SKKN Rèn kĩ năng viết văn miêu tả loài vật cho học sinh lớp 4 - Pdf 26

Sáng kiến kinh nghiệm
I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
a.Lý do khách quan:
Con người sống trong xã hội tất nhiên không thể thiếu hoạt
động giao tiếp. Ngôn ngữ là một phương tiện quan trọng với chức
năng phục vụ cho tư duy và giao tiếp. Ở Tiểu học, môn Tiếng Việt
có chức năng rèn luyện kó năng về ngôn ngữ cho học sinh. Khi học
đến chương trình lớp 4, trong các tiết Tập làm văn, học sinh có điều
kiện tiếp cận với vẻ đẹp của con người, thiên nhiên; có dòp hướng tới
cái chân, cái thiện, cái mó được đònh hướng trong các đề bài. Khi
được học về thể loại văn miêu tả, học sinh được rèn luyện cách nhìn
đối tượng trong quan hệ gần gũi giữa người và vật. Những cơ hội đó
góp phần xây dựng tình cảm yêu mến, gắn bó với thiên nhiên, làm
cho tâm hồn, tình cảm của trẻ thêm phong phú. Đó cũng là một trong
những nhân tố quan trọng trong việc hình thành nhân cách tốt đẹp
cho trẻ trong giao tiếp, trong cuộc sống.
b. Lý do chủ quan:
Hiện nay, việc đổi mới phương pháp dạy học là một yêu cầu
cấp bách trong xu thế đổi mới dạy học ở Tiểu học. Ta đã từng biết,
hiện có rất nhiều phương pháp dạy học để người giáo viên có thể lựa
chọn, sử dụng trong thực tiễn dạy học của mình.
Từ thực tiễn nêu trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Rèn kó năng
viết văn miêu tả loài vật cho học sinh lớp 4”, bước đầu tiếp cận, tìm
hiểu ở học sinh, cụ thể là ở trường Tiểu học Long Hoà , phối hợp với
việc nghiên cứu các tài liệu có liên quan cùng với các tiết thực giảng
của giáo viên trong giờ dạy-học phân môn Tập làm văn nhằm đưa ra
những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng học tập của học sinh
và lấy đó làm kinh nghiệm sau này.
2. Mục đích nghiên cứu:
Kết quả học tập của học sinh là thước đo kết quả hoạt động

học sinh sẽ đạt được kết quả học tập tốt khi giáo viên giải thích kiến
thức một cách đầy đủ, rõ ràng, còn học sinh chỉ cần nghe, tập trung
ghi nhớ đầy đủ kiến thức đó. Trong những năm gần đây, các nghiên
cứu giáo dục đã khẳng đònh việc học của trẻ em sẽ đạt được hiệu quả
cao khi các em được tích cực tham gia vào quá trình học tập.
Khi học văn miêu tả loài vật, giáo viên làm thế nào để giúp
các em có kó năng viết được bài văn đúng yêu cầu có nội dung phong
phú. Các em không cần rập khuôn theo cách hành văn mẫu hoặc e
dè, sợ sệt, thiếu tự tin khi làm một bài Tập làm văn.
Trang 2
Sáng kiến kinh nghiệm
5. Phạm vi nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu “Rèn kó năng viết văn miêu tả loài vật
cho học sinh lớp 4”, đề tài bắt đầu thực hiện từ ngày 10
tháng 4 năm 2009 đến hết ngày 1 tháng 5 năm 2009, tại lớp Bốn /3
trường Tiểu học Long Hoà .
6. Các phương pháp nghiên cứu:
1-Phương pháp điều tra
2-Phương pháp vấn đáp
3-Phương pháp phân tích
4-Phương pháp quan sát
5-Phương pháp thực hành.
II. NỘI DUNG CÔNG VIỆC ĐÃ LÀM
1. Thực trạng đề tài:
Với mong muốn thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, làm thế nào
để học sinh học tập đạt hiệu quả nhất nên ngay từ đầu năm học, tôi
đã nhanh chóng nắm bắt tình hình học tập của lớp. Được phân công
chủ nhiệm lớp Bốn/3, só số 33 học sinh, tôi tiến hành kiểm tra, nhận
xét:
 Do đặc thù lứa tuổi còn nhỏ nên vốn kinh nghiệm sống, vốn

cối nên cũng đã nắm được thể loại văn miêu tả.
2. Nội dung cần giải quyết:
Để giúp học sinh tự tin hoàn thành một bài văn miêu tả loài vật, giáo
viên cần lưu ý:
1. Cần nắm được cấu tạo của bài văn miêu tả loài vật.
2. Vận dụng tối đa kó năng quan sát khi miêu tả loài vật.
3. Cần phát huy trí tưởng tượng (so sánh, nhân hóa) khi miêu tả.
4. Biết lựa chọn những chi tiết đặc trưng làm nổi rõ đặc thù
riêng của từng loài vật.
5. Biết biểu lộ sắc thái tình cảm đối với con vật mình yêu thích
khi miêu tả.
Trên đây là một số nội dung cốt lõi cần giải quyết. Vì vậy, để đạt
được mục tiêu của đề tài, tôi đã nghiên cứu, giải quyết các nội dung
trên bằng một số biện pháp thực hiện như sau:
3. Biện pháp thực hiện:

a/ Để rèn cho học sinh có kó năng viết tốt, trước hết giáo viên
cần giúp học sinh nắm cấu tạo của một bài văn miêu tả loài vật.
Để miêu tả loài vật, tất nhiên học sinh biết rõ một bài văn phải
có đủ ba phần:
Mở bài
Thân bài
Kết bài
Trang 4
Sáng kiến kinh nghiệm
Phần mở bài, giáo viên luôn hướng dẫn học sinh cần bám vào
đề bài mà giới thiệu con vật mình sẽ tả (hoàn cảnh, thời gian, con vật
gì …)
Phần thân bài, giáo viên cần giúp học sinh nắm rõ: Khi miêu
tả con vật cần tả ngoại hình của con vật rồi mới tả thói quen sinh

Khi làm văn miêu tả con gà trống, một học sinh đã viết như sau:
“… Chú gà nhà em đã ra dáng một chú gà trống đẹp. Thân hình của
chú chắc nòch được bao phủ bởi một lớp lông nhiều màu như cam, nâu
Trang 5
Sáng kiến kinh nghiệm
đỏ, đen, xanh. Cái đầu chú thon, tròn như quả trứng. Trên đỉnh đầu là
một chiếc mào gà đỏ chót như đốm lửa. Bên dưới là hai cái tích mỏng
như hai chiếc lá và đỏ không kém gì cái mào trên đầu. Thật ngộ
nghónh là hai mắt của chú, nó cứ tròn xoe như hai hòn bi ve thu nhỏ,
sáng long lanh. Gà trống có cái mỏ cứng và chắc như hai mảnh vỏ
trấu chắp lại nhưng to hơn nhiều. Chú có bộ lông cổ màu vàng cam
mượt như tơ và lóng lánh. Đôi cánh dài, cứng cáp trông rất mạnh mẽ.
Nổi bật nhất là đôi chân săn chắc với những chiếc cựa và móng sắc
dùng làm vũ khí. Cái đuôi cong vút trông chú thật đỏm dáng…”
Học sinh chỉ cần so sánh những gì quan sát được với những vật
gần gũi quanh mình cũng đủ cho thấy sự tinh tế của các em đối với
cuộc sống.
Ví dụ : Các em đã biết so sánh màu đỏ của chiếc mào gà với
đốm lửa, độ mỏng của hai cái tích so với chiếc lá, đôi mắt được so
sánh với hai hòn bi ve thu nhỏ.
Khi dạy cho học sinh biết nhân hoá sẽ cho thấy trí tưởng tượng
của các em vô cùng phong phú.
Ví dụ: Học sinh đã viết “… Tiếng gáy to, khoẻ đã giúp chú khẳng
đònh mình là thủ lónh của đám gà trong xóm này…”
d/ Giúp học sinh biết lựa chọn những chi tiết đặc trưng làm nổi
rõ đặc thù riêng của từng con vật. Không hẳn cứ quan sát thấy
những gì là học sinh sẽ phải tả lại toàn bộ.
 Ví dụ:
Khi tả hoạt động của con mèo, cần lưu ý hoạt động đặc trưng của
mèo là bắt chuột. Một học sinh sau khi quan sát đã viết:

biếc.
Cái đầu của chú gà không bự lắm, chỉ cỡ quả chanh.
 Cái đầu của chú gà không to lắm, chỉ nhỉnh hơn quả chanh một tí.
h/ Đối với các học sinh yếu kém, vốn từ ngữ khá nghèo nàn, giáo
viên nên từng bước gợi ý, dẫn dắt để các em biết dùng ngôn từ diễn
đạt. Tránh để các em yếu kém chỉ làm bài văn miêu tả ở dạng liệt
kê.
Ví dụ: Năm vừa qua, một học sinh đã có bài viết:
“… Con gà nhà em có cái đầu nhỏ. Thân nó tròn. Có hai chân và hai
cánh. Nó có một cái đuôi. Lông nó nhiều màu ”
k/ Phải rèn cho học sinh có thói quen lập dàn ý trước khi miêu tả.
Dựa vào dàn ý đã lập, các em có cơ sở để tiến hành quan sát, lựa
chọn ngôn từ mà đúc kết thành bài văn. Chính vì mỗi con vật có đặc
điểm về hình dáng, hoạt động riêng nên cần có dàn ý chi tiết khi
miêu tả.
Ví dụ: Trước khi viết bài văn miêu tả con mèo, học sinh đã lập
dàn ý như sau:
1. Mở bài: Giới thiệu về con mèo (hoàn cảnh, thời gian…)
Trang 7
Sáng kiến kinh nghiệm
2. Thân bài:
a) Tả ngoại hình của con mèo:
- Bộ lông
- Cái đầu
- Hai tai
- Đôi mắt
- Bộ ria
- Bốn chân
- Cái đuôi
b) Tả hoạt động chính của con vật.

lời văn không bóng bẩy, mượt mà nhưng các em cũng đã có ý
tưởng, dạn dó và tự tin khi làm bài.
 100% học sinh đạt yêu cầu về hoàn thành bài viết văn miêu
tả loài vật.
 Dưới đây là một số bài viết tiêu biểu của học sinh lớp tôi khi
làm văn miêu tả loài vật.
 Để đạt được kết quả nêu trên, tôi đã thực hiện một số “kó thuật”
nhỏ sau:
1. Nên hướng dẫn học sinh cách quan sát thực tế con vật, ghi chép
vào giấy nháp những gì đã quan sát được, sau đó các em sẽ sắp
xếp, tổng hợp và lựa chọn ngôn từ để diễn giải thành bài văn.
2. Nếu không có vật thật thì cho học sinh quan sát tranh, không nên
dạy văn miêu tả chỉ có lời nói suông và trí tưởng tượng.
3. Quan tâm, theo dõi học sinh trung bình, yếu kém; động viên, giúp
đỡ thường xuyên làm cho các em trở nên tự tin, dạn dó hơn. Cổ vũ
Trang 9
Sáng kiến kinh nghiệm
những tiến bộ dù nhỏ, thông cảm với những khó khăn trong học
tập của học sinh.
4. Tổ chức cho các em cùng trao đổi nhóm để học tập những đoạn
văn hay.
5. Dáng điệu, cử chỉ của giáo viên cần phải thể hiện thái độ thân
mật, hợp tác, khuyến khích, đồng tình, tạo niềm tin cho các em.
6. Lời nhận xét của giáo viên giúp học sinh hứng thú, tự tin hơn
trong học tập. Chính sự khéo léo của giáo viên sẽ mang đến một
không khí học tập sôi nổi. Từ đó, các em trở nên hào hứng và yêu
thích môn học hơn.
7. Cần nghiên cứu kó nội dung bài dạy, có sự chuẩn bò chu đáo về
tranh ảnh, vật thật,… trước khi lên lớp.
III. KẾT LUẬN

Sáng kiến kinh nghiệm
Iv. PHỤ LỤC
 Tư liệu tham khảo:
1/ Sách Tiếng Việt lớp 4 –Tập 1,2 – NXB Giáo dục – XB năm 2005.
2/ Sách giáo viên Tiếng Việt 4 – tập 1,2 – NXB Giáo dục – XB năm
2005.
3/ “Thử đi tìm những phương pháp dạy học hiệu quả” – Lê Nguyên
Long – NXB Giáo dục – XB năm 1998.
Long Hoà , ngày 5 tháng 5 năm 2009
Người thực hiện Nguyễn Hoàng nh Nga

Trang 12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status