Đồ án tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Thò Vu Lan
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
o0o
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT TÀI NGUYÊN ĐA DẠNG SINH
HỌC TẠI THẢO CẦM VIÊN SÀI GÒN VÀ
KHU DU LỊCH VĂN HOÁ ĐẦM SEN. ĐỀ
XUẤT BIỆN PHÁP BẢO TỒN
Ngành học : MÔI TRƯỜNG
Mã ngành : 108
GVHD: Th.S LÊ THỊ VU LAN
SVTH : HỒ THỊ TRƯỜNG
MSSV: 103108209
TP.Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2007
SVTH: Hồ Thò Trường – MSSV: 103108209 1
Đồ án tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Thò Vu Lan
CHƯƠNG I
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1. Đặt vấn đề
Việt Nam là nước được thiên nhiên ưu đãi về sự phong phú, đa dạng của các
hệ sinh thái, đa dạng của các loài, đa dạng của tài nguyên di truyền, gọi chung là
đa dạng sinh học (ĐDSH). Các kết quả điều tra cho thấy, nước ta có khoảng 12.000
loài thực vật, trong đó đã đònh tên được khoảng 7.000 loài, 27 loài thú, 800 loài
chim, 180 loài bò sát, 80 loài lưỡng cư, 2470 loài cá, 5.500 loài côn trùng Tính
độc đáo của ĐDSH này là khá cao; 10% số loài thú, chim và cá của Thế giới tìm
thấy ở Việt Nam, hơn 40% số loài thực vật thuộc loài đặc hữu, không tìm thấy ở
nơi nào khác ngoài Việt Nam.
Về giá trò kinh tế, các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản thực
chất là khai thác từ nguồn ĐDSH, ước tính hàng năm đem lại cho đất nước khoảng
1.2. Mục đích nghiên cứu
• Khảo sát, điều tra hiện trạng tài nguyên đa dạng sinh học tại Thảo Cầm
Viên Sài Gòn và Khu Du Lòch Văn Hoá Đầm Sen.
• Đề xuất các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học tại hai đòa điểm nghiên
cứu là Thảo Cầm Viên Sài Gòn và Khu Du Lòch Văn Hoá Đầm Sen,
góp phần vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học, đặc biệt là bảo tồn
các loài động, thực vật quý hiếm đang trong tình trạng bò tuyệt chủng,
nhằm mục đích cân bằng sinh thái và phát triển bền vững.
1.3. Mục tiêu của đề tài
• Phản ánh được hiện trạng tài nguyên đa dạng sinh học tại Thảo Cầm
Viên Sài Gòn và Khu Du Lòch Văn Hoá Đầm Sen, để từ đó đề ra biện
pháp bảo tồn hợp lý.
SVTH: Hồ Thò Trường – MSSV: 103108209 3
Đồ án tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Thò Vu Lan
• Lên danh sách các loài động, thực vật quý hiếm, đang trong tình trạng
bò tuyệt chủng để nhằm có những giải pháp bảo tồn, chăm sóc phù hợp,
góp phần vào bảo tồn đa dạng sinh học ở Thành phố Hồ Chi Minh nói
riêng và Việt Nam nói chung.
• Đề tài nghiên cứu mang tính thiết thực, khả thi có thể áp dụng trong
thực tế. Qua việc bảo tồn đa dạng sinh học kết hợp với công tác tuyên
truyền nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng phải bảo vệ các
loài, từ đó phát huy vai trò của cộng đồng, của các tổ chức cá nhân
tham gia vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học, tạo tiền đề cho sự phát
triển trong tương lai.
• Tạo cơ sở cho việc phối hợp quản lý và giải quyết đồng bộ các vấn đề
môi trường chung của Thành phố và các khu vực lân cận.
1.4. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Phạm vi nghiên cứu đề tài ở hai đòa điểm : Thảo Cầm Viên Sài Gòn và
Khu Du Lòch Văn Hoá Đầm Sen thuộc Thành phố Hồ Chí Minh.
1.5. Nội dung của đề tài
Đòa sinh học
Sinh thái học
Các nghiên cứu về môi trường
Kinh tế môi trường
Đạo đức môi trường
Luật môi trường
Sinh học tiến hoá
Di truyền học
Sinh học phân tử
Xã hội học
Phân loại học
Những nghiên cứu khác về sinh
học,
vật lý và xã hội học
Nông nghiệp
Quản lý ngư nghiệp
Rừng
Quy hoạch sử dụng đất
Quản lý các quần thể sinh vật nuôi
Vườn thực vật
Quản lý các vùng tự nhiên
Công viên
Khu dự trữ săn bắn
Các nơi cư trú
Phát triển bền vững
Quản lý động vật hoang dã và
những hoạt động quản lý tài
nguyên khác
Kinh nghiệm thực tế và
những yêu cầu nghiên cứu
đánh giá được diễn biến đa dạng sinh học.
SVTH: Hồ Thò Trường – MSSV: 103108209 7
Đồ án tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Thò Vu Lan
1.6.2.4. Phương pháp xử lý số liệu
Đề tài dùng phần mềm máy tính Excel để tổng hợp số lượng thực vật, động
vật tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn và Khu Du Lòch Văn Hoá Đầm Sen.
SVTH: Hồ Thò Trường – MSSV: 103108209 8
Đồ án tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Thò Vu Lan
CHƯƠNG II
CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1. Các điều kiện tự nhiên
2.1.1. Vò trí đòa lý
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong toạ độ đòa lý :
- 10
0
38
’
– 10
0
10
’
vó độ Bắc
- 106
0
2
’
- 106
0
45
C (tháng 4/1912)
- Nhiệt độ thấp tuyệt đối : 13,8
0C
(tháng 1/1937)
- Tổng nhiệt độ cao nhất : 9.677,4
0
C/năm
Điều dáng lưu ý đối với nhiệt độ là sự giao động nhiệt độ trong ngày. Biên độ
nhiệt đạt đến 10
0
C/ngày đêm. Vì vậy, mặc dù ban ngày trời nắng nóng, ban đêm
vào sáng sớm vẫn có sương. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển cây trồng và
xanh tốt quanh năm.
Nhiệt độ không khí trung bình ngày trong năm ở nội thành Tp.Hồ Chí Minh cao
hơn các nơi khác trong khu vực đòa bàn kinh tế phía Nam 1-1,5
0
C
Độ ẩm : Độ ẩm trung bình ngày trong cả năm là 70 - 80%. Số liệu thống kê
từ năm 1952-1988 cho thấy độ ẩm bình quân hàng tháng dao động từ 62%
đến 84%. Các tháng mùa mưa độ ẩm khá cao: 80-90%. Các tháng mùa khô
60-75%. Ban ngày độ ẩm không khí xuống thấp từ 1-2 giờ chiều và tăng lên
từ 3-7 giờ sáng.
Lượng bốc hơi: Lượng bốc hơi trung bình 3-5 mm/ngày. Mùa khô lượng bốc
hơi khá cao, từ 100-180 mm/tháng. Cán cân nước tự nhiên bò thiếu hụt
nghiêm trọng trong mùa khô.
Lượng mưa: Thành phố có 2 mùa mỗi năm: Mùa khô và mùa mưa. Mùa
mưa thường bắt đầu từ tháng 5 hàng năm và chấm dứt vào tháng 10. Mùa khô
bắt đầu từ tháng 11 cho đến tháng 4 năm sau. giữa mùa khô thường có hạn
ngắn kéo dài 5 đến 10 ngày. Lượng mưa vào mùa mưa chiếm 80-85% tổng
lượng mưa hàng năm. Mưa lớn tập trung vào tháng 6 và tháng 9, trung bình từ
Dung hợp thành, lưu vực khoảng 23.000 km. Đoạn chảy qua Tp.Hồ Chí Minh để ra
biển dài khoảng 35 km (không tính đoạn hợp lưu từ Nhà Bè). khu vực Đồng Nai,
do đòa hình bò phân cách mạnh, có xu hướng cao phía Bắc và thấp dần về phía Nam
nên các hệ thống sông chính của lưu vực đều có xu hướng dòng chảy Bắc- Nam và
Tây Bắc- Đông Nam.
SVTH: Hồ Thò Trường – MSSV: 103108209 11
Đồ án tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Thò Vu Lan
Sông Sài Gòn: Bắt đầu từ vùng Hớn Quản, qua Thủ Dầu Một tới Sài Gòn dài
khoảng 200 km, có nhiều chi lưu làm giảm hậu quả lũ lụt.
Quá trình xâm nhập mặn trên các sông Đồng Nai, Sài Gòn được cải thiện liên
tục nhờ sự vận hành và khai thác các hồ chứa nước ở thượng nguồn, điều tiết lượng
chảy và tăng lượng xả trong các tháng mùa khô, đặc biệt là các tháng 3,4,5 trên
sông Sài Gòn có công trình hồ chứa nước Dầu Tiếng, trên sông Đồng Nai có công
trình thuỷ điện Trò An, hai công trình này góp phần điều tiết dòng chảy. Lưu lượng
xả trong mùa khô làm cho vùng thấp ven sông Đồng Nai và Sài Gòn được ngọt hoá
khoảng 20.000 ha.
Sông Nhà Bè: Chảy ra biển qua hai ngả: Sông Soài Rạp và sông Lòng Tàu.
Sông Soài Rạp đổ ra cửa Soài Rạp dài 59 km, tốc độ chảy tương dối chậm, lòng
sông tương đối cạn. Sông Lòng Tàu đổ ra vònh Gành Rái dài 56 km, rộng trung
bình, lòng sông sâu.
Ngoài các sông kể trên, thành phố còn có hệ thống sông rạch chằng chòt, nhất
là các huyện phía nam như: Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ. Các kênh rạch này
đóng vai trò trong việc tiêu thoát nước, giao thông vận tải… những kênh rạch chính
là: Kênh Bến Nghé, kênh Tẻ, kênh Đôi, kênh Ngang, kênh Tàu Hủ, kênh Tham
Lương, kênh Nhiêu Lộc, kênh Xáng, kênh An Hạ, rạch Thò Nghè, rạch Chợ Đệm,
rạch Cần Giuộc.
Với mạng lưới sông rạch như vậy và chế độ bán nhật triều không đều của
Biển Đông đã tạo nên sự phức tạp trong chế độ thuỷ văn, thuỷ lực vùng cửa sông
Đồng Nai, Sài Gòn. Tuy nhiên nó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển
giao thông đường thuỷ và phát triển thuỷ sản.
đồi gò và triền, được tạo thành cách nay hàng chục vạn năm.
Trầm tích Holoxen: Còn gọi là trầm tích phù sa trẻ, tạo thành cách nay khoảng
5.000 năm, có nguồn gốc biển, sông biển, sông, vũng, vònh, đầm lầy.
SVTH: Hồ Thò Trường – MSSV: 103108209 13
Đồ án tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Thò Vu Lan
Thành Phố Hồ Chí Minh có đặc điểm của vùng đất Châu Thổ, phần nội
thành nằm trên phù sao cổ, được phủ bởi phù sa mới (Thủ Đức, Hóc Môn, Bình
Chánh. Ngoại thành chủ yếu là đất phù sa.
2.1.6. Thảm thực vật
Thảm thực vật nó phản ánh tổng hợp các điều kiện tự nhiên vùng đó cho
nên tìm hiểu quy luật phân bố các quần xã thực vật sẽ giúp chúng ta nắm được đặc
điểm môi trường vùng nghiên cứu.
2.1.6.1. Các thảm thực vật nguyên thuỷ
Sài Gòn xưa khi con người mới đến khai phá là một vùng hoang vu, cây cối
rậm rạp, sinh cảnh phong phú, khác biệt tuỳ đòa hình cao thấp, tính chất đất, nước
của từng khu vực đã tồn tại các HST thực vật chính sau:
2.1.6.1.1. Hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới
Hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới phân bố ở những nơi có đòa hình cao, phát
triển trên đất đỏ feralite và đất xám có nguồn gốc trầm tích phù sa cổ. Đây là kiểu
rừng kín rậm cây lá rộng, nửa thường xanh, trong đó ưu thế là các loại cây họ Sao
Dầu (Dipterocarpacede) là họ đặc hữu của khu vực n Độ – Mã Lai, mà phần lớn
là các loại cây thường xanh hỗn giao với các cây của họ Đậu (Leguminosae) có gỗ
cứng, gỗ quý (Afzelia, Dalbergia, Pterocarphu) và nhiều loại Bằng Lăng
(Lagerstroemia spp) rụng lá trơ cành trong mùa khô. Những kiểu rừng kín rậm này
là mục tiêu của cuộc chiến tranh hoá học của Mỹ đã sử dụng những chất diệt cỏ
làm rụng lá, với nồng độ cao, rải đi rải lại nhiều lần nhằm phá huỷ tán rừng.
2.1.6.1.2. Hệ sinh thái rừng úng phèn, nước lợ
Thảm thực vật gồm một số quần hợp chính:
- Dừa lá phân bố theo kênh rạch, vùng cửa sông, nhiều khi lan rộng thành
những khu rừng dừa lá bạt ngàn.
sông rạch chằng chòt, các loài thực vật thích nghi với môi trường chua phèn nước lợ
tồn tại khá phong phú trên các bưng phèn, thực vật đặc trưng có năng, lác, đưng…
Vùng nước lợ có dừa nước, chuối nước, ôrô, mái.
SVTH: Hồ Thò Trường – MSSV: 103108209 15
Đồ án tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Thò Vu Lan
Vùng ngập mặn Cần Giờ bò huỷ diệt trong chiến tranh nay cũng đã được
phục hồi. Rừng sác Cần Giờ có một diện tích khá lớn (trên 33.000 ha).
2.3. Hiện trạng kinh tế – xã hội
2.3.1. Dân số và mật độ dân cư
Dân số thành phố (năm 2003) là 5.630.192 người, trong đó nội thành 12
quận là 3.673.595 người, nội thành mở rộng 5 quận : 897.281 người, ngoại thành 5
Huyện: 1.059.316 người. Mật độ dân cư toàn thành phố : 2687 người/km
2
, nội
thành: 25.761 người/km
2
, ngoại thành:641 người/km
2
.
2.3.1.1 Nội thành:
Bảng 1: Diện tích và dân số nội thành TP.Hồ Chí Minh
STT Các quận Diện tích(km
2
) Dân số (người) Mật độ dân cư
(người/km
2
)
01 Quận 1 7,73 232.186 30.037
02 Quận 3 4,92 223.274 45.381
03 Quận 4 4,18 202.415 48.425
03 Quận 9 114,00 164.891 1.446
04 Quận 12 52,78 227.930 4.318
05 Quận Thủ Đức 47,76 247.698 5.186
Tổng số 299,97 897.281 2.991
Nguồn : Chi Cục thống kê TP.Hồ Chí Minh, năm 2003
Số liệu bảng 2 cho thấy:
Ngoài quận Thủ Đức, do có thò trấn Huyện lỵ cũ nên là điểm tập trung đông dân cư
từ trước (5.186 người/km
2
), các quận còn lại chưa thể hiện rõ là vùng đô thò, mật độ
dân cư còn thấp nhất là quận 9 (1.446 người/km
2
) và cao nhất là quận 12 (4.318
km
2
).
2.3.1.3. Ngoại thành
2.3.1.3.1. Huyện Cần Giờ
Nằm ở phía Đông Nam Thành phố Hồ Chí Minh, cách trung tâm thành phố
khoảng 50km theo đường chim bay, có đường bờ biển dài hơn 20km theo hướng
Tây Nam – Đông Bắc, bao gồm 7 xã: Cần Thạnh, Long Hoà, Thạnh An, Lý Nhơn,
Tam Thôn Hiệp, An Thới Đông, Bình Khánh, được bao bọc trong vùng các cửa
sông Lòng Tàu, Cái Mép, Gò Gia, Thò Vải, Soài Rạp, Đồng Tranh. Tổng diện tích
của Huyện Cần Giờ là 704.22km
2
, dân số 64.183 người, dân cư thưa thớt, bình quân
91 người/km
2
. Các điểm dân cư hiện hữu vẫn mang tính chất dân cư nông thôn.
Việc phân bố dân cư không đồng đều, chủ yếu tập trung ở 2 xã là Cần Thạnh và
04 Nhà Bè 100,41 68.856 686
05 Cần giờ 704,22 64.183 91
Tổng số 1652,88 1.059.316 641
Nguồn : Chi Cục thống kê TP.Hồ Chí Minh, năm 2003
2.3.2. Hiện trạng sử dụng đất
Đất nông nghiệp: Tổng diện tích là 91.573 ha, trong đó chiếm diện tích
nhiều nhất là Huyện Củ Chi với 33.155 ha. Chỉ có 9/17 quận nội thành là còn đất
dành nông nghiệp. Thấp nhất là quận Tân Bình với diện tích là 186 ha.
Chiếm diện tích nhiều nhất trong đất đất nông nghiệp là đất trồng cây hàng
năm (64.659 ha) và đất ruộng lúa, lúa màu (51.252 ha), ít nhất là đất cỏ dành cho
chăn nuôi chỉ có 274 ha, chủ yếu tập trung ở Củ Chi.
SVTH: Hồ Thò Trường – MSSV: 103108209 18
Đồ án tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Thò Vu Lan
Đất lâm nghiệp: có diện tích là 34.933 ha. Ngoài quận 9 có khoảng 25 ha
rừng trồng và rừng sản xuất, thì các quận nội thành không có rừng. Chiếm diện tích
lớn nhất là Cần Giờ với 33.279 ha. Còn lại phân bố ở 3 huyện ngoại thành là Củ
Chi (528 ha), Bình Chánh (1.041 ha) và Hóc Môn (60ha).
Đất khu dân cư: Tập trung ở khu vực nội thành, trung tâm các xã Huyện
ngoại thành có diện tích 18.224 ha, tăng 4,83 ha so với năm 1995.
Đất chuyên dùng: Cho xây dựng, giao thông, thuỷ lợi, làm muối… chiếm
26.119 ha, tăng 7,114 ha so với năm 1995
Đất chưa sử dụng: Bao gồm cả sông suối chiếm 39.902 ha
2.4. Hiện trạng cảnh quan môi trường đô thò và nông thôn
Sài Gòn – Thành Phố Hồ Chí Minh đã từng là “hòn ngọc Viễn Đông” với hệ
thống giao thông, kênh rạch không gian công cộng… Được quy hoạch và phát triển
khá ấn tượng tuy nhiên cho đến nay cảnh quan đã bò phá vỡ. Nguyên nhân cơ bản
là do quá trình đô thò hoá với sự tăng trưởng hỗn loạn của mô hình nhà ống riêng lẻ
cho dân (hộ gia đình) tự xây dựng từ hơn 10 năm nay.
Phần lớn nhà xây dựng tự phát cao, thấp, lồi lõm, kiến trúc cổ đan xen với
kiến trúc hiện đại, vỉa hè trước nhà được sử dụng làm nơi kinh doanh, buôn bán tạo
là những ngành gây ô nhiễm tiềm tàng. Môi trường nước sông cũng bò ô nhiễm.
Nguồn gây ô nhiễm chủ yếu vẫn là các nguồn thải từ hàng ngàn cơ sở công nghiệp
ở các KCN ( Khu công nghiệp) và hàng chục ngàn cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp ngoài KCN trong lưu vực Đồng Nai. Chất lượng không khí suy giảm do khí
thải của các nhà máy, các phương tiện giao thông. Nhiều chỉ tiêu đã vượt quá các
giới hạn cho phép trong đó nồng độ bụi ở TP.Hồ Chí Minh thường xuyên cao hơn
tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 – 2,8 lần.
Thành phố Hồ Chí Minh là nơi tập trung đông dân cư nhất trong cả nước, bao
gồm cư dân đến từ các đòa phương khác trong cả nước, do đó việc giáo dục cho
SVTH: Hồ Thò Trường – MSSV: 103108209 20
Đồ án tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Thò Vu Lan
người dân kiến thức về thiên nhiên, động vật, cây cỏ… có tác dụng to lớn trong
công tác bảo tồn đa dạng sinh học.
Về sinh thái cảnh quan, giữa thành thò và vùng ven còn tồn tại nhiều sự khác
biệt. Đó là sự khác biệt giữa một nơi từ lâu đã được đô thò hóa hoàn toàn và một
nơi là nông thôn đang trong quá trình đô thò hoá, giữa nơi có mật độ dân cư rất cao,
bình quân 26.761 người/km
2
– cao hơn mật độ khuyến cáo của thế giới (10.000
người/km
2
) với một nơi mật độ dân cư rất thấp, chỉ 641 người/km
2
; giữa một nơi mà
không khí, đất, nước đã bò ô nhiễm nặng nề với nơi môi trường còn trong lành. Và
đặc biệt là giữa một nơi thiếu đất để phát triển mảng xanh với một nơi còn tồn tại
nhiều mảng xanh có ý nghóa môi trường đối với Thành phố.
Vai trò của đa dạng sinh học trở nên quan trọng và cần thiết khi môi trường
Thành phố ngày càng bò ô nhiễm và tốc độ đô thò hoá ngày càng cao. Việc giữ gìn
và phát triển đa dạng sinh học là một trong các vấn đề cần thiết phải quan tâm
3.1.2. Đa dạng loài
Đa dạng loài là số lượng và sự đa dạng của các loài được tìm thấy tại
một khu vực nhất đònh tại một vùng nào đó.
Đa dạng loài là tất cả sự khác biệt trong một hay nhiều quần thể của
một loài cũng như đối với quần thể của các loài khác nhau.
Đa dạng sinh học toàn cầu thường được hiểu là số lượng các loài thuộc
các nhóm phân loại khác nhau trên toàn cầu. Ước tính đến thời điểm này
đã có khoảng 1,7 triệu loài đã được xác đònh; còn tổng số loài tồn tại trên
trái đất vào khoảng 5 triệu đến gần 100 triệu. Theo như ước tính của công
tác bảo tồn, có khoảng 12,5 triệu loài trên trái đất. Nếu xét trên khái niệm
số lượng loài đơn thuần, thì sự sống trên trái đất chủ yếu bao gồm côn
trùng và vi sinh vật.
Bảng 4:. Sự phong phú thành phần loài sinh vật ở Việt Nam
Nhóm sinh vật
Số loài đã
được xác
đònh ở
Việt Nam
(VN)
Số loài
có trên
thế giới
(TG)
Tỷ lệ (%)
giữa
VN/TG
1. Vi tảo( Micro-
algae)
- Nước ngọt 1.438 15.000 9,6%
- Biển 537 19.000 2,8%
6. Giun sán ký
sinh ở gia súc
161 1.600 10%
7. Côn trùng 7.750 250.000 3,1%
8. Cá (Fish) 19.000 13%
- Nước ngọt Trên 700
- Biển 2.458
9. Bò sát 296 6.300 4,7%
- Bò sát biển 21
10. Lưỡng cư 162 4.184 3,8%
11. Chim (Bird) 840 9.040 9,3%
12. Thú 310 4.000 7,5%
- Thú biển 25
Nguồn : Cục Bảo vệ Môi trường. Viện Sinh Thái và Tài Nguyên sinh vật,
Cục Bảo vệ và Phát triển Nguồn lợi Thuỷ sản. Phạm Bình Quyển, 2005
3.1.3. Đa dạng di truyền
Đa dạng di truyền là sự đa dạng về thành phần gen giữa các cá thể
trong cùng một loài và giữa các loài khác nhau; là sự đa dạng về gen có
thể di truyền được trong một quần thể hoặc giữa các quần thể.
Đa dạng di truyền là biểu hiện sự đa dạng của các biến dò có thể di
truyền trong một loài, một quần xã hoặc giữa các loài, các quần xã. Xét
cho cùng, đa dạng di truyền chính là sự biến dò của sự tổ hợp trình tự của
bốn cặp bazơ cơ bản, thành phần của axit nucleic, tạo thành mã di truyền.
SVTH: Hồ Thò Trường – MSSV: 103108209 24
Đồ án tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Thò Vu Lan
Tập hợp các biến dò gen trong một quần thể giao phối cùng loài có được
nhờ chọn lọc. Mức độ sống sót của các biến dò khác nhau dẫn đến tần suất
khác nhau của các gen trong tập hợp gen. Điều này cũng tương tự trong
tiến hoá của quần thể. Như vậy, tầm quan trọng của biến dò gen là rất rõ
ràng: Nó tạo ra sự thay đổi tiến hoá tự nhiên cũng như chọn lọc nhân tạo.