PHÒNG GD&ĐT TIÊN PHƯỚC
TRƯỜNG TIỂU HỌC TIÊN AN
CHUYÊN ĐỀ:
RÈN KĨ NĂNG VIẾT VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
I/ Căn cứ xây dựng chuyên đề:
- Tài liệu hướng dẫn giảng dạy Tiếng Việt Tiểu học (Bộ GD&ĐT)
- Tài liệu đổi mới phương pháp dạy học Tiếng Việt Tiểu học (Bộ GD&ĐT)
- Sách giáo khoa, giáo viên môn Tiếng Việt (Nhà xuất bản Giáo dục)
- Tình hình dạy học Tiếng Việt tại nhà trường.
II/ Thực trạng:
Ngoài một số giáo viên, học sinh dạy và học tốt môn Tập làm văn thì thực trạng
dạy học Tập làm văn còn một số tồn tại như chất lượng bài viết chưa cao, kĩ năng nói,
trình bày của học sinh hạn chế; bài viết còn nhiều lỗi diễn đạt, dùng từ, chính tả,…Cụ
thể:
1/ Một số lỗi thường gặp ở bài nói, viết ở học sinh:
a/ Bài văn ngắn, khô khan, nghèo cảm xúc, mang tính liệt kê,…Ví dụ:
- Cái cặp của em nhiều màu. Mặt trước có siêu nhân rất đẹp. Nó có ba ngăn.
Một ngăn em để bút, một ngăn em để vở, một ngăn để sách.
- Cây bàng cao đến mái nhà. Thân nó to. Cây bàng có nhiều cành. Lá màu
xanh. Quả ăn có vị chát.
Đoạn văn tạm được vì đúng ý. Câu văn rõ nghĩa. Nhưng miêu tả như vậy chỉ
cần vài câu là tả xong một đồ vật, một cây. Và nó cũng rất chung chung, không làm
nổi bật được nét riêng của đồ vật đó, cây đó.
b/ Dùng từ đặt câu, diến đạt, dấu câu, chính tả,…Ví dụ:
Quả bàng to như con lợn con.(Hình ảnh)
Mắt của nó màu đen. Râu của nó dài. Lông thì đen…(Lặp từ, liệt kê)
Cún con mới dễ thương làm sao. (!) (Dấu câu)
Cây bàng cao thân cây. Xù xì (Dấu câu)
Con mèo có bộ lông trắng tinh.(dùng từ)
Có nhiều cành, nhiều lá rậm rạp. (Thiếu thành phần chính)
1. Các nhóm kĩ năng viết văn:
Kĩ năng viết bài tập làm văn nhằm rèn luyện cho học sinh khả năng viết bài văn
theo đề bài đã cho và thuộc các thể loại, kiểu bài khác nhau. Bài tập làm văn viết là
kết tinh nhiều mặt của kĩ năng, năng lực sử dụng Tiếng Việt của học sinh được rèn
luyện qua từng lớp học.
Ở phân môn tập làm văn, bên cạnh việc sử dụng các kĩ năng đã được hình
thành và phát triển từ các môn học khác như: nghe, nói, đọc, viết (phân môn tập đọc);
giải nghĩa từ, dùng từ, đặt câu (phân môn luyện từ và câu); viết đúng chính tả, chính
âm (phân môn chính tả)…thì phân môn tập làm văn còn hình thành và phát triển một
hệ thống các kĩ năng riêng. Ngoài kĩ năng có tính phổ biến chung cho mọi kiểu bài
văn do nội dung chương trình quy định, thì một số kiểu bài văn thuộc các phong cách
khác nhau lại có thêm vài kĩ năng có tính đặc thù.
Trong phân môn tập làm văn, kĩ năng làm văn, viết bài văn có thể chia thành
các nhóm sau đây:
a. Nhóm kĩ năng giúp học sinh tiếp cận, chuẩn bị cho việc sản sinh ra văn bản gồm
có:
Kĩ năng phân tích đề bài, kĩ năng tìm ý và lựa chọn ý, kĩ năng xây dựng dàn ý.
b. Nhóm kĩ năng viết văn bản, gồm có các kĩ năng:
Dùng từ, đặt câu, viết đoạn, liên kết đoạn văn thành bài văn. Trong bốn kĩ năng
này, thì kĩ năng viết đoạn văn và kĩ năng liên kết đoạn thành bài văn là hai kĩ năng
đặc trưng, chủ yếu của phân môn tập làm văn.
c. Nhóm kĩ năng kiểm tra kết quả (được dùng trong giai đoạn kiểm tra kết quả bài làm
của học sinh), gồm có các kĩ năng sau:
Kĩ năng phát hiện lỗi về cách dùng từ, lỗi chính tả, lỗi đặt câu đến lỗi viết văn
bản, lỗi về nội dung, cảm xúc…được thể hiện rõ nét trong bài làm của học sinh.
Như vậy, bài tập làm văn của học sinh là sản phẩm của sự vận dụng tổng hợp
các kiến thức và kĩ năng tiếp nhận được trong quá trình học tập các môn học nói
chung. Do vậy, từ việc nắm ý tới việc diễn đạt thành văn, từ văn nói đến văn viết có
2/ Viết những điều em vừa kế thành một đoạn văn (từ 7 đến 10 câu)
Đối với những bài này, giáo viên cần mở rộng câu hỏi gợi mở phần thân đoạn
và cho các em tập nói trong nhóm, trước lớp. Khi trình bày, giáo viên cần chữa lỗi cụ
thể các câu, từ đó hình thành thói quen viết câu đúng ngữ pháp.
b. Kĩ năng viết những câu văn sinh động, gợi tả, gợi cảm, giàu hình ảnh và nhạc
điệu:
Từ cách dẫn dắt, gợi mở của giáo viên và từ một ý cho trước hay từ một câu
đơn (chỉ có một cụm chủ ngữ, vị ngữ), giáo viên hướng dẫn học sinh tập mở rộng câu
bằng cách thêm các thành phần phụ cho câu như: trạng ngữ, bổ ngữ, động từ, tính từ,
từ láy, từ tượng hình, từ tượng thanh,…Sử dụng các hình ảnh, chi tiết sinh động biểu
cảm; các biện pháp nghệ thuật như: nhân hoá, so sánh, điệp từ, điệp ngữ, hoán dụ,
phóng đại,…làm cho cách diễn đạt câu văn, đoạn văn, thêm cụ thể, sống động giúp
người đọc như cùng cảm nhận với mình.
Yêu cầu rèn luyện kĩ năng này có thể thực hiện ở các tiết học Luyện từ và Câu
hoặc tiết trả bài tập làm văn. Bài tập luyện viết câu sẽ gúp học sinh có ý thức viết văn
ngày càng chặt chẽ về ý tứ, sinh động, giàu xúc cảm,…từ đó giúp các em thêm hứng
thú học tập môn Tiếng Việt nói chung và phân môn tập làm văn nói riêng. Sau đây là
một số ví dụ (bài tập) về cách dùng từ, viết câu văn sinh động:
*Bài tập 1: Từ những câu văn đã cho, viết lại cho sinh động, gợi cảm xúc bằng cách
thêm biện pháp nghệ thuật:
Các em học sinh quần áo đủ màu sắc sặc sỡ đang nô đùa trên sân trường.
Các em học sinh quần áo đủ màu sắc sặc sỡ đang nô đùa trên sân trường tựa
như một đàn bướm xinh tung tăng bay lượn. (Biện pháp so sánh).
Bông hoa hồng xinh đẹp.
Bông hoa hồng xinh đẹp đang tươi cười và thì thầm toả hương thơm. (Biện
pháp nhân hoá).
Tôi yêu những người dân đi biển làng tôi, mặt biển trong xanh dậy sóng và
những con thuyền rẽ sóng ra khơi.
kiểu loại (từ đơn, từ ghép, từ láy), phong phú về ý nghĩa (từ một nghĩa, từ nhiều
nghĩa, từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm khác nghĩa,…), linh hoạt về cách sử
dụng (từ dùng trong sinh hoạt, trong sách vở khoa học, từ địa phương, từ nghề nghiệp,
…).
c. Kỹ năng viết đoạn văn đảm bảo sự liên kết chặt chẽ về ý:
Để thực hiện tốt kỹ năng này, trước hết cần phải quan sát kĩ đối tượng, tìm
được nhiều ý, nhiều chi tiết, biết sắp xếp các ý theo một trình tự rõ ràng, hợp lý,…
Trong phân môn luyện từ và câu, có một số bài tập rèn kĩ năng viết đoạn văn, cần
được giáo viên chú ý để hướng dẫn học sinh lập dàn ý trước khi cho học sinh viết
thành lời văn cụ thể, nhằm bổ trợ thiết thực “lô gích”, “đồng tâm” cho phân môn tập
làm văn ở tiểu học.
Ở tiết trả bài tập làm văn, giáo viên cần cho học sinh luyện viết lại phần mở bài,
kết bài hay một đoạn của phần thân bài để học sinh tự rút kinh nghiệm sau khi giáo
viên đã chữa bài tập trên lớp. Qua luyện tập, giúp học sinh chắt lọc được kiến thức
trọng tâm và bước đầu ý thức được sự “liên kết ý” trong đoạn văn, tức là: Giữa các
câu văn có sự liền mạch, có quan hệ về ý với nhau, không rời rạc, lộn xộn. Các ý
trong một đoạn văn được diễn tả theo một trình tự nhất định (trình tự về không gian,
trình tự về thời gian, trình tự tâm lý) nhằm minh hoạ và cụ thể ý chính. ở phân môn
luyện từ và câu (Sách TV5, tập 2), các em học sinh đã được học vài biện pháp liên kết
đơn giản như sau:
Bài: “Liên kết các câu trong bài bằng cách lặp từ ngữ” (TV5, tập 2, trang 7172).
Khái niệm: Lặp từ ngữ là phương thức liên kết thực hiện bằng cách lặp lại ở
câu thứ hai một hay nhiều từ ngữ đã xuất hiện ở câu thứ nhất.
Ví dụ: ở mảnh đất ấy, tháng giêng, tôi đi đốt bãi, đào ổ chuột; tháng tám nước
lên tôi đánh giậm, úp cá, đơm tép; tháng chín, tháng mười, đi móc con da dưới vệ
sông. ở mảnh đất ấy, những ngày chợ phiên, dì tôi lại mua cho vài cái bánh rợm; đêm
nằm với chú, chú gác chân lên tôi mà lẩy kiều ngâm thơ…
(Tình quê hương, Nguyễn Khải).
Bài: "Liên kết các câu trong bài bằng cách thay thế từ ngữ” (TV5, tập2, trang
76-77).
làm của các em có bố cục chặt chẽ, cần hướng dẫn học sinh biết cách liên kết các
đoạn văn bằng những từ ngữ như: chẳng bao lâu, từ lâu, tuy vậy, trong khi đó,…Nhắc
nhở học sinh xuống dòng khi kết thúc đoạn văn, mở đầu đoạn tiếp theo bằng câu nối
vào ý khác, làm cho bài văn trong sáng, mạch lạc, khúc chiết. Chữ viết phải rõ ràng và
cố gắng rèn viết chữ đẹp. Bài làm cần sáng sủa, sạch sẽ, lưu ý nhắc nhở các em nắm
vững các đặc điểm về thể loại, kiểu bài tập làm văn như: “tả người”- cần lựa chọn
những động từ chỉ hoạt động, động từ chỉ trạng thái sát hợp; dùng những tính từ gợi
hình ảnh, gợi cảm xúc; những từ tượng thanh, tượng hình thích hợp; dùng các hình
ảnh so sánh, ví von sinh động…để vừa gợi tả cho cụ thể, vừa thể hiện tình cảm, thái
độ của mình với người được miêu tả.
Vẻ đẹp của một bài văn hay, không chỉ ở ý nghĩa nội dung, bộc lộ cảm xúc mà
nội dung và cảm xúc đó phải được thể hiện thông qua vẻ đẹp của Tiếng Việt. Trong
giảng dạy, cần hướng dẫn học sinh tiểu học đi từ những cái cụ thể, chắt lọc những
điều quan trọng về kiến thức, kĩ năng để truyền thụ cho các em. Khơi dậy tính kiên trì
học hỏi, kiên trì rèn luyện ở các em; gắn kiến thức, đề tài với vốn sống, vốn hiểu biết
của học sinh, đánh thức ở các em những gì các em đang có và “phát triển” dần lên.
IV/ Công tác chỉ đạo thực hiện:
Căn cứ sách giáo khoa, sách hướng dẫn giảng dạy và tài liệu thay sách giáo
khoa, giáo viên soạn giảng linh hoạt, phù hợp theo hướng tích cực. Trong quá trình
dạy học và tổ chức các hoạt động NGLL, giáo viên cần tập trung thực hiện một số nội
dung:
1/ Giáo viên:
1.1 Hướng dẫn học sinh cách quan sát đối tượng miêu tả, cách lựa chọn hình ảnh, nội
dung miêu tả.
a/ Quan sát đối tượng miêu tả (tranh ảnh, cảnh, con vật, đồ vật,…) cần chú ý:
- Quan sát tổng thể đối tượng; chú ý cả trạng thái động và tĩnh; quan sát bằng
tất cả các giác quan thính giác, thị giác, xúc giác,…(nếu tranh ảnh thì cần tưởng
tượng)
Để bồi dưỡng kĩ năng diễn đạt, học sinh sẽ thực hành một số dạng bài tập luyện
viết như:
- Viết câu, đoạn từ các từ ngữ cho sẵn.
- Điền tiếp vào chỗ trống.
- Thêm từ ngữ miêu tả về hình ảnh, âm thanh,…
- Sắp xếp ý để thành đoạn văn hoàn chỉnh.
(Như đã nêu ở phần rèn kĩ năng viết)
1.4 Thực hiện nghiêm túc tiết trả bài tập làm văn:
Giáo viên cần xác định rõ mục tiêu của tiết trả bài để thực hiện một cách
nghiêm túc, tránh làm qua loa, “lấy lệ”, cần tập trung:
- Chấm bài thật kĩ, thấy rõ ưu, nhược điểm của từng bài viết; chữa lỗi tiêu biểu
cần khắc phục ngay cho các em trong bài làm.
- Ghi lại các lỗi của học sinh theo từng loại: Lỗi chính tả, lỗi dùng từ, lỗi đặt
câu, lỗi diễn đạt,…; các từ, câu, đoạn văn hay.
- Thống kê và phân loại bài theo điểm; nhận xét chung về ưu, nhược điểm trong
bài viết của học sinh.
- Tiến hành đúng như quy trình đã hướng dẫn trong sách giáo viên (Linh hoạt
về thời gian thực hiện các bước, hình thức tổ chức sửa lỗi như cá nhân, nhóm đôi,…
tuỳ theo kết quả bài viết của học sinh).
- Học sinh phải thấy và nêu được lỗi trong bài văn của mình và của bạn; sửa
được lỗi đó và ghi nhớ nó; hiểu rõ và có nhu cầu học hỏi những từ, câu, đoạn văn hay,
giàu hình ảnh và sức gợi tả.
- Giáo viên tổ chức chữa mẫu một số từ, câu, đoạn, bài một cách điển hình, cụ
thể.
- Đọc, phân tích các đoạn, bài văn hay của học sinh hoặc chọn ngoài.
(Tất cả nội dung được thể hiện trên kế hoạch dạy học và vở học sinh)
2/ Lãnh đạo trường, tổ chuyên môn:
- Tổ chức dự giờ, góp ý giúp đỡ, động viên để giáo viên thực hiện tốt.