skkn rèn kĩ năng viết văn miêu tả lồi vật cho học sinh lớp 4 - Pdf 24

Sáng kiến kinh nghiệm
I.MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
a. Lý do khách quan:
Con người sống trong xã hội tất nhiên
không thể thiếu hoạt động giao tiếp. Ngôn ngữ
là một phương tiện quan trọng với chức năng
phục vụ cho tư duy và giao tiếp. Ở Tiểu học,
môn Tiếng Việt có chức năng rèn luyện kĩ
năng về ngôn ngữ cho học sinh. Khi học đến
chương trình lớp 4, trong các tiết Tập làm văn,
học sinh có điều kiện tiếp cận với vẻ đẹp của
con người, thiên nhiên; có dịp hướng tới cái
chân, cái thiện, cái mĩ được định hướng trong
các đề bài. Khi được học về thể loại văn miêu
tả, học sinh được rèn luyện cách nhìn đối
tượng trong quan hệ gần gũi giữa người và vật.
Những cơ hội đó góp phần xây dựng tình cảm
yêu mến, gắn bó với thiên nhiên, làm cho tâm
hồn, tình cảm của trẻ thêm phong phú. Đó
cũng là một trong những nhân tố quan trọng
trong việc hình thành nhân cách tốt đẹp cho trẻ
trong giao tiếp, trong cuộc sống.
b. Lý do chủ quan:
Hiện nay, việc đổi mới phương pháp
dạy học là một yêu cầu cấp bách trong xu thế
đổi mới dạy học ở Tiểu học. Ta đã từng biết,
hiện có rất nhiều phương pháp dạy học để
người giáo viên có thể lựa chọn, sử dụng trong
thực tiễn dạy học của mình.
Từ thực tiễn nêu trên, tôi mạnh dạn

những cách thức hành văn, biến cái đó thành
kĩ năng vận dụng của từng em. Vì thế, tôi đã
tiến hành nghiên cứu đề tài này.
3. Lịch sử đề tài:
Ngày trước, khi dạy văn miêu tả cho
học sinh lớp 4, với các nội dung và phương
pháp dạy học cổ truyền đã phần nào bộc lộ
những hạn chế nhất định và thu hẹp óc sáng
tạo của trẻ, học sinh học tập một cách thụ
động, nhàm chán và hiệu quả không cao.
Hiện nay, trong chương trình Tiếng Việt
tiểu học mới, khi dạy thể loại văn miêu tả có
cơ cấu nội dung sinh động, vừa gần gũi cuộc
sống thực tế của học sinh vừa mở rộng tầm
hiểu biết của các em.
Từ thực tế nêu trên, tôi chọn nghiên cứu
đề tài này với hi vọng mang lại cho người giáo
viên một số “kĩ thuật” trong việc giảng dạy kĩ
năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4. Tôi
mong rằng những “kĩ thuật nhỏ” nàysẽ trở
thành “chìa khóa” mở ra cho giáo viên chúng
ta những cách thức giảng dạy hiệu quả hơn,
học sinh học tập tốt hơn.
Trang 2
Sáng kiến kinh nghiệm
4. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trước kia, khi giảng dạy thể loại văn
miêu tả, người ta tin rằng học sinh sẽ đạt được
kết quả học tập tốt khi giáo viên giải thích kiến
thức một cách đầy đủ, rõ ràng, còn học sinh

đạt hiệu quả nhất nên ngay từ đầu năm học, tôi
đã nhanh chóng nắm bắt tình hình học tập của
lớp. Được phân công chủ nhiệm lớp Bốn/3, sĩ
Trang 3
Sáng kiến kinh nghiệm
số 33 học sinh, tôi tiến hành kiểm tra, nhận
xét:
 Do đặc thù lứa tuổi còn nhỏ nên vốn kinh
nghiệm sống, vốn kiến thức về ngôn ngữ
của các em chưa nhiều dẫn tới khả năng
diễn đạt lời văn còn kém.
 Ơû lớp 3, các em chưa được làm quen với
việc quan sát và trả lời câu hỏi về con vật
nên các em còn bỡ ngỡ.
 Sự tự suy nghĩ, tưởng tượng và sáng tạo
chưa được phát huy ở các em khi viết văn.
 Không quen dùng lời nói, vốn từ ngữ còn
nghèo nàn, chưa thành thạo các mẫu câu
nên diễn đạt các lời nói khi mô tả còn khó
khăn.
 Lối sống hồn nhiên, vô tư, chưa quan sát
tinh tế và để ý đến những con vật xung
quanh mà các em vẫn thường nhìn thấy.
Bên cạnh những khó khăn trên cũng có
không ít một số mặt thuận lợi cho học sinh:
 Để hồn thành một bài văn miêu tả, chương
trình sách giáo khoa lớp 4 phân phối thành
nhiều tiết, mỗi tiết tìm hiểu một bộ phận
của bài văn.
 Hiện nay, việc vận dụng công văn 896

làm nổi rõ đặc thù riêng của từng lồi vật.
5. Biết biểu lộ sắc thái tình cảm đối với con
vật mình yêu thích khi miêu tả.
Trên đây là một số nội dung cốt lõi cần giải
quyết. Vì vậy, để đạt được mục tiêu của đề tài,
tôi đã nghiên cứu, giải quyết các nội dung trên
bằng một số biện pháp thực hiện như sau:
3. Biện pháp thực hiện:

a/ Để rèn cho học sinh có kĩ năng viết
tốt, trước hết giáo viên cần giúp học sinh
nắm cấu tạo của một bài văn miêu tả lồi vật.
Để miêu tả lồi vật, tất nhiên học sinh biết
rõ một bài văn phải có đủ ba phần:
Mở bài
Thân bài
Kết bài
Phần mở bài, giáo viên luôn hướng dẫn
học sinh cần bám vào đề bài mà giới thiệu con
vật mình sẽ tả (hồn cảnh, thời gian, con vật gì
…)
Phần thân bài, giáo viên cần giúp học
sinh nắm rõ: Khi miêu tả con vật cần tả ngoại
hình của con vật rồi mới tả thói quen sinh
hoạt và một vài hoạt động chính của con vật.
Giáo viên phải khắc sâu cho học sinh nắm rõ
ràng để có thể viết văn tả bất kì con vật nào.
Sách giáo khoa cũng cho học sinh thấy rất rõ
cấu tạo này qua bài viết “Con mèo hung”
STV 4 – tập 2 –trang 112.

c/ Rèn cho học sinh có thói quen liên tưởng,
tưởng tượng (so sánh, nhân hố) khi miêu tả.
Bài văn sẽ rất “khô khan” nếu các em chỉ
ghi thực lại những điều đã quan sát. Thực ra,
nếu biết liên tưởng so sánh với các sự vật
khác, đôi khi biết nhân hóa một số sự vật, hiện
tượng sẽ giúp bài văn trở nên hấp dẫn, sinh
động hơn.
 Ví dụ:
Khi làm văn miêu tả con gà trống, một học
sinh đã viết như sau:
“… Chú gà nhà em đã ra dáng một chú gà
trống đẹp. Thân hình của chú chắc nịch được
bao phủ bởi một lớp lông nhiều màu như cam,
nâu đỏ, đen, xanh. Cái đầu chú thon, tròn như
quả trứng. Trên đỉnh đầu là một chiếc mào gà
đỏ chót như đốm lửa. Bên dưới là hai cái tích
mỏng như hai chiếc lá và đỏ không kém gì cái
Trang 6
Sáng kiến kinh nghiệm
mào trên đầu. Thật ngộ nghĩnh là hai mắt của
chú, nó cứ tròn xoe như hai hòn bi ve thu nhỏ,
sáng long lanh. Gà trống có cái mỏ cứng và
chắc như hai mảnh vỏ trấu chắp lại nhưng to
hơn nhiều. Chú có bộ lông cổ màu vàng cam
mượt như tơ và lóng lánh. Đôi cánh dài, cứng
cáp trông rất mạnh mẽ. Nổi bật nhất là đôi
chân săn chắc với những chiếc cựa và móng
sắc dùng làm vũ khí. Cái đuôi cong vút trông
chú thật đỏm dáng…”

hay cái bóng của mình, cũng có khi là quả
banh nhỏ của em nữa. Buổi chiều, em đang
ngồi học bài, Misa rón rén lại gần, dụi dụi
Trang 7
Sáng kiến kinh nghiệm
vào tay em như muốn em vuốt ve bộ lông mượt
mà của chú…”
e/ Giúp học sinh biết cách biểu lộ sắc thái
tình cảm đối với con vật mình yêu thích khi
miêu tả. Biết yêu thương và chăm sóc những
con vật gần gũi, có ích như chó, mèo. Biết
được những giá trị kinh tế do các con vật
mang lại cho gia đình mình như bò, lợn, gà,
vịt,… Giáo viên phải gợi ý, dẫn dắt để học
sinh biết dùng từ ngữ diễn đạt được tình cảm
của mình.
 Ví dụ: Khi tả về con lợn một học sinh đã
viết như sau:
“… Vào những ngày nghỉ, em thường ra vườn
hái cho chú một ít rau lang hay rau muống,
chú ta tỏ vẻ thích chí lắm, phẩy phẩy cái đuôi
ngước nhìn như có ý cảm ơn em…”
f/ Bồi dưỡng cho học sinh vốn từ phong phú
bằng cách đọc cho học sinh nghe những đoạn
văn hay. Sau mỗi năm học, tôi thường lưu lại
những bài viết khá tốt của học sinh để làm tài
liệu cho những năm học sau. Khuyến khích
các em chăm đọc sách sẽ làm giàu hơn vốn từ
ngữ giúp các em dễ dàng chọn lọc các từ ngữ
miêu tả.

Ví dụ: Trước khi viết bài văn miêu tả con
mèo, học sinh đã lập dàn ý như sau:
1. Mở bài: Giới thiệu về con mèo (hồn
cảnh, thời gian…)
2. Thân bài:
a) Tả ngoại hình của con mèo:
- Bộ lông
- Cái đầu
- Hai tai
- Đôi mắt
- Bộ ria
- Bốn chân
- Cái đuôi
b) Tả hoạt động chính của con vật.
Hoạt động bắt chuột:
- Động tác rình
- Động tác vồ
Hoạt động đùa giỡn của con mèo.
3. Kết luận: Cảm nghĩ chung về con mèo.
l/ Để bài viết được mạch lạc, giáo viên nên
rèn học sinh khi miêu tả một chi tiết thì viết
thành một câu. Tránh trường hợp học sinh
viết câu văn quá dài, ý tưởng lủng củng.
n/ Giáo viên nên tạo không khí vui vẻ thoải
mái trong giờ học. Nên khen thưởng, khích lệ
những tiến bộ dù nhỏ của học sinh. Tôn trọng
bài viết của các em, nếu chưa phù hợp, giáo
viên không nên la mắng, chỉ trích mà nên nhắc
Trang 9
Sáng kiến kinh nghiệm

Sáng kiến kinh nghiệm
 Để đạt được kết quả nêu trên, tôi đã thực
hiện một số “kĩ thuật” nhỏ sau:
1. Nên hướng dẫn học sinh cách quan sát thực
tế con vật, ghi chép vào giấy nháp những
gì đã quan sát được, sau đó các em sẽ sắp
xếp, tổng hợp và lựa chọn ngôn từ để diễn
giải thành bài văn.
2. Nếu không có vật thật thì cho học sinh
quan sát tranh, không nên dạy văn miêu tả
chỉ có lời nói suông và trí tưởng tượng.
3. Quan tâm, theo dõi học sinh trung bình,
yếu kém; động viên, giúp đỡ thường xuyên
làm cho các em trở nên tự tin, dạn dĩ hơn.
Cổ vũ những tiến bộ dù nhỏ, thông cảm với
những khó khăn trong học tập của học sinh.
4. Tổ chức cho các em cùng trao đổi nhóm để
học tập những đoạn văn hay.
5. Dáng điệu, cử chỉ của giáo viên cần phải
thể hiện thái độ thân mật, hợp tác, khuyến
khích, đồng tình, tạo niềm tin cho các em.
6. Lời nhận xét của giáo viên giúp học sinh
hứng thú, tự tin hơn trong học tập. Chính
sự khéo léo của giáo viên sẽ mang đến một
không khí học tập sôi nổi. Từ đó, các em
trở nên hào hứng và yêu thích môn học
hơn.
7. Cần nghiên cứu kĩ nội dung bài dạy, có sự
chuẩn bị chu đáo về tranh ảnh, vật thật,…
trước khi lên lớp.

triển đòi hỏi phải có sự thích ứng phù hợp.
2. Phạm vi đối tượng áp dụng:
Tôi hi vọng rằng những kinh nghiệm nhỏ trong
đề tài này sẽ được các anh chị giáo viên lớp 4
cùng tham khảo và thử nghiệm. Trong việc
rèn kĩ năng viết văn miêu tả lồi vật cho học
sinh lớp 4 sẽ còn nhiều ý kiến hay hơn nữa,
rất mong nhận được sự đóng góp để đề tài
ngày một hồn thiện hơn.
Trang 12
Sáng kiến kinh nghiệm
Iv. PHỤ LỤC
 Tư liệu tham khảo:
1/ Sách Tiếng Việt lớp 4 –Tập 1,2 – NXB
Giáo dục – XB năm 2005.
2/ Sách giáo viên Tiếng Việt 4 – tập 1,2 –
NXB Giáo dục – XB năm 2005.
3/ “Thử đi tìm những phương pháp dạy học
hiệu quả” – Lê Nguyên Long – NXB Giáo dục
– XB năm 1998.
Long Hồ ,
ngày 5 tháng 5 năm 2009
Người thực
hiện Nguyễn
Hồng Aùnh Nga

Trang 13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status