứng phản ánh quá trình thích nghi đặc biệt của con ngƣời. Thích
ứng nhấn mạnh vai trò tích cực của chủ thể với môi trƣờng mới. Còn "xã hội hoá",
về cơ bản phản ánh sự tác động của xã hội tới cá nhân. [5]
Năm 1971, V.I. Alaudie và A.L. Meseracov, trên cơ sở nghiên cứu quá trình
hình thành hoạt động học tập của các sinh viên thuộc khoa Tâm lý học - Đại học tổng
hợp Maxcơva đã đi đến kết luận: Việc thích ứng của sinh viên đại học với hoạt động
học tập thực chất là khả năng tổ chức quá trình phát triển của ngƣời học, tiếp cận
đƣợc với hệ thống tri thức và kinh nghiệm lịch sử xã hội. Nhƣ vậy, thích ứng ở đây
đƣợc hiểu là khả năng tự tổ chức học tập của ngƣời học.
Năm 1986, A.V. Petrovxki và các đồng nghiệp nghiên cứu về vấn đề
thích ứng học tập của sinh viên. Ông cho rằng thích ứng học tập của sinh viên
*) Tâm lý học nhân văn về vấn đề thích ứng
Đại diện tâm lý học Nhân văn là A. Maslow. Ngƣợc lại với chủ nghĩa
Hành vi, trƣờng phái này lấy nhân cách là đối tƣợng nghiên cứu, xem nhân
cách là một hiện tƣợng chỉ có ở ngƣời, là một hệ thống mở nhƣng trọn vẹn và
tự thể hiện. Đó là năng lực bộc lộ tiềm năng sáng tạo, tin vào bản thân và
11
tƣơng lai. Động lực thực sự của hành vi thích ứng là nhu cầu hƣớng thiện, vị
tha, vì xã hội. Thích ứng là những ứng xử tích cực của cá nhân với tƣ cách là
chủ thể với thế
giới xung quanh và với chính mình.
A. Maslow coi thích ứng là sự thể hiện đƣợc những cái vốn có của cá
nhân trong những điều kiện sống nhất định. Sự không thích ứng chính là sự
không đƣợc tự thể hiện, sẽ tạo ra xung đột và ảnh hƣởng tới sự phát triển nhân
cách. Tiền đề tạo ra sự thích ứng là một hệ thống nhu cầu của nhân cách,
đƣợc sắp xếp theo thứ bậc mà cao nhất là nhu cầu tự thể hiện - một nhu cầu
bẩm sinh nhƣng có tính chất nhân văn, chỉ xuất hiện khi các nhu cầu bậc thấp
đƣợc thoả mãn [6]. Mặc dù không phủ nhận vai trò của cái vô thức, bản năng
(của Phân tâm học) hay quá trình học tập (của chủ nghĩa Hành vi), nhƣng A.
Maslow có quan niệm khác về yếu tố quy định sự thích ứng. Theo ông, nhu
cầu "tự thể hiện" mong muốn phát triển hết mức khả năng vốn có của bản
thân và năng lực lựa chọn một cách có ý thức những mục tiêu hành động của
nhân cách là yếu tố quyết định sự thích ứng của con ngƣời.
Tâm lý học Nhân văn đã coi trọng tính tích cực lựa chọn và phẩm chất tự
đánh giá của nhân cách trong quan hệ cá nhân - xã hội. Điều này có ý nghĩa
quan trọng trong việc xây dựng biện pháp tác động đến sự thích ứng tâm lý
nói chung và sự thích ứng với nghề nghiệp nói riêng. Đó là tƣ tƣởng tiến bộ
của dòng phái này.
*) Tâm lý học Nhận thức về vấn đề thích ứng
Phân tâm học là do S. Freud (ngƣời Áo) khởi xƣớng. Xuất phát từ cách
nhìn sinh vật học đối với nhân cách, cho rằng nhân cách là một cấu trúc tổng
thể trọn vẹn với 3 thành tố "cái nó" (Id), "cái tôi" (ego) và "cái siêu tôi"
(superego) có vai trò và chức năng khác nhau đối với đời sống con ngƣời.
Theo S.Freud, hành vi sống của con ngƣời có hình thức căn bản và đƣợc thúc
đẩy bởi bản năng, mà quyết định là bản năng tính dục và bản năng xâm chiếm
… Tuy nhiên, cái bản năng này luôn bị cấm đoán bởi cái xã hội (cái siêu tôi).
Để tồn tại, con ngƣời phải đạt đƣợc sự cân bằng, sự hài hoà giữa hai cái đối
lập "cái nó" và "cái siêu tôi" - đó chính là sự thích ứng. Sự thích ứng là sự
thoả mãn hợp lý các bản năng tình dục trong những điều kiện xã hội nhất
định. Sự phát triển "cái tôi" nhân cách là kết quả của sự thích ứng qua các giai
đoạn khác nhau của đời sống cá thể. Lý thuyết Phân tâm cổ điển của S. Freud
xuất phát từ quan điểm sinh vật luận nên không phát hiện đƣợc bản chất xã
hội - lịch sử của sự thích ứng ở con ngƣời.
Sau này, những ngƣời kế tục S. Freud đã xây dựng nên trƣờng phái Phân
tâm hiện đại nhƣ: C. Jung, E. Fromm và E. Erikson. Các ông cho rằng S.
Freud quá đề cao "cái nó", cái bản năng trong hành vi con ngƣời. Theo họ,
"cái tôi" có vai trò quan trọng trong sự thích ứng cá nhân,là chủ thể của hành
vi chứ không chỉ là phƣơng thức thoả mãn "cái nó". Khác với S. Freud, các
nhà Phân tâm học hiện đại đã coi trọng vai trò cua quan hệ xã hội đối với các
hành vi thích ứng của cá nhân. E. Fromm cho rằng: "Cần phải xem xét hành
13
vi thích ứng của cá nhân từ tính chất xã hội của môi trƣờng". E. Erikson thì
nhấn mạnh thêm "sự thích ứng tâm lý là sự thiết lập các quan hệ xã hội của cá
nhân với những ngƣời xung quanh"[6].
Ứng dụng lý thuyết Phân tâm cũ và mới, các nhà tâm thần học theo
S.Freud chú ý tới giải thích bản chất và cơ chế của sự thích ứng tâm lý.Con
ngƣời không phải là một ngoại lệ sinh học. Ngay từ khi mới lọt lòng, đứa bé
của chính mình. Sự không thích ứng sẽ tạo ra những stress và là căn nguyên
của đa số các trƣờng hợp bệnh lý tâm căn.
Mặc dù chƣa giải thích đƣợc bản chất sự thích ứng của con ngƣời, Phân
tâm học chứa đựng những điểm hợp lý cần đƣợc chú ý về mặt lý luận và thực
tiễn của vấn đề. Đó là vai trò của vô thức, bản năng xung đột tâm lý trong quá
trình thích ứng, hậu quả của việc thích ứng và cách thức giải toả hậu quả này.
*) Tâm lý học Mác xít về vấn đề thích ứng
Cùng với việc phê phán cách tiếp cận sai lầm trên, tâm lý học Mác-xít
giải quyết vấn đề theo một hƣớng hoàn toàn khác. Một mặt, thừa nhận con
ngƣời phải thích nghi với môi trƣờng sống nhƣ là một sinh vật "vì con ngƣời
là một tồn tại tự nhiên, nên đƣơng nhiên nó không thể đứng ngoài sự tác động
của môi trƣờng". Mặt khác, khẳng định con ngƣời là một thực thể xã hội nên
"phải đặt vấn đề" một cách khác: khi nói về con ngƣời, tức là vấn đề quan hệ
"ngƣời xã hội" trở thành vấn đề chủ yếu, thì cái gì là nội dung mới của vấn đề
"cơ thể - môi trƣờng".
L.X. Vƣgôtxki đã chỉ rõ "Quá trình một đứa trẻ bình thƣờng ăn nhập nền
văn minh thƣờng thống nhất với các quá trình cơ thể chín muồi. Hai bình
diện phát triển - tự nhiên và văn hoá - nhập vào nhau tạo nên một sự hình
thành thống nhất xã hội - sinh vật của nhân cách trẻ" [7, tr.131]. Từ quan
niệm về sự thống nhất biện chứng của hai mặt tự nhiên và văn hoá trong sự
phát triển của trẻ em, L.X.Vƣgôtxki đã đƣa ra một tƣ tƣởng mới về bản chất
sự thích nghi của con ngƣời. Ông khẳng định: "Con ngƣời có một hình thức
thích nghi mới và đây là cơ chế cân bằng chủ yếu của cơ thể với môi trƣờng,
dạng thức hành vi này nảy sinh trên cơ sở các tiền đề sinh vật nhất định,
nhƣng đã vƣợt ra ngoài phạm trù sinh vật, tạo nên một hệ thống hành vi có
chất lƣợng khác và theo một tổ chức mới". L.X. Vƣgôtxki gọi dạng thức hành
vi chuyên biệt ngƣời này là "hành vi cấp cao" [7, tr.130]. Hệ thống hành vi
cấp cao này khác biệt về chất lƣợng so với hành vi sinh vật. Trƣớc hết là ở các
thể xuất hiện" [8, tr.96]. Ông thừa nhận: "Sự phát triển của con ngƣời cũng mang tính
chất môi trƣờng (tức là phụ thuộc vào những điều kiện bên ngoài), nhƣng khác với
tiến hoá động vật, sự phát triển của con ngƣời không phải là quá trình thích nghi hiểu
theo nghĩa của từ này" [8, tr.99]. Nhƣ vậy, bản chất và nội dung sự thích ứng của
ngƣời và sự thích nghi sinh vật có sự khác biệt về chất. A.N.Leonchiep cũng vạch ra
sự khác biệt về cơ chế của sự hình thành hành vi động vật và ngƣời. Ở động vật, hành
vi đƣợc hình thành bới kinh nghiệm loài và cá thể, trong đó sự hình thành kinh
nghiệm cá thể là đem hành vi loài thích nghi với những yếu tố biến động của môi
trƣờng bên ngoài. Còn ở ngƣời, hành vi đƣợc hình thành bằng cơ chế lĩnh hội kinh
nghiệm xã hội - lịch sử. Tất nhiên, cơ chế lĩnh hội kinh nghiệm xã hội - lịch sử quan
hệ chặt chẽ với cơ chế kinh nghiệm cá thể.
Với việc vạch ra sự khác biệt về chất giữa thích nghi sinh vật với thích
ứng xã hội - tâm lý của con ngƣời, A.N. Leonchiep đã đặt nền móng cho việc
nghiên cứu vấn đề này về cả phƣơng diện lý luận và thực tiễn.
Quá trình thích ứng tâm lý của con ngƣời gắn liền với quá trình hình
thành nhân cách. Sự hình thành nhân cách chính là quá trình hình thành hai
mặt chủ thể của thích ứng tâm lý. Nhờ nhân cách, sự thích ứng tâm lý trở
thành một quá trình tích cực. Trong đó, con ngƣời không chỉ đáp ứng tác
động của môi trƣờng mà còn cải tiến nó một cách tích cực. Tuy nhiên, sự
thích ứng không đồng nhất với sự hình thành nhân cách. Đó là quá trình
tƣơng tác biện chứng giữa nhân cách và môi trƣờng xã hội mà cả hai phía đều
có sự thay đổi để trở nên phù hợp với nhau, đặc biệt là phía nhân cách. Vì vậy
17
sự hình thành nhân cách và mức độ của nó không tất yếu quyết định mức độ
thích ứng của cá nhân. Nhƣng sẽ không có sự thích ứng nếu không có sự hình
thành nhân cách ở trình độ nhất định. Vì vậy, có những ngƣời có nhân cách
cao nhƣng không thích ứng đƣợc trong những môi trƣờng xã hội nhất định
hay ngƣời ngƣời có nhân cách mang bản chất xã hội này nhƣng có thể thích
xem thích ứng là một quá trình xây dựng chế độ hoạt động tối ƣu và có mục
đích của nhân cách"[11, tr.47]. Nhƣ vậy ta thấy, bà đã phân biệt rõ thích ứng
tâm lý ngƣời và thích nghi sinh học, đƣa khái niệm thích ứng thoát khỏi lập
trƣờng thích nghi sinh học, xem xét nó dƣới góc độ hoạt động và đặt nó hoàn
toàn vào địa hạt của tâm lý học ngƣời.
18
Tóm lại, bằng cách tiếp cận khoa học về vấn đề thích ứng, các nhà tâm lý
học Mác xít đã chỉ ra đƣợc bản chất hoạt động, nội dung xã hội - lịch sử, tính
tích cực và các chỉ số của hiện tƣợng thích ứng ở con ngƣời. Theo nghĩa đó,
lý luận tâm lý học Mác xít về bản chất hoạt động của sự thích ứng tâm lý là
cơ sở lý luận và phƣơng pháp luận cơ bản của chúng tôi khi tiếp cận, nghiên
cứu vấn đề thích ứng nghề nghiệp của sinh viên.
1.2.1.2 Định nghĩa khái niệm thích ứng
Trƣớc hết, cần phân biệt khái niệm thích ứng với khái niệm thích nghi.
Trong các khoa học nói chung hai khái niệm này nhiều khi hay đƣợc sử dụng
đồng nhất với nhau.
Trong từ điển Tiếng Việt của trung tâm từ điển ngôn ngữ (1997), thích
nghi đƣợc hiểu là: có những biến đổi nhất định cho phù hợp với hoàn cảnh
mới. Thích ứng có 2 nghĩa: 1/ Nhƣ thích nghi; 2/ là có những thay đổi cho
phù hợp với yêu cầu, điều kiện mới [17].
Trong từ điển Tiếng Việt [19], khái niệm "thích nghi" đƣợc giải thích là "có
những biến đổi nhất định cho phù hợp với hoàn cảnh mới, môi trƣờng mới", còn
"thích ứng" là "những thay đổi cho phù hợp với các điều kiện mới, yêu cầu mới.
Hoặc trong từ điển Tiếng Việt thông dụng thì khái niệm "thích nghi là quen dần,
phù hợp với điều kiện mới nhờ sự biến đổi, điều chỉnh nhất định", còn "thích ứng là
phù hợp với điều kiện mới nhờ những thay đổi, điều chỉnh nhất định" [20].
Trong từ điển Tâm lý học của Viện Tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên,
thích nghi xã hội là: 1/ quá trình thích nghi tích cực của cá nhân với những
đảm bảo cho cá nhân hoạt động và giao tiếp có hiệu quả. Vì vậy, các ứng xử
đặc trƣng phù hợp với yêu cầu, điều kiện sống mới và kết quả hành động cá
nhân là chỉ số khách quan, cơ bản để đánh giá trình độ thích ứng cá nhân. Các
ứng xử, hành vi cá nhân trong các tình huống của hoạt động và môi trƣờng
sống mới là phƣơng tiện để con ngƣời đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi của
chúng. Nhờ đó, cá nhân cân bằng đƣợc quan hệ với những điều kiện sống mới.
Trình độ đáp ứng của cá nhân với tình huống thể hiện trình độ lĩnh hội phƣơng
tiện sống và hoạt động cũng nhƣ trình độ làm chủ chúng của cá nhân đó. [11]
Cơ chế thích ứng là sự lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội - lịch sử theo
nguyên tắc chuyển từ ngoài vào trong để hình thành những cấu tạo tâm lý mới
cho phép cá nhân có những hành vi, ứng xử đáp ứng đƣợc đòi hỏi của điều
kiện sống và hoạt động mới. [12]
Sự thích ứng tâm lý có vai trò rất to lớn đối với con ngƣời. Nó là điều
kiện cần thiết để đảm bảo sự cân bằng của con ngƣời với môi trƣờng xã hội,
cho sự thành công trong điều kiện sống và hoạt động mới. Mặt khác, những
ứng xử thích hợp là cơ sở và biểu hiện của những phẩm chất nhân cách mới.
Để thích ứng, cá nhân phải hình thành đƣợc những cấu tạo tâm lý mới. Vì
vậy, thích ứng nhƣ là điều kiện của sự phát triển và hoàn thiện nhân cách,
đảm bảo cho nhân cách đáp ứng đƣợc những yêu cầu của cuộc sống và hoạt
động thay đổi. Việc cá nhân không thích ứng với những đòi hỏi của điều kiện
sống và hoạt động mới sẽ làm cho anh ta hoạt động kém hiệu quả, không phát
triển tâm lý và không hoà nhập đƣợc cuộc sống xã hội. Thích ứng là là điều
kiện của việc tiếp thu hoạt động mới, phát triển tâm lý cá nhân trong điều kiện
cuộc sống thay đổi.
Tóm lại, Thích ứng, dưới góc độ tâm lý học, là một quá trình con người
luôn tích cực, chủ động hoà nhập, lĩnh hội các điều kiện, các yêu cầu, phương
thức mới của hoạt động nhằm đạt được mục đích của hoạt động đã đề ra.
Thông qua đó, chủ thể của hoạt động liên tục phát triển và hoàn thiện về mặt
nhân cách, đáp ứng được những yêu cầu của xã hội.
21
Học về bản chất là sự tiếp thu, xử lý thông tin chủ yếu bằng các thao tác trí
tuệ dựa vào vốn sinh học và vốn đạt đƣợc của cá nhân, từ đó có đƣợc tri thức, kỹ
năng, thái độ mới. "Bản chất của hoạt động học ở đại học là đi sâu, tìm hiểu những
môn học, những chuyên ngành khoa học cụ thể một cách chuyên sâu để nắm đƣợc
đối tƣợng, nhiệm vụ, phƣơng pháp, quy luật của các khoa học đó với mục đích trở
thành những chyên gia về các lĩnh vực nhất định". [15] Có thể nêu ra một số đặc
điểm trong hoạt động học tập của sinh viên nhƣ sau:
22
- Sinh viên học tập nhằm lĩnh hội các tri thức, hệ thống khái niệm khoa học,
những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, phát triển những phẩm chất nhân cách của
ngƣời chuyên gia tƣơng lại. Hoạt động học tập của họ vừa không thể tách rời hoạt
động nghề nghiệp, vừa gắn liền với hoạt động nghiên cứu khoa học. [15]
- Hoạt động của sinh viên diễn ra một cách có kế hoạch, có mục đích, nội
dung, chƣơng trình, phƣơng thức, phƣơng pháp đào tạo theo thời gian một
cách chặt chẽ nhƣng đồng thời không quá quá bị khép kín, mà có tính chất mở
rộng theo năng lực, sở trƣờng để họ có thể phát huy đƣợc tối đa năng lực nhận
thƣc của mình trong nhiều lĩnh vực.
- Phƣơng tiện học tập của sinh viên phong phú với các thƣ viên, phòng
đọc, phòng thực nghiệm, phòng bộ môn với những thiết bị khoa học cần thiết
cho từng ngành đào tạo.
Hoạt động học của sinh viên mang tính độc lập, tự chủ và sáng tạo cao.
Điều quan trọng là là sinh viên phải tìm ra phƣơng pháp học tập mới ở trƣờng
cao đẳng. Phƣơng pháp đó phải phù hợp với những chuyên ngành khoa học
mà họ theo đuổi. Không tìm ra đƣợc cách học khoa học, sinh viên không thể
đạt đƣợc kết quả học tập tốt vì khối lƣợng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà họ
phải lĩnh hội là rất lớn, rất đa dạng.
1.2.3. Khái niệm sinh viên
Theo hai cuốn Đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Nhƣ Ý và Từ điển
động của mỗi chủ thể. Do đó, kết quả học tập và chất lƣợng học tập cao hay thấp
phụ thuộc rất nhiều vào việc ngƣời học có thực sự tích cực hay không trong học tập.
Theo Hoàng Trần Doãn, "Thích ứng học tập là một qua trình thích nghi
đặc biệt của cá nhân với điều kiện mới, là sự thâm nhập của cá nhân vào điều
kiện mới một cách thành thục. Chính trong quá trình đó, con ngƣời không thụ
động mà đƣợc bộc lộ trong quá trình hoạt động có đối tƣợng nhƣ một chủ thể
động" [3]
Nhƣ vậy, thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên đƣợc hiểu là một
quá trình ngƣời sinh viên tích cực, chủ động hoà nhập vào các điều kiện học
tập, nội dung và phƣơng pháp học tập, các mối quan hệ mới so với hoạt động
học tập ở trƣờng phổ thông nhằm hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân
cách đáp ứng những yêu cầu của xã hội.
1.2.4.2 Biểu hiện thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên
Thích ứng với hoạt động học tập đƣợc thể hiện ở nhiều khía cạnh khác
nhau. Trong đề tài này, dựa trên phân tích cơ sở lý luận về vấn đề thích ứng
và đƣa ra cách hiểu về “Thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên”.
Chúng tôi đánh giá thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên theo các chỉ
số sau đây:
- Thích ứng với nội dung học tập (NDHT) ở trƣờng cao đẳng: sinh viên
tích cực, chủ động chiếm lĩnh nội dung kiến thức các môn học
- Thích ứng với phƣơng pháp hoc tập ở trƣờng cao đẳng: sinh viên hình
thành phƣơng pháp học tập (PPHT) phù hợp với bản thân, với việc học tập ở
trƣờng cao đẳng
24