Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP ngoại thương việt nam chi nhánh đăk lăk - Pdf 34

1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trải qua hơn 25 năm đổi mới, hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) Việt
Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đóng góp vào quá trình đổi mới và
phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong thời kỳ quá độ. Sự an
toàn, ổn định của hệ thống các TCTD đóng vai trò quyết định đối với sự ổn định hệ
thống tài chính và là một trong những yếu tố quan trọng giúp ổn định kinh tế vĩ mô.
Trong quá trình hoạt động của mình, hệ thống các TCTD đã cung cấp một khối
lượng vốn to lớn cho nền kinh tế, giúp thúc đẩy đầu tư, tăng trưởng kinh tế nhanh,
tạo công ăn việc làm, góp phần thực hiện các chính sách xã hội của Nhà nước. Tuy
nhiên, trong những năm qua, hệ thống các TCTD đã bộc lộ nhiều yếu kém, rủi ro
cao, nhất là sau khi nền kinh tế Việt Nam bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài
chính thế giới vào năm 2008. Hiện nay, quy mô nợ xấu tăng cao đã khiến cho tốc độ
tăng trưởng tín dụng thấp mà nguyên nhân sâu xa đó là do công tác quản trị rủi ro
tín dụng tại các ngân hàng thương mại còn nhiều bất cập, yếu kém, thiếu sự kiểm
tra, giám sát và tuân thủ chặt chẽ. Chính vì vậy, để làm rõ những nguyên nhân trên
cũng như qua đó đào sâu tìm kiếm những sáng kiến mới nhằm nâng cao năng lực
quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng, ngày càng đáp ứng được các chuẩn mực
quốc tế tôi quyết định chọn đề tài: “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP
Ngoại Thương Việt Nam chi nhánh Đăk lăk” để làm luận văn Thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Để đảm bảo chất lượng đề tài tôi chỉ tập trung xem xét những nghiên cứu
trước đây liên quan đến hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Ngoại
thương và cũng để thấy rõ được xu hướng phát triển của các nghiên cứu này, tôi lần
lượt xem xét các nghiên cứu nổi bật qua các năm như sau:
Thứ nhất, đề tài: “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương
Đồng Nai trong thời kỳ hội nhập quốc tế” của Nguyễn Dương Thị Hằng Nga thực
hiện năm 2007. Đề tài này được thực hiện trước khi khủng hoảng kinh tế thế giới
xảy ra, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới

Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Đăk lăk” của Nguyễn Quốc Cường, 2010.
Tương tự, hình thức và nội dung trình bày của đề tài vẫn theo mô típ cũ giống như
những đề tài trước đây mà chưa thấy được những thay đổi mang tính mới mẻ.


3

Thứ 5, đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương
Việt Nam chi nhánh Vũng Tàu” của tác giả Nguyễn Thúy Anh thực hiện năm 2012.
Trên cơ sở kế thừa những phương pháp và các khám phá của các nghiên cứu trước,
đã kết hợp sử dụng phương pháp định tính và phương pháp định lượng trong việc
vừa xác định các nhân tố chính ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng vừa
đo lường mức độ quan trọng của từng nhân tố. Bài viết khá công phu, sau khi ứng
dụng mô hình định lượng Binary Logistic để phân tích, tác giả ứng dụng ngay
những kết quả phân tích đó vào tình hình thực tế quản trị rủi ro tín dụng tại
Vietcombank Vũng Tàu, từ đó đưa ra những đánh giá tỉ mĩ, sâu sắc về những thành
tựu đạt được và các hạn chế tại đơn vị. Bên cạnh đó, tác giả có đưa ra những nhận
xét về mô hình sử dụng cũng như so sánh ưu nhược điểm của nó với mô hình hiện
đang áp dụng tại Vietcombank Vũng tàu, trên cơ sở đó đề xuất những nghiên cứu
chuyên sâu hơn nữa nhằm có được một mô hình hoàn hảo nhất, có thể dễ dàng áp
dụng trong thực tế. Tuy nhiên, hạn chế của đề tài này nằm ở chỗ mẫu dữ liệu sử
dụng trong mô hình khá ít (100 mẫu) nên khi chạy mô hình các kết quả phân tích
đạt giá trị thấp, tính đại diện không cao, không thể hiện hết mức độ quan trọng của
các biến nghiên cứu.
Nhìn chung, những đề tài trên đã nêu lên tương đối sát thực tế về những vấn
đề tồn tại hiện nay tại Vietcombank, tuy nhiên, hạn chế của những nghiên cứu này
nằm ở chổ chủ yếu đi vào phân tích định tính, dựa trên quan điểm chủ quan và tình
hình thực tế tại đơn vị để đánh giá, đưa ra kết quả, nhất là những đề tài được thực
hiện từ năm 2011 trở về trước, do đó tính thuyết phục không cao. Các tác giả chỉ
mới nêu lên được những nhân tố chính ảnh hưởng nhưng không chứng minh được

RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

o

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI
NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH
ĐĂK LĂK

o

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN TRỊ RỦI
RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT
NAM CHI NHÁNH ĐĂK LĂK


5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO
TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Rủi ro tín dụng
1.1.1. Khái niệm rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng mà khách
hàng vì lý do nội bộ hay ngoại cảnh mà mất khả năng thanh toán một phần hay toàn
bộ nghĩa vụ thanh toán không đúng hạn được quy định tại hợp đồng.
Trong hoạt động ngân hàng, rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất của
các tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực
hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Đây được coi là rủi ro lớn nhất và thường
xuyên xảy ra nhất, gây tổn thất và ảnh hưởng nghiêm trọng đế hiệu quả kinh doanh
ngân hàng.
1.1.2. Phân loại rủi ro tín dụng

khách hàng hiện có, dẫn đến vô tình phát sinh rủi ro tín dụng tập trung. Bên
cạnh đó, do sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt cũng như áp lực chỉ tiêu doanh
số nên các ngân hàng chỉ mong sao cho vay được khách hàng nào là tốt
khách hàng ấy mà không có sự quan tâm phân tích trong mối tương quan với
dư nợ của ngành nghề, nhóm khách hàng hiện có.
1.1.3. Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng
• Đối với ngân hàng
Khi rủi ro tín dụng xảy ra, khách hàng không trả được nợ (nợ gốc và/hoặc lãi)
dẫn đến tổn thất vốn cho vay, ngân hàng phải trích lập dự phòng để xử lý nợ xấu
làm cho lợi nhuận kinh doanh sụt giảm, thậm chí thua lỗ. Điều này ảnh hưởng đến
khả năng thanh toán các khoản tiền gửi đến hạn của dân chúng. Nếu tình trạng này
tiếp tục xảy ra sẽ dẫn đến xuất hiện những tin đồn thất thiệt, khiến dân chúng hoài
nghi, không yên tâm, lo sợ bị mất tiền, do đó sẽ gây ra hành động rút tiền hàng loạt,
đẩy ngân hàng đến bờ vực phá sản.
• Đối với nền kinh tế


7

Có thể nói hệ thống ngân hàng được coi như là huyết mạch của nền kinh tế, với
chức năng dẫn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, đảm bảo cho các hoạt động của nền
kinh tế được liên tục. Vì vậy, khi rủi ro tín dụng xảy ra, nợ xấu gia tăng, thì chức
năng dẫn vốn của ngân hàng bị gián đoạn, các doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn
để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh do thiếu vốn mà sức khỏe của doanh
nghiệp thì gắn liền với tình trạng nền kinh tế, do đó, nếu không có các biện pháp
can thiệp kịp thời thì sẽ dẫn tới các nguy cơ như rối loạn lưu thông tiền tệ trong
nước, giảm giá đồng bản tệ, đình trệ hoạt động sản xuất kinh doanh, khủng hoảng
kinh tế… Bên cạnh đó, do xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế nên sự tác động này
không chỉ giới hạn trong phạm vi một nước mà có thể còn lan rộng ra toàn thế giới
tùy thuộc quy mô và mức độ ảnh hưởng của nền kinh tế nước đó.

Tỷ lệ nợ quá hạn =

Tổng dư nợ cho vay

Tuy nhiên, tỷ lệ trên chỉ đề cập đến các khoản nợ đã quá hạn mà không xem xét đến
những khoản vay mà có một kỳ hạn bị quá hạn (khi đó, toàn bộ dư nợ từ kỳ hạn đó
trở về sau sẽ bị chuyển sang nợ quá hạn). Như vậy để chính xác hơn phải là:
Tổng dư nợ có nợ quá hạn
Tỷ lệ dư nợ quá hạn =

Tổng dư nợ cho vay

Để đảm bảo quản lý chặt chẽ, hiện nay các ngân hàng thương mại Việt Nam phân
loại các khoản nợ quá hạn theo thời gian như sau:
+ Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày: Nợ cần chú ý
+ Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày: Nợ dưới tiêu chuẩn
+ Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày: Nợ nghi ngờ
+ Nợ quá hạn trên 360 ngày: Nợ có khả năng mất vốn


9

1.1.4.2. Tỷ lệ nợ xấu
Nợ xấu (Bad Debt): là những khoản nợ quá hạn từ 91 ngày trở lên mà không
đòi được và không được tái cơ cấu. Theo Thông tư số 13/2010/TT-NHNN về các tỷ
lệ bảo đảm an toàn thì tỷ lệ nợ xấu dưới 3% được xem là trong giới hạn an toàn.
Thông thường nợ xấu là những khoản nợ có các đặc trưng như:
• Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các
cam kết đã đến hạn.
• Tình hình tài chính khách hàng đang có chiều hướng xấu dẫn đến có

Tổng tài sản có
1.1.4.4. Tỷ lệ xoá nợ
Các khoản xoá nợ ròng
Tỷ lệ xoá nợ =

Tổng dư nợ cho vay

1.1.4.5. Tỷ lệ khả năng bù đắp rủi ro tín dụng
Dự phòng rủi ro tín dụng được trích lập
Tỷ lệ khả năng bù đắp rủi ro tín dụng =

Nợ quá hạn khó đòi

1.1.5. Nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng
Nhìn chung, trong hoạt động ngân hàng rủi ro tín dụng xuất phát từ hai
nguyên nhân chính: nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan.
• Nguyên nhân khách quan
- Môi trường kinh doanh không thuận lợi, nền kinh tế xảy ra suy thoái, khủng
hoảng, lạm phát tăng cao, tỷ giá hối đoái biến động bất thường, các thay đổi trong
các chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ, tình hình an ninh trong nước và thế
giới bất ổn, thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh…
- Môi trường pháp lý chưa hoàn thiện, nhiều bất cập, các chính sách quy định của
phát luật về hoạt động ngân hàng thường xuyên thay đổi, thiếu tính thống nhất giữa
các luật, văn bản dưới luật, nhiều khi được ban hành dựa trên ý kiến chủ quan của
cơ quan ban hành thay vì dựa trên các căn cứ khoa học. Bên cạnh đó, bộ máy thanh
tra giám sát của NHNN còn chưa hiệu quả, năng lực của cán bộ thanh tra giám sát
chưa theo kịp sự phát triển của hệ thống ngân hàng.


11


12

dụng đóng vai trò rất quan trọng, giúp ngân hàng nhận diện, đo lường, đánh giá,
quản lý và kiểm soát rủi ro hiệu quả, giúp ngăn ngừa và hạn chế những tổn thất, mất
mát do rủi ro tín dụng gây ra. Bên cạnh đó, quản trị rủi ro tín dụng tốt sẽ tạo điều
kiện cho ngân hàng sàn lọc được những khách hàng có năng lực tài chính vững
mạnh, phương án kinh doanh tốt,… nhằm giúp cho việc tài trợ vốn của ngân hàng
thực sự hiệu quả, đúng đối tượng và đóng góp vào sự tăng trưởng của nền kinh tế
đất nước.
1.2.2. Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng
Tính đến nay đã có nhiều nghiên cứu về đề tài quản trị rủi ro tín dụng, tuy
nhiên, những nghiên cứu này lại có những định nghĩa khác nhau về công tác quản
trị rủi ro tín dụng, chẳng hạn như:
- Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính
sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được mục tiêu an toàn, hoạt động
hiệu quả, phát triển bền vững. Đó là quá trình ngân hàng tác động đến hoạt động tín
dụng thông qua bộ máy và công cụ quản lý để phòng ngừa, cảnh báo và đưa ra các
biện pháp nhằm hạn chế đến mức tối đa tổn thất khoản vay, tạo điều kiện cho việc
sử dụng tối ưu các nguồn lực của ngân hàng.
- Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình nhận dạng, phân tích nhân tố rủi ro, đo lường
mức độ rủi ro, trên cơ sở đó lựa chọn triển khai các biện pháp phòng ngừa và quản
lý các hoạt động tín dụng nhằm hạn chế và loại trừ rủi ro trong quá trình cấp tín
dụng nhằm tối đa hóa lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Chung quy lại, có thể hiểu: “Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình tiếp cận rủi
ro tín dụng một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm
soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi
của rủi ro tín dụng”. (Trần Huy Hoàng, 2010)





14

+ Mô hình xếp hạng của Moody’s và Standard & Poor’s
+ Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng
+ Mô hình cấu trúc kỳ hạn rủi ro tín dụng
• Kiểm soát rủi ro tín dụng
Là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược và những quá
trình nhằm biến đổi rủi ro bằng cách: né tránh, ngăn ngừa, giảm thiểu tổn thất, đa
dạng hóa sản phẩm để phân tán rủi ro,...
• Tài trợ rủi ro tín dụng
Là việc sử dụng các công cụ, kỹ thuật để tài trợ cho chi phí của rủi ro và tổn
thất của hoạt động tín dụng. Hiện nay các ngân hàng thường hay sử dụng những
cách thức sau:
- Trích lập quỹ dự phòng rủi ro để bù đắp những tổn thất có thể xảy ra
- Bán nợ
- Các hợp đồng phái sinh như: trao đổi tín dụng (Credit swap), quyền trọn tín dụng
(Credit option),…
- Chứng khoán hóa các khoản vay
- Xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ
- Mua bảo hiểm

1.2.4. Hiệp ước Basel về quản trị rủi ro tín dụng
Quan điểm của Ủy ban Basel là sự yếu kém trong hệ thống ngân hàng của
một quốc gia, dù quốc gia phát triển hay đang phát triển, sẽ đe dọa đến sự ổn định
về tài chính trong cả nội bộ của quốc gia đó. Vì vậy, nâng cao sức mạnh của hệ
thống tài chính là điều mà Ủy ban Basel quan tâm. Ủy ban Basel không chỉ bó hẹp
trong phạm vi các thành viên mà mở rộng mối liên kết với các chuyên gia trên toàn
cầu. Ủy ban Basel đã ban hành 17 nguyên tắc về quản lý nợ xấu mà thực chất là đưa

- Duy trì một quá trình quản lý, đo lường và theo dõi tín dụng phù hợp (10 nguyên
tắc): các ngân hàng cần có hệ thống quản lý thường xuyên cập nhật đối với các
danh mục đầu tư có rủi ro tín dụng bao gồm cập nhật hồ sơ tín dụng, thu thập thông
tin tài chính hiện hành, dự thảo các văn bản như hợp đồng vay… theo quy mô và


16

mức độ phức tạp của ngân hàng. Đồng thời, hệ thống này phải có khả năng nắm bắt
và kiểm soát tình hình tài chính, sự tuân thủ các cam kết của khách hàng… để phát
hiện kịp thời những khoản vay có vấn đề. Ngân hàng cần có hệ thống khắc phục
sớm đối với các khoản tín dụng xấu, quản lý các khoản tín dụng có vấn đề. Các
chính sách rủi ro tín dụng của ngân hàng cần chỉ rõ cách thức quản lý các khoản tín
dụng có vấn đề. Trách nhiệm đối với các khoản tín dụng này có thể được giao cho
bộ phận tiếp thị hay bộ phận xử lý nợ hoặc kết hợp cả hai bộ phận này tùy theo quy
mô và bản chất của mỗi khoản tín dụng. Ủy ban Basel cũng khuyến khích các ngân
hàng phát triển và xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ trong quản lý rủi ro
tín dụng, giúp phân biệt các mức độ rủi ro tín dụng trong các tài sản có tiềm năng
rủi ro của ngân hàng.
1.3. Mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Hiện nay các ngân hàng Việt Nam đang áp dụng chủ yếu hai mô hình quản
trị rủi ro tín dụng: tập trung và phân tán. Các mô hình này phản ánh một cách có hệ
thống các vấn đề về cơ chế, chính sách, quy trình nghiệp vụ nhằm thiết lập các giới
hạn hoạt động an toàn và các chốt kiểm soát rủi ro; các công cụ đo lường, phát hiện
rủi ro; các hoạt động giám sát sự tuân thủ và nhận diện kịp thời các loại rủi ro mới
phát sinh và các phương án, biện pháp chủ động phòng ngừa, đối phó một khi có rủi
ro xảy ra. Theo (Nguyễn Đình Thiện, 2010) hai mô hình trên được diễn giải như
sau:
1.3.1. Mô hình quản trị rủi ro tín dụng tập trung
Mô hình này tập trung vào sự phân tách độc lập ba chức năng: chức năng

1.3.3. Xu hướng áp dụng mô hình quản trị rủi ro tín dụng hiện nay của các
ngân hàng thương mại Việt Nam
Trong thời gian qua trên thị trường tài chính Việt Nam đã diễn ra nhiều vụ
hợp nhất, sáp nhập giữa các ngân hàng theo đề án tái cơ cấu của NHNN Việt Nam
nhằm xử lý các TCTD yếu kém, lành mạnh hóa hoạt động ngân hàng, góp phần ổn
định nền kinh tế vĩ mô. Nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng này đó là vấn đề nợ
xấu tăng cao đã khiến cho hoạt động ngân hàng gặp nhiều khó khăn, tăng trưởng tín


18

dụng giảm sút, các doanh nghiệp không thể tiếp cận được vốn vay, hàng loạt các sai
phạm nghiêm trọng được phát hiện trong hoạt động tín dụng. Những sai phạm này
chủ yếu đến từ các ngân hàng tư nhân có quy mô vốn nhỏ, năng lực quản trị rủi ro
yếu kém, cạnh tranh không lành mạnh. Thực trạng trên cho thấy hệ thống ngân hàng
Việt Nam rất dễ bị tổn thương, nếu không có những biện pháp cứng rắn để cải tổ bổ
máy hoạt động ngân hàng, nâng cao năng lực quản trị rủi ro, đặc biệt là quản trị rủi
ro tín dụng thì hậu quả của sự sụp đổ hệ thống ngân hàng là rất lớn.
Thực tế thời gian qua đã cho thấy khi các ngân hàng coi nhẹ hoạt động quản
trị rủi ro thì gần như không có sức đề kháng với tình hình xấu của nền kinh tế và dễ
bị đổ vỡ. Vì vậy, đứng trước xu thế hội nhập và toàn cầu hóa nền kinh tế, hơn bao
giờ hết, vấn đề đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng được đặt lên hàng đầu,
quản trị rủi ro tín dụng theo tiêu chuẩn quốc tế trở thành yêu cầu bức thiết trong bối
cảnh kinh tế thế giới hiện nay thì mô hình quản trị rủi ro tín dụng tập trung đang dần
trở thành một lựa chọn ưu tiên hàng đầu mà các ngân hàng thương mại Việt Nam
quan tâm áp dụng, cụ thể như theo (Nguyễn Đào Tố, 2008):
Trong thời gian gần đây, đã có một sự thay đổi cơ bản trong cơ cấu tổ chức
bộ máy và quy trình cấp tín dụng của một số ngân hàng Việt Nam. Giờ đây, tại một
số ngân hàng như Vietcombank, ACB…, đã không còn thấy Phòng tín dụng, là bộ
phận trước đây tiếp xúc khách hàng và tiến hành thẩm định hồ sơ vay vốn để xem



20

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN
HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH ĐĂK LĂK
2.1. Giới thiệu về đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Đăk lăk
Đắk Lắk là tỉnh nằm ở trung tâm của khu vực Tây Nguyên với điều kiện vị
trí địa lý thuận lợi để phát triển kinh tế; cụ thể phía bắc giáp tỉnh Gia Lai, qua quốc
lộ 14 sẽ đến trung tâm kinh tế Đà Nẵng và khu công nghiệp Dung Quất, khu kinh tế
mở Chu Lai (Quảng Nam, Quảng Ngãi); Phía đông giáp tỉnh Khánh Hoà là trung
tâm du lịch lớn của cả nước, đồng thời có cảng biển giao thương hàng hoá với nước
ngoài; Phía nam giáp tỉnh Đăk Nông, qua quốc lộ 14 đến các tỉnh Bình Phước, Bình
Dương và Thành phố Hồ Chí Minh, đây là trung tâm kinh tế trọng điểm của phía
Nam; Phía tây là vương quốc Campuchia thông qua cửa khẩu kinh tế Đăk Ruê.
Với điều kiện thiên nhiên ưu đãi, Đắk Lắk được biết đến như là một vùng
cao nguyên đất đỏ bazan màu mỡ rất phù hợp để phát triển các cây công nghiệp dài
ngày có giá trị kinh tế cao như: cà phê, cao su, ca cao, điều, bông vải... Hiện nay,
phát triển kinh tế chủ đạo của Đăk Lăk chủ yếu dựa vào sản xuất và xuất khẩu nông
sản, lâm sản (chiếm khoảng 60% GDP tỉnh). Ngoài ra, Đắk Lắk còn là tỉnh có tiềm
năng lớn để phát triển thủy điện với các đầm hồ lớn như hồ Lắk (huyện Lắk), sông
Sêrêpôk có trữ lượng thủy điện khoảng 2.636 triệu KW.
Với tầm nhìn đến năm 2020, các lĩnh vực dự kiến sẽ có bước phát triển đột
phá trong tương lai với những mục tiêu cụ thể như:
- Phát triển công nghiệp theo hướng tập trung đầu tư khai thác có hiệu quả tiềm
năng về thuỷ điện; khai thác lợi thế về nguồn nguyên liệu để đẩy mạnh phát triển
công nghiệp chế biến nông, lâm sản như: công nghiệp chế biến cao su, điều, cà phê,
bông vải và các loại nông sản khác, chế biến sản phẩm chăn nuôi, hàng mộc cao cấp
xuất khẩu, vật liệu xây dựng, các ngành hàng tiểu thủ công nghiệp truyền thống...
- Tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, đây là yếu tố nền tảng, tạo tiền đề

2.2.1. Về huy động vốn
Để thực hiện tốt các mục tiêu kinh doanh của mình, nhất là đảm bảo được sự chủ
động về nguồn vốn hoạt động, ngay từ đầu Ban lãnh đạo ngân hàng đã quán triệt tư
tưởng coi công tác huy động vốn là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu
cần phải được chú trọng và đây cũng là cơ sở để đánh giá quy mô hoạt động, uy tín
và mức độ an toàn của Chi nhánh trong hoạt động ngân hàng. Chính vì vậy mà


22

trong suốt quá trình hoạt động, Chi nhánh luôn tích cực tìm kiếm những cách thức,
hướng đi mới nhằm khai thác triệt để các nguồn vốn nhàn rỗi trong các thành phần
kinh tế để sử dụng sao cho mang lại hiệu quả cao nhất, bằng việc kết hợp sử dụng
nhiều giải pháp đồng bộ như luôn chú trọng đổi mới và cho ra đời nhiều sản phẩm
dịch vụ tiện ích để đáp ứng ngày càng tốt hơn các yêu cầu từ phía khách hàng; luôn
duy trì các chính sách ưu đãi về lãi suất, phí và các chương trình quà tặng nhằm tri
ân khách hàng... Qua đó, công tác huy động vốn luôn đạt được những kết quả khả
quan, cụ thể qua Biểu đồ 2.2 bên dưới:

Nhìn vào biểu đồ 2.2 ta thấy quy mô và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động tại
VCB Đăk lăk luôn tăng ổn định trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2013, với tốc
độ tăng trung bình khoảng 18,1%/năm. Đáng chú ý khi đạt đỉnh vào năm 2012 với
số vốn huy động được lên tới 2.165 tỷ đồng, con số này qua đó cũng phản ánh một
thực tế rằng tiền gửi vào ngân hàng vẫn được xem như là một kênh đầu tư được ưu
tiên lựa chọn trong bối cảnh kinh tế khó khăn, hoạt động đầu tư kinh doanh nhiều
rủi ro, mặc dù lãi suất huy động liên tục giảm trong thời gian qua.


23


dân cư) lại có sự tăng trưởng đột biến; điều này cho thấy tâm lý thận trọng của dân
chúng trước tình hình khó khăn hiện tại và coi ngân hàng như là một nơi đầu tư an
toàn, ít rủi ro.


25

2.2.2. Về hoạt động tín dụng
Trong khi nền kinh tế Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn với xu hướng toàn
cầu hóa diễn ra sâu rộng, cạnh tranh ngày càng gay gắt, do đó mà ngay từ đầu VCB
Đăk lăk luôn đặt ra quyết tâm tăng trưởng dư nợ một cách lành mạnh, an toàn, giảm
tỷ lệ nợ quá hạn, tuân thủ chặt chẽ những chỉ đạo trong hoạt động cho vay, nhờ đó
dư nợ cho vay của ngân hàng liên tục tăng trưởng bền vững trong vòng 5 năm trở
lại đây. Cụ thể như Bảng 2.3 bên dưới:

Có thể thấy, tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay đang chậm lại với mức sụt
giảm ngày càng lớn đặc biệt trong 2 năm trở lại đây khi chỉ đạt hơn 2%. Điều này
một phần cho thấy bức tranh ảm đạm về tình hình kinh tế trong nước nói chung và
tỉnh Đăk lăk nói riêng đang gặp rất nhiều khó khăn khi mà quy mô hoạt động kinh
tế đang thu hẹp lại, số lượng các doanh nghiệp phá sản ngày càng tăng, hoạt động
sản xuất kinh doanh đình trệ, thất nghiệp gia tăng, nhu cầu tiêu dùng thấp, hàng tồn
kho tăng cao,... Bên cạnh đó, nó cũng cho thấy những bước đi thận trọng của ngân
hàng trong hoạt động cho vay, giảm dần dư nợ, chú trọng vào chất lượng tín dụng
nhằm đảm bảo mục tiêu an toàn, hiệu quả.
2.2.3. Về hoạt động cung cấp dịch vụ
• Kinh doanh ngoại tệ
Theo dõi diễn biến tỷ giá hối đoái trong 5 năm trở lại đây có thể thấy xu
hướng biến động tỷ giá đã dần đi vào ổn định cùng với những định hướng điều hành
rõ ràng của NHNN làm cho các NHTM thuận lợi hơn trong việc thực chiến lược
kinh doanh ngoại tệ của mình. Nhìn chung, hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại VCB


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status