Trêng ®¹i häc vinh
Khoa GIÁO DỤC
PHẠM THỊ HUẾ
§Ò tµi:
KHãA LUËN tèt nghiÖp
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG VIẾT VĂN MIÊU TẢ
CON VẬT CHO HỌC SINH LỚP 4
CHUYÊN NGÀNH: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT
Lớp: 49A1 - Tiểu học
Giảng viên hướng dẫn: TS. Chu Thị Hà Thanh
VINH - 2012
LỜI NÓI ĐẦU
Sau một thời gian nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn dạy học Tập
Làm Văn ở Tiểu học, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Rèn
luyện kĩ năng viết văn miêu tả con vật cho học sinh lớp 4”. Để có được kết
quả này, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân phải kể đến vai trò của người đã
hướng dẫn đề tài này cho tôi - giảng viên TS. Chu Thị Hà Thanh. Lần đầu
tiên khi tiến hành một đề tài nghiên cứu khoa học, tôi đã gặp không ít những
khó khăn, lúng túng nhưng nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình, chu đáo của cô nên tôi
đã dần dần tháo gỡ những khó khăn ban đầu, những lúng túng gặp phải.
Chính cô đã vạch cho tôi con đường thuận tiện nhất để tôi có thể hoàn thành
được đề tài nghiên cứu này. Bên cạnh đó BCN khoa Giáo dục, các thầy cô
giáo và học sinh trường Tiểu học Lê Lợi cùng các bạn sinh viên khoa Giáo
dục đã không ngừng tạo mọi điều kiện giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình
:
Học sinh
TLV
:
Tập làm văn
SGK
:
Sách giáo khoa
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn
Danh mục các từ viết tắt
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài
1
2.Lịch sử vấn đề 2
3.Mục đích nghiên cứu 4
4.Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
5.Nhiệm vụ nghiên cứu 4
1.2.1. Thực trạng nhận thức của GV và HS về văn miêu tả con vật
24
1.2.2. Thực trạng dạy và học văn miêu tả con vật 27
1.2. Khảo sát chương trình SGK về văn miêu tả con vật 30
Chương 2: BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT VĂN MIÊU TẢ
CON VẬT CHO HỌC SINH LỚP 4
2.1. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp
37
2.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học
37
2.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi
38
2.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính đặc trưng bộ môn 38
2.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và chú ý đặc điểm lứa tuổi
38
2.2. Các biện pháp rèn luyện kĩ năng viết văn miêu tả con vật cho HS lớp
39
2.2.1. Rèn luyện kĩ năng tìm hiểu yêu cầu của đề bài
2.2.2. Rèn luyện kĩ năng quan sát
66
3.4. Kết quả thử nghiệm 67
3.5. Nhận xét kết quả thử nghiệm
KẾT LUẬN
70
71
1.Kết quả nghiên cứu và những đóng góp của luận văn 71
2.Những kiến nghị72
Phụ lục
73
Tài liệu tham khảo
90
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1 Môn Tiếng Việt ở Tiểu học vừa trang bị cho HS kiến thức về tiềng Việt
đồng thời là môn học trang bị cho học sinh công cụ để giao tiếp và phát triển
tư duy, tạo tiền đề và cơ sở cho việc học tập các môn học khác.
1.2 Phân môn Tập làm văn ở Tiểu học là một phân môn tổng hợp kiến thức
của các phân môn Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện nhằm giúp
các em làm được những bài văn hay.
1.3 Văn miêu tả là một trong những kiểu văn quen thuộc và phổ biến trong
chương trình Tập Làm Văn của nhà trường. Văn miêu tả giúp tái hiện đời
cho học sinh lớp 4”.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Các công trình nghiên cứu về văn miêu tả
1. Văn miêu tả và kể chuyện - Vũ Tú Nam, Phạm Hổ - NXB GD - Hà Nội
1998
Phần lớn cuốn sách này là trích dẫn những đoạn văn miêu tả và vă kể chuyện
6
điển hình của một số nhà văn. Cuốn sách cũng chỉ ra những cái hay, cái đẹp
của văn miêu tả và bàn về mẹo viết văn miêu tả và văn kể chuyện của một số
nhà văn nổi tiếng.
2. Văn miêu tả trong nhà trường phổ thông - Đỗ Ngọc Thống, Phạm Minh
Diệu - NXB GD - Hà Nội 2003
Sách gồm 3 chương và một phần phụ lục:
Chương 1: Phân tích và chỉ ra những đặc điểm của văn miêu tả.
Chương 2: Giới thiệu một số ý kiến và một số trang văn miêu tả của các nhà
văn, chủ yếu là các nhà văn viết cho thiếu nhi, có nhiều tác phẩm đưa vào nhà
trường.
Chương 3: Tập trung giới thiệu văn miêu tả trong nhà trường phổ thông theo
yêu cầu của chương trình SGK mới. Bên cạnh đó chương 3 con đưa ra hệ
thống 95 bài tập và 20 đề văn miêu tả với yêu cầu kết hợp các phương thức
biểu đạt khác.
Phần phụ lục: Tập hợp 50 đoạn văn, bài văn miêu tả được chuyển từ các sách
trong khoảng nửa thế kỷ qua, sau đó bình giảng một số đoạn văn miêu tả của
các nhà văn.
2.2. Các công trình nghiên cứu về dạy học văn miêu tả ở Tiểu học
Các tác giả Lê Phương Nga, Nguyễn Trí là những người có tâm huyết và gắn
bó trong lĩnh vực nghiên cứu phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
1.Phương pháp dạy học tiếng Việt Tiểu học (tập 1,2) - Lê Phương Nga,
- Khách thể: Quá trình dạy học TLV ở Tiểu học
- Đối tượng: Rèn luyện kĩ năng viết văn miêu tả con vật cho học sinh lớp 4.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu.
- Tìm hiểu cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu.
- Đề xuất các biện pháp rèn luyện kĩ năng viết văn miêu tả con vật cho học
sinh lớp 4.
- Thực nghiệm sư phạm.
8
6. Giả thuyết khoa học
Trong quá trình dạy học TLV ở lớp 4 nếu GV nắm vững lí thuyết về văn miêu
tả đồng thời tổ chức rèn luyện kĩ năng viết văn miêu tả con vật cho HS lớp 4
một cách khoa học, hệ thống, phù hợp với đặc trưng thể loại thì sẽ nâng cao
chất lượng dạy - học TLV ở Tiểu học.
7. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: đọc, nghiên cứu và tổng kết tài liệu có
liên quan.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: quan sát, đàm thoại, điều tra,…
- Phương pháp thống kê toán học.
8. Phạm vi nghiên cứu
GV, HS trường Tiểu học Sơn Lâm.
9
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
bằng màu sắc, đường nét của hội họa. dùng ngôn ngữ, văn chương có thể
miêu tả sự vật trong một quá trình vận động, có thể tả những thứ vô hình như
âm thanh, tiếng động, hương vị,… hay tư tưởng, tình cảm thầm kín của con
người.
1.1.2. Đặc điểm văn miêu tả
1.1.2.1.Văn miêu tả mang tính thông báo, thẩm mĩ, chứa đựng tình cảm của
người viết
Dù là tả một con mèo, một con gà, một cây bàng, cảnh đồng lúa hay một con
người…bao giờ người viết cũng đánh giá theo một quan điểm thẩm mĩ, cũng
gửi vào bài viết những tình cảm hay ý kiến đánh giá, bình luân của mình. Do
vậy từng chi tiết của bài văn miêu tả đều mang ấn tượng cảm xúc chủ quan.
Cành thông và lá liễu trong hai câu thơ của Hồ Xuân Hương nêu trên mang
rất rõ dấu ấn cá tính của cá thơ qua các chi tiết vừa giàu tính tạo hình vừa giàu
sức sống tiềm tàng: lắt lẻo, cơn gió thốc, đầm đìa, giọt sương gieo.
Đặc điểm này làm cho văn miêu tả trong văn học khác hẳn văn miêu tả trong
khoa học (sinh học, địa lí học, khảo cổ học,…). Tả trong phân môn Tập Làm
Văn cũng khác hẳn cách miêu tả con vật, cây cối trong môn Tự nhiên và Xã
hội.
Chúng ta hãy đọc hai đoạn văn miêu tả cùng một con bướm sau và so sánh sự
khá biệt giữa chúng.
Đọan thứ nhất trích từ SGK của học sinh:
“Thân bướm có ba phần: đầu, ngực, bụng. Phần ngực có bốn cánh, sáu chân.
Bướm bay được nhờ hai đôi cánh là hai màng rộng bản. chúng có vảy phấn
bao phủ nên khoonng trong như cánh chuồn chuồn”.
Đoạn thứ hai trích từ một tác phẩm văn học của Vũ Tú Nam:
11
“Ngoài giờ học, chúng tôi tha thẩn ở bờ sông bắt bướm. Chao ôi, những con
bướm đủ hình dáng, đủ sắc màu. Con xanh biếc pha đen như nhung bay
ngoèo như lối đi của loài bò sát”.
Chúng ta cũng có thể đọc được nhiều tác phẩm hay trong các kiệt tác
của các ngòi bút miêu tả bậc thầy như: Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn
Khuyến,…
Làm nên sự sinh động, tạo hình của văn miêu tả là những chi tiết sống,
gây ấn tượng… Những chi tiết mà khi ta tước bỏ chúng đi, bài miêu tả sẽ trở
nên mờ nhạt. Ta thử xem bài tả Những cánh bướm bên bờ sông sẽ như thế nào
khi bị xóa đi các chi tiết như: tha thẩn ở bờ sông, đen như nhung bay loang
loáng, nhiều hình mặt nguyệt, ven cánh có răng cưa, lượn lờ đờ như bơi
trong nắng, líu ríu như hoa nắng, là là theo chiều gió,hệt như tàn than của
những đám đốt nương,…? Bài văn sẽ trơ ra bộ xương khô. Đọc nó tưởng như
bắt gặp nụ cười nhợt nhạt cuả một người không còn sinh khí. Tuy nhiên cũng
cần chú ý tránh khuynh hướng ngược lại là đưa quá nhiều chi tiết vào bài văn
miêu tả làm cho bài văn trở nên rườm rà. Cần phải biết gạt bỏ các chi tiết
thừa, không có sức gợi tả hay gợi cảm để cho bài văn miêu tả vừa gọn mà vừ
giàu chất tạo hình. Vậy những chi tiết sống động như vậy thì lấy ở đâu ra? Đó
chính là từ sự quan sát cuộc sống của người viết, từ những kinh nghiệm của
bản thân. Có bắt nguồn từ trong thực tế, có thai nghén trong kinh nghiệm thì
bài văn mới có thể sinh động, linh hoạt và có tính tạo hình.
Trong miêu tả người ta hay sử dụng biện pháp so sánh và nhân hóa. Nó
làm cho bài văn trở nên sinh động và hấp dẫn hơn nhiều.
Ví dụ: “…Chú gà được mẹ mua từ phiên chợ Mai tết năm ngoái. Hồi
ấy, chú chỉ là một “cậu bé thiếu niên” mới ba tháng tuổi con rụt rè, bỡ ngỡ.
Đến nay,chú đã là một “thanh niên” trưởng thành, oai phong. Chú được lai
giữa giống gà nòi và gà tàu nên chú chọn lọc những đặc tính tốt nhất của hai
giống gà. Bởi thế chú to khỏe như một “lực sĩ trên võ đài” và đẹp trai như
một “siêu sao người mẫu”. Chú khoác trên mình bộ áo màu đỏ tía chen lẫn
13
con gà con…”. Đoạn văn này dù có hay thế nào đi nữa thì người đọc cũng
không thể chấp nhận được vì nó quá vô lí.
Có nhà văn, nhà thơ đã nói về cái giả và cái thật như sau: “Giả và thật
cũng giống như hai cái dây điện có mắc bóng điện đâu vào đấy. Nhưng bấn
một cái thì bóng điện này sang còn bóng điện kia tối vì một bên có điện một
bên thì không”. Bề ngoài thì hai cái giả và thật khó phân định được nhưng khi
đi sâu khám phá bản chất của đối tượng thì mình mới thấy được cái quan
trọng của sự chân thật trong văn miêu tả.
Nhờ quan sát tinh tế của người viết mà người đọc có những hiểu biết
rộng hơn, sâu hơn, và tinh tế hơn về cuộc sống xung quanh mình. Theo “Nghệ
thuật làm văn của Vũ Ký”, Hoàng Đạo đã có bài “Tả hai mẹ con Hươu sao”
như sau:
“Một đám mây vàng hiện ra ở Phương Đông, nằm ngang chân trời. lá
cây nặng trĩu sương đêm nghiêng mình và bỏ những giọt nước trong vắt lốp
bốp xuống nội cỏ. Tiếng hai con chim thủ thỉ và thù thì nghe đã gần nhau
lắm. Trời đã rạng Đông.
Dưới gốc cây trám nắng, trong bụi rậm con hươu nhỏ và gầy, chập
chững trên bốn chân còn run run và yếu ớt quá. Một con chim chích chòe ý
chừng vừa mới ngủ dậy ở trên cành cao bay là là xuống đậu gần hai mẹ con
hươu, vểnh đuôi lên mấy cái nhìn tả, nhìn hữu để làm duyên rồi nói:
18
- Mẹ tròn con vuông chứ? Chích! Chích! Trông nó hay lắm đấy nhỉ!
Nhưng nó to hơn làm sao! Và lông nó thô quá, ít ỏi quá! Hôm nọ, chị tôi cũng
vừa ở cữ một lứa, những năm đứa trẻ nhỏ xíu trông xinh lắm! Chích! Chích!
Hươu mẹ lơ đãng trả lời cô chích chòe lắm điều:
- Chị nói gì kia ạ! Xin lỗi chị, tôi không nghe chị nói gì cả!
Chích Chòe giương mắt nhìn Hươu, vểnh đuôi lên rồi vỗ cánh bay đi.
Hươu mẹ không để ý đến sự tức giận của Chích Chòe cứ rúc đầuvào con mà
việc phát hiện đặc điểm riêng, mới lạ của con vật đó. Miêu tả ngoại hình cần
nhấn vào một số khía cạnh tiêu biểu nhất để không cần chi tiết, hình ảnh thì
con vật vẫn hiện ra một cách sinh động trước mắt người đọc. Các tác giả như
Tô Hoài, Vũ Tú Nam, Đoàn Giỏi, Võ Quảng,… là những cây bút giàu kinh
nghiệm trong phạm vi này. Qua Đất rừng phương Nam, Dế Mèn phiêu lưu kí,
Quê nội và Tảng sáng,… hàng chục con vật được miêu tả sinh động và giàu
tính tạo hình. Miêu tả hoạt động của con vật làm cho bức tranh trở nên có
hồn. Các chi tiết tả hoạt động và hình dáng phải cò mối quan hệ với nhau.
Việc miêu tả ngoại hình làm cho người đọc cảm nhận các hoạt động của con
vật đúng hơn, đầy đủ hơn và ngược lại. Hoạt động của con vật có nhiều loại:
di chuyển,kiếm ăn, chơi đùa,… Các hoạt động này thường giồng nhau trong
cùng một loài: con vịt nào cũng biết bơi, con bò nào cũng ăn cỏ,… Nhưng khi
miêu tả cần lựa chọn những chi tiết vừa mang tính chung của giống loài, vừa
mang tính cá biệt của từng con vật cụ thể. Các hoạt động tiêu biểu ấy tạo cho
mỗi con vật một tính nết riêng, cá thể hóa bức tranh miêu tả. Bài văn miêu tả
con vật phải làm cho người đọc, người nghe như đang sống cùng với chúng,
nhìn ngắm hình dáng bên ngoài, chứng kiến hoạt động của chúng.
Ví dụ qua đoạn văn miêu tả về con ngan mới nở của Tô Hoài dường
như chúng ta cứ muốn đưa tay khẽ nâng chú ngan con lên ngắm nghía.
“Con ngan nhỏ mới nở được ba hôm trông chỉ to hơn cái trứng một tí.
Nó có bộ long vàng óng. Một màu vàng đáng yêu như màu những con tơ non
mới guồng. Nhưng đẹp nhất là đôi mắt với cái mỏ. Đôi mắt chỉ bằng hạt
20
cườm, đen nhánh hạt huyền, lúc nào cũng long lanh đưa đi đưa lại như có
nước, làm hoạt động hai con ngươi bóng mờ. Một cái mỏ màu nhung hươu
vừa bằng ngón tay đứa bé mới đẻ và có lẽ cũng mềm như thế, mọc ngay ngắn
đằng trước cái đầu xinh xinh vàng muỗm và ở dưới bụng lủn chủn hai chân
bé tí màu đỏ hồng”.
đôi mắt đen nhánh hạt huyền. Con mèo đầu tròn xinh và nghộ nghĩnh, to
bằng quả bóng cao su, đôi mắt long lanh như ngọc và tròn xoe như hai hòn bi
ve. Song điều cần lưu ý là phải tìm cho được các tính từ miêu tả con vật đung
và hay nhất về màu sắc, hình dáng con vật, không nên chỉ dừng lại ở cac tính
từ chung chung. Con ngan, con vịt mới nở màu gì? Chỉ nói màu vàng thôi thì
chưa đủ hay vì chưa lột tả đúng sắc độ của màu vàng. Phải nói như Tô Hoài
“bộ lông vàng óng” hay như Vũ Thị Thường “lông vàng suồm suộm” Cùng
tả con cá song có người viết “vây hoa xám đen lốm đốm” còn Huy Cận lại
viết “cá song lấp lánh đuốc đen hồng. Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe”.
Các từ tượng được sử dụng có khi để miêu tả tiếng kêu của con vật hay
tiếng động do nó tạo ra. Đàn bò thì sung sướng ò…ò…,các chú vịt con thì vít
vít đáng yêu, con khỉ thì khẹc…khẹc…, “con gà bà Kiến chỉ rặn được ba tiếng
éc, e, e cụt ngủn…”… Các từ tượng thanh làm cho bài văn miêu tả trở nên
chân thực hơn, hấp dẫn hơn vì con vật được tả giống như trong cuộc sống
vậy.
Các động từ hoạt động rất cần cho việc miêu tả hoạt động miêu tả của
con vật. Các hoạt động này rất phong phú. Do đó số lượng lớn động từ hoạt
động được sử dụng. Các động từ này làm cho các hoạt động của con vật như
hiện rõ trước mắt người đọc. “Chim bố và chim mẹ mải miết đi kiếm mồi về
mớm cho con. Thỉnh thoảng Minh lại bắc ghế nhòm lên. Môi Minh chúm lại
khe khẽ bắt chước tiếng chim kêu lích tích, lích tích. Những chú chim non vội
nhổm hết cả dậy. Những đôi mắt tròn như hạt cườm đen, chớp chớp, cái đầu
khẽ nghiêng nghiêng,… Những chiếc mỏ vàng khúm lại há ra đớp đớp, ngon
lành như em bé của Minh lúc nó ọ ẹ hớp hớp đôi môi đòi bú tí…”.
22
Phép nhân hóa, so sánh tỏ ra đăc dung trong văn miêu tả con vật. Ở
nhiều tác phẩm, nhân hóa không những chỉ là những biện pháp hoặc thủ pháp
có tính chất tu từ mà trở thành phương pháp xây dựng hình tượng, xây dựng
nghiệm và những cách thức hành động đúng đắn vào thực tiễn.
Như vậy kỹ năng không phải tự nhiên mà có, nó được hình thành thông
qua một quá trình luyện tập và trải qua một quá trình nhất định. Bất cứ kỹ
năng nào cũng phải dựa trên cơ sở lý thuyết - đó là kiến thức. Sở dĩ như vậy là
vì, xuất phát từ cấu trúc kĩ năng (phải hiểu mục đích, biết cách thức đi đến
kết quả và hiểu những điều kiện cần thiết để triển khai các cách thức đó).
Thực chất của việc hình thành kỹ năng là hình thành cho học sinh nắm
vững một hệ thống phức tạp các thao tác nhằm làm biến đổi và sáng tỏ những
thông tin chứa đựng trong bài tập, trong nhiệm vụ và đối chiếu chúng với
những hành động cụ thể. Muốn vậy, khi hình thành kỹ năng cho học sinh,
người giáo viên cần phải thực hiện các thao tác sau:
Thứ nhất, giúp cho học sinh biết cách tìm tòi để nhận xét ra yếu tố đã
cho, yếu tố phải tìm và mối quan hệ giữa chúng trong các tình huống và trong
các bài tập.
Thứ hai, giúp học sinh hình thành một mô hình khái quát để giải quyết
các bài tập, các đối tượng cùng loại.
Thứ ba, giúp học sinh xác lập được mối liên quan giữa bài tập mô hình
khái quát và các kiến thức tương xứng
Kĩ năng được xem xét nghiêng về kĩ thuật của thao tác, hành động hay
hoạt động. kĩ năng được xem xét nghiêng về mặt năng lực của con người.
theo quan niệm này thì kĩ năng vừa mang tính ổn định vừa mang tính linh
hoạt, mềm dẻo.
1.1.3.2. Kĩ năng viết văn miêu tả con vật cho HS lớp 4
Sản phẩm của phân môn TLV là các ngôn bản ở dạng nói và viết theo
các dạng lời nói, kiểu bài văn do chương trình quy định. Nói cách khác, mục
đích của TLV là tạo lập được ngôn bản. Vì vậy nhiệm vụ cơ bản của dạy học
24
TLV là giúp HS tạo ra được các ngôn bản nói và viết theo phong cách khác