TỔNG CỤC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO VIỆT NAM
VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
BÁO CÁO TÓM TẮT ĐỀ TÀI KHOA HỌC
ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG SINH HỌC VÙNG
BIỂN KHU KINH TẾ DUNG QUẤT (KỂ CẢ PHẦN MỞ RỘNG), ĐỀ
XUẤT GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU CÁC TÁC HẠI MÔI TRƯỜNG
ĐẾN ĐA DẠNG SINH HỌC
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Vũ Thanh Ca
HÀ NỘI, 7-2013
UBND TỈNH QUẢNG NGÃI
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TỔNG CỤC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO VIỆT NAM
VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ
BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
BÁO CÁO TÓM TẮT ĐỀ TÀI KHOA HỌC
ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG SINH HỌC VÙNG BIỂN
KHU KINH TẾ DUNG QUẤT (KỂ CẢ PHẦN MỞ RỘNG), ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU CÁC TÁC HẠI MÔI TRƯỜNG ĐẾN ĐA
DẠNG SINH HỌC
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Vũ Thanh Ca
HÀ NỘI, 7-2013
Đàm Đức Tiến
TS
Chủ trì đề mục
Viện TN và MT Biển
5
Nguyễn Văn Quân
TS
Chủ trì đề mục
Viện TN và MT Biển
6
Phạm Văn Lượng
ThS
Chủ trì đề mục
Viện TN và MT Biển
7
Mai Kiên Định
MỤC LỤC
MỤC LỤC BẢNG
MỞ ĐẦU...............................................................................................................6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KHU KINH TẾ DUNG QUẤT VÀ HIỆN
TRẠNG BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC BIỂN TẠI VIỆT NAM.................1
CHƯƠNG 2: LUẬN CỨ KHOA HỌC ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU
TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG ĐẾN ĐA DẠNG SINH HỌC KHU KINH TẾ
DUNG QUẤT .......................................................................................................3
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU TÁC HẠI Ô
NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẾN ĐA DẠNG SINH HỌC KKT DUNG QUẤT. .27
TỔNG QUAN VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI..................32
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ............................................................................34
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................35
MỤC LỤC HÌNH
MỞ ĐẦU
Khu kinh tế (KKT) Dung Quất được Chính phủ Việt Nam quy hoạch trở
thành một khu kinh tế đa ngành - đa lĩnh vực theo các Quyết định số
50/2005/QĐ-TTg ngày 11/3/2005, Quyết định số 139/QĐ-TTg ngày 16/6/2006
và Quyết định điều chỉnh số 124/QĐ-TTg ngày 20/11/2011 của Thủ tướng
Chính phủ, với trọng tâm là công nghiệp lọc dầu, hóa dầu, công nghiệp nặng
quy mô lớn (luyện cán thép, đóng tàu, cơ khí, sản xuất xi măng, chế tạo ô-tô...),
các ngành công nghiệp nhẹ, các dịch vụ tài chính, ngân hàng, du lịch, bất động
sản... với tổng diện tích lên đến 45.332 ha. Đi đôi với sự tăng trưởng và phát
triển về kinh tế - xã hội, môi trường nước mặt và nước biển ven bờ KKT Dung
công nghiệp nặng quy mô lớn (luyện cán thép, đóng tàu, cơ khí, sản xuất xi
măng, chế tạo ô-tô ...), các ngành công nghiệp nhẹ, các dịch vụ tài chính, ngân
hàng, du lịch, bất động sản... Hệ thống cơ sở hạ tầng và các tiện ích xã hội bên
trong KKT Dung Quất đã được hoàn thành về cơ bản và đang được tiếp tục đầu
tư, mở rộng, nâng cấp để đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư.
Mới đây theo quyết định số 124/QĐ-TTg ngày 20/01/2011 của Chính phủ
về việc thành lập KKT Dung Quất thì Lý Sơn là một bộ phận phía Đông của
KKT này, do vậy vùng biển KKT Dung Quất và vùng mở rộng Lý Sơn gắn với
các ngành kinh tế biển như khai thác dầu khí, phát triển ngư nghiệp (đánh bắt,
nuôi trồng thủy - hải sản, phát triển các nhành dịch vụ trên biển…).
Do chưa có được một kế hoạch quản lí tổng hợp cho toàn vùng nên việc
sử dụng nguồn tài nguyên của khu vực còn tỏ ra mất cân đối một cách nghiêm
trọng. Đây cũng là nguyên nhân đe doạ, dẫn đến sự suy giảm tính đa dạng cao
của khu vực.
1.2. Đa dạng sinh học biển ở Việt Nam
Biển Việt Nam có vùng lãnh hải gắn với bờ biển rộng nên HSTB cũng rất
phong phú, có 20 kiểu hệ sinh thái điển hình, có tính đa dạng sinh học và năng
suất sinh học cao.Trong vùng biển nước ta đã phát hiện được khoảng 11.000 loài
sinh vật cư trú trong các vùng đa dạng sinh học biển khác nhau. Các kết quả
nghiên cứu được tập hợp từ các nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu thể hiện
qua bảng 1.1 sau.
1
Bảng 1.1. Thành phần loài sinh vật biển đã biết
TT
1
2
3
Tuyến trùng biển
300
Giun sán ký sinh biển
190
Giáp xác
1.500
Thân mềm
2.500
Da gai
350
Giun nhiều tơ
700
Tôm biển
225
Cá biển
2.458
Rắn biển
15
Rùa biển
5
Chim nước
43
Thú biển
25
(Nguồn: Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật, 2012 )
1.3. Hiện trạng bảo tồn đa dạng sinh học biển của Việt Nam
Khoảng 1/5 dân số Việt Nam sống dựa vào đánh bắt thủy sản để sinh sống
và các hoạt động này cũng đóng góp một phần rất lớn cho nhu cầu thực phẩm
của nhân dân và xuất khẩu. Phương thức đánh bắt hủy diệt, phát triển kinh tế và
các ngành nghề một cách bất hợp lý… cộng với ý thức kém của con người đã
172
48
49
4
Rong biển
110
5
Nguồn giống
32
6
Giun nhiều tơ
28
7
Giáp xác
18
8
7
0.05929487
2
0.11858974
4
lnPi
-1.29
-2.57
-2.54
-(Pi*lnPi)
0.35
0.2
0.19979515
-1.735670003
0.305967468
-2.970414466
0.152328947
-3.103945858
0.139279622
-3.54577861
hình thành vùng đệm, dự kiến thành lập ban quản lý KBT theo phương pháp bảo
tồn tại chỗ. Tuy nhiên, do chưa có quyết định thành lập nên chưa thể tiến hành
đưa vào quy hoạch quản lý, sử dụng và khai thác. Bên cạnh đó, các hoạt động
khai thác hải sản của người dân vẫn diễn ra, hoạt động khai thác san hô, khai
thác rong biển quá mức vẫn còn xảy ra trên vùng biển này. Việc bảo tồn ĐDSH
ở đây chưa được thực hiện đầy đủ và quản lý đúng mức nên gây suy giảm
ĐDSH đáng kể. Công tác quản lý, bảo tồn ĐDSH tại đây chưa được đánh giá
đúng mức.
4
Hình 2.1. Bản đồ phân bố các hệ sinh thái KKT Dung Quất
5
2.1.2. Đặc điểm quần xã thực vật phù du
2.1.2.1. Thành phần loài và đặc trưng khu hệ của TVPD ở KKT Dung Quất
Kết quả phân tích các mẫu TVPD thu thập ở vùng biển KKT Dung Quất
(Quảng Ngãi) qua 2 lần khảo sát đã xác định được tổng cộng 172 loài thuộc 42
họ với 63 chi trong đó có 107 loài tảo silic (chiếm 62,2%); 58 loài tảo giáp
(chiếm 33,7%) và 07 loài tảo lam (chiếm 4,1%). Nhìn chung, thành phần TVPD
ở vùng biển KKT Dung Quất khá phong phú và đa dạng, sự phân bố số lượng
loài có sự sai khác khá lớn.
Về đặc trưng phân bố của khu hệ của TVPD ở vùng nghiên cứu: khu hệ
TVPD của vùng biển này được hình thành bởi các nhóm loài: Nhóm loài ven bờ,
biển ấm; Nhóm loài biển khơi tính ấm; Nhóm loài phân bố rộng toàn cầu.
2.1.2.2. Phân bố TVPD ở vùng nghiên cứu
a. Phân bố thành phần loài và tính đa dạng TVPD
Dây sống (Chordata) có 2 loài chiếm 3,8% và ngành Thân mềm (Mollusca) có 3
loài chiếm 5,7% và ngành Chân khớp (Arthropoda) có 43 loài chiếm tỷ lệ
81,1%. Kết quả được thể hiện qua biểu đồ hình 2.3 sau:
Hình 2.3. Tương quan tỷ lệ các loài ĐVPD tại KKT Dung Quất
Đặc trưng khu hệ gồm các nhóm sinh thái: Nhóm loài ven bờ nhiệt đới;
Nhóm loài biển khơi thích nghi rộng; Nhóm loài phân bố rộng.
2.1.3.2. Mật độ cá thể ĐVPD tại KKT Dung Quất
Mật độ cá thể ĐVPD tương ứng với số lượng loài thể hiện trên từng mặt
cắt: Tại vị trí mặt cắt số IV có số lượng loài và mật độ cá thể cao nhất, tại vị trí
số VI có số lượng loài thấp nhất và mật độ cá thể cũng tương đối thấp (100 cá
thể/m3). Mật độ cá thể thấp nhất tại vị trí mặt cắt số II (chỉ có 90 cá thể/m 3). Kết
quả được thể hiện qua biểu đồ hình 2.4 sau.
7
Hình 2.4. Tương quan giữa số lượng và mật độ cá thể ĐVPD trên từng mặt cắt
2.1.4. Đặc điểm nguồn giống tại KKT Dung Quất
2.1.4.1. Thành phần loài
Kết quả khảo sát vùng biển KKT Dung Quất trong 2 đợt vào tháng
02/2012 và tháng 9/2012 đã phát hiện 15 loài trứng cá và cá bột. Bên cạnh đó,
đề tài cũng xác định được 17 loài giáp xác (tôm, cua).
2.3.4.2. Mật độ và phân bố
Nguồn giống cá con được thể hiện qua số lượng loài và mật độ cá thể trên
từng mặt cắt: Tại vị trí mặt cắt số II có số lượng loài và mật độ cá thể cao nhất
(11 loài với mật độ 490 cá thể/m 3) và thấp nhất là tại vị trí mặt cắt số VIII (01
loài với mật độ 10 cá thể/m3) Tương quan tỷ lệ giữa số lượng nguồn giống cá cá con và mật độ trên từng mặt cắt khảo sát được thể hiện qua biểu đồ hình 2.5
sau.
1134,5(mg); tiếp đến là loài Eunice pennata và loài Eunice tentaculata có sinh
khối tương ứng là 648,7(mg) và 648,1(mg). Thấp nhất là các loài Nephtys
hombergi có sinh khối là 52,1(mg); loài Tachytrypane sp có sinh khối là
34,4(mg) và loài Arabella sp có sinh khối là 31,7(mg) và chúng cũng là loài có
mật độ xuất hiện với tần suất trung bình trong nhóm loài.
c. Sự phân bố
Dựa vào kết quả khảo sát thấy được sự phân bố số loài giun nhiều tơ theo
từng vị trí mặt cắt: phân bố tương đối đồng đều các loài theo các mặt cắt. Trong
đợt 1 (tháng 02/2012) tại khu vực mặt cắt 6 là có mật độ cao nhất và thấp nhất là
tại mặt cắt 8. Trong đợt 2 (tháng 09/2012) mật độ cao nhất tại vị trí mặt cắt số 4
và thấp nhất là vị trí số 2. Về biến động số lượng lớn nhất tại vị trí mặt cắt số 8
trong 2 đợt có sự biến động tới 13 cá thể. Kết quả được thể hiện qua biểu đồ
hình 2.8 sau:
Hình 2.8. Tương quan giữa mật độ và vị trí mặt cắt giun nhiều tơ
2.1.5.2. Đặc điểm ngành thân mềm tại KKT Dung Quất
a. Thành phần loài thân mềm tại KKT Dung Quất
Kết quả nghiên cứu cho thấy ngành thân mềm tại KKT Dung Quất có 3
lớp, 17 bộ, 23 họ, 36 chi và 48 loài, trong đó, lớp Bivalvia (Hai mảnh vỏ) có 27
loài chiếm 56%; lớp Gastropoda (Chân bụng) có 20 loài chiếm 42%; lớp
Polyplacophora (Đa vỏ) có 01 loài chiếm 2%. Kết quả thể hiện qua biểu đồ hình
2.9 sau.
10
Hình 2.9. Tương quan giữa các lớp thân mềm tại KKT Dung Quất
b. Mật độ và sinh khối các loài thân mềm tại KKT Dung Quất
Mật độ của các loài Jouannetia cumingi (Sowerby); Barbatia virescens
Reeve và Lithiphaga malaccana (Reeve) là cao nhất với tần suất xuất hiện
tương ứng là 4 con/m2 nền đáy; 3 con/m2 nền đáy và 3 con/m 2 nền đáy. Các loài
(Lyman); Brandtothuria impatiens (Fors.); Comantheria briareus (Bell )… có
mật độ 3 con/m2, tiếp đến là các loài có mật độ trung bình là 2 con/m 2 và thấp
nhất là các loài Macrophiothrix capillarus Lyman; Diadema savignyi;
Basilometra boschmai Clark... với mật độ 01 con/m2. Về sinh khối, trọng lượng
trung bình của nhóm sao biển và hải sâm là cao nhất, các nhóm còn lại có sinh
khối trung bình và nhỏ. Các loài có sinh khối cao như là loài Holothuria scabra
Jager có sinh khối là 711,6(g); loài Culcita novaeguineae Muller & Trosch có
sinh khối là 310,8(g) và loài Goniodiscus pleyedella (Lam.) có sinh khối
156,1(g). Các loài có sinh khối nhỏ nhất như loài Ophiodera neglecta Kochler
có sinh khối 0,04(g); loài Ophiolepis superba H.L.Clark có sinh khối là 0,16(g)
và loài Ophiarachnella gorgonia (Muller et Troschel) có sinh khối 0,2(g).
c. Biến động số lượng các loài da gai
Vào tháng 2/2012 Khu vực mặt cắt khảo sát số 1,4,5 và số 6 có có số
lượng con lớn nhất và mặt cắt số 8 là thấp nhất. Vào tháng 9/2012, cao nhất là
tại các mặt cắt số 8 và số 5 và thấp nhất tại vị trí số 2. Biến động số lượng có
dao động lớn nhất tại vị trí mặt cắt số 8, vào thời điểm tháng 02/2012 thì vị trí
này có mật độ thấp nhất là 6 con, nhưng đến thời điểm tháng 9/2012 thì tại vị trí
này có mật độ cao nhất là 19. Sự dao động đột biến này có thể nói là theo tính
chất mùa vụ.
12
d. Các loài có giá trị kinh tế và các loài quý hiếm
Tại KKT Dung Quất chúng tôi xác định được một số loài Hải sâm có ý
nghĩa kinh tế và y học thuộc hai giống là giống Holothuria và giống Actinopyga.
2.1.5.4. Đặc điểm quần xã giáp xác
a. Thành phần loài giáp xác tại vùng biển Dung Quất
Kết quả qua 02 đợt khảo sát tháng 02/2012 và tháng 09/2012 đã xác định
được 18 loài giáp xác thuộc 15 họ, 02 bộ trong đó bộ Decapoda (Bộ 10 chân) có
17 loài chiếm 94,4% và bộ Stomatopoda (Bộ chân miệng) chỉ có 1 loài chiếm tỷ
VII) và trung bình là 33 loài/mặt cắt.
b. Phân bố sâu
Từ kết quả khảo sát, chúng ta thấy rằng có tới 103 loài phân bố ở vùng
triều và 82 loài phân bố ở vùng dưới triều.
2.1.6.3. Sinh khối, các loài rong biển quý hiếm tại KKT Dung Quất
a) Về sinh khối: Kết quả nghiên cứu cho thấy loài có sinh lượng cao nhất
là loài Saraassum polycystum. C.Ag có sinh lượng là 618 g/m2 và tiếp đến là loài
Spathoglossum vietnamense Phamh có sinh lượng 438g/m2; thấp nhất là loài
Amphiroa dilatata Lamouroux chỉ có sinh lượng là 5g/m2. Còn lại một số loài do
sinh lượng quá thấp nên chúng tôi chỉ xác định được thành phần định tính loài.
b) Các loài quý hiếm: Tại khu vực nghiên cứu, chúng tôi xác định được
02 loài rong quý hiếm là rong đông sao (Hypnea cornuta); rong kỳ lân
(Kappaphycus cottonii)
2.1.7. Đặc điểm quần xã san hô tại KKT Dung Quất
2.1.7.1. Thành phần loài san hô tại KKT Dung Quất
Qua hai đợt khảo sát vào tháng 02 năm 2012 và tháng 9 năm 2012 tại
KKT Dung Quất đã xác định được có 02 bộ, 10 họ, 23 chi và 49 loài trong đó bộ
Helioporacae (San hô xanh) có 01 họ là họ Heliopora có số lượng 01 loài chiếm
14
tỷ lệ 2% và bộ Scleractinia (San hô cứng) có 9 họ chiếm tỷ lệ 98%; nhiều nhất là
các Họ Acroporidae và Họ Faviidae có số lượng 17 loài chiếm tỷ lệ 34,7%; tiếp
đến là họ Poritidae có số lượng 5 loài chiếm tỷ lệ 10,2%; các họ Agariciidae,
Mussidae và họ Siderastreidae có số lượng là 02 loài chiếm tỷ lệ 4,1%; còn lại
các họ Merulinidae, Oculinidae và họ Pocillloporidae có số lượng ít nhất là 01
loài chiếm tỷ lệ 2%. Kết quả thể hiện trong biểu đồ hình 2.13 sau:
Hình 2.13. Tương quan tỷ lệ giữa các loài san hô tại KKT Dung Quất
2.1.7.2. Độ phủ của san hô tại KKT Dung Quất
triển ĐDSH.
2.1.8. Đặc điểm quần xã cá biển tại KKT Dung Quất
2.1.8.1. Thành phần loài cá biển tại KKT Dung Quất
Kết quả của 2 đợt khảo sát tháng 02/2012 và tháng 9/2012 đã phát hiện
được tổng số 74 loài cá thuộc 37 họ. Các họ có số loài lớn chiếm ưu thế là họ cá
Bàng chài Labridae có 9 loài chiếm 12,2% tổng số loài đã được phát hiện, họ cá
Thia Pomacentridae có 7 loài (9,5%), họ cá Bướm Chaetodontidae có 6 loài
(8,1%), họ cá Sơn Apogonidae, Họ Cá Mối Synodontidae, Họ cá Mó Scaridae,
Họ cá Phèn Mullidae, Họ cá Mao quỷ Synanceiidae, Họ cá Lú Pinguipedidae
mỗi họ có 3 loài (mỗi họ chiếm 4,1%). Phần lớn các họ còn lại có số lượng loài
từ 1 -2 loài. Kết quả thể hiện trong biểu đồ hình 2.14 sau.
Hình 2.14. Các họ có số lượng loài cao trong khu hệ cá KKT Dung Quất
2.1.8.2. Biến động trong cấu trúc quần xã cá biển KKT Dung Quất
16
Về phân bố số lượng loài cá tại các mặt cắt khảo sát trên bảng 2.31 đã thể
hiện sự phân bố đồng đều giữa các mặt cắt khảo sát. Đợt khảo sát tháng 2/2012,
mặt cắt MC 6 có số loài cao nhất 9 loài; tiếp đó là các mặt cắt MC 4, MC 5, MC
7, MC 8 (8 loài). Trong đợt khảo sát tháng 09/2012, Các mặt cắt có số loài
tương đương nhau (8 loài). Kết quả thể hiện qua biểu đồ hình 2.15 sau.
Hình 2.15. Tương quan giữa nhóm cá biển theo các mặt cắt khảo sát
2.1.8.3. Đặc điểm phân bố, nguồn lợi và các loài quý hiếm
a. Đặc điểm phân bố,
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu về khu hệ cá biển KKT Dung Quất thấy
rằng nhóm loài có giá trị kinh tế cao, phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu tập trung
vào các loài có kích cỡ lớn, giá trị thương phẩm cao thuộc các họ cá Mú
(Serranidae), cá Kẽm (Haemulidae), cá Hồng (Lutjanidae). Các nhóm loài này
TSS
(mg/l)
N-NH4+
(µg/l)
Clorua
(g/l)
Dầu
(mg/l)
BOD5
(mg/l)
M
29,3
17,8
9,96
0,11
1,20
Đ
31,8
13,9
10,22
0,02
0,96
M
46,3
III
Đ
39,2
8,7
17,81
0,76
M
36,1
9,2
17,79
0,02
0,89
IV
Đ
37,5
10,8
17,90
0,81
M
28,3
15,4
18,27
0,06
0,85
V
Đ
29,7
9,3
18,41
0,02
0,78
VIII-1
Đ
26,1
9,8
18,51
0,72
M
25,2
8,2
18,28
0,02
0,75
VIII-2
Đ
25,7
9,5
18,50
0,63
Căn cứ vào bảng 2.2 có thể thấy các thông số của nước như là dầu, clorua,
Amoni, BOD và chất rắn lơ lửng vẫn còn ở trong giới hạn chỉ tiêu cho phép.
Phân tích các đơn vị coliform trong nước biển ven bờ được thể hiện qua bảng
2.3 sau.
I- 1
18
Bảng 2.3. Biểu phân tích coliform trong nước biển ven bờ KKT Dung Quất
STT
VI M
30
4
I-2 Đ
50
14
VI Đ
10
5
II M
410
15
VII M
20
6
VIII-1 Đ
20
9
IV M
20
19
VIII-2 M
20
STT
Ký hiệu mẫu
1
I-1 M
2
CFU/100ml
hiệu
13
14
15
16
KH mẫu
I1-M
I1-Đ
I2-M
I2-Đ
II-M
II-Đ
III-M
III-Đ
IV-M
IV-Đ
V-M
V-Đ
VI-M
VI-Đ
VII-M
VII-Đ
Cd (mg/l)
0,45
0,44
0,44
0,34
0,23
0,21
0,051
0,058
0,038
0,042
0,028
0,031
0,025
0,027
0,031
0,035
0,025
0,027
0,026
0,027
0,023
0,025
19