I. Lý do viết sáng kiến.
Môn Tiếng viết ở trờng Tiểu học có nhiệm vụ vô cùng quan trọng, đó là
hình thành các bốn kỹ năng; nghe - nói - đọc - viết cho học sinh. Tập đọc là một
phân môn của chơng trình Tiếng việt bậc Tiểu học. Đây là phân môn có vị trí đặc
biệt trong chơng trình vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển kỹ năng
đọc, một kỹ năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở bậc học đầu tiên.
Những kinh nghiệm của đời sống, thành tựu văn hoá, khoa học, những t t-
ởng, tình cảm của các thế hệ trớc và của cả những ngời đơng thời phần lớn đợc
ghi lại bằng chữ viết. Nếu không biết đọc thì còn sẽ không tiếp thu đợc nền văn
minh của loài ngời không thể sống một cuộc sống bình thờng, có hạnh phúc với
đúng nghĩa của từ này trong xã hội hiện đại.
Biết đọc, con ngời có thể tìm hiểu đánh giá cuộc sống, nhận thức các mối
quan hệ, xã hội, t duy. Biết đọc, con ngời mới có khả năng chế ngự một phơng
tiện văn hoá cơ bản, giúp họ giao tiếp đợc với thế giới bên trong của ngời khác,
thông hiểu t tởng, tình cảm của ngời khác. Đặc biệt khi đọc các tác phẩm văn ch-
ơng, con ngời không chỉ thức tỉnh về nhận thức, mà còn rung động về tình cảm,
nảy nở, khả năng hoạt động, bồi dỡng tâm hồn. Đặc biệt trong thời đại bùng nổ
thông tin, biết đọc càng quan trọng vì nó giúp con ngời sử dụng nguồn thông tin.
Đọc chính là học, đọc để tự học, học cả đời. Vì vậy dạy đọc có ý nghĩa quan
trọng.
Trong khi đó ở trờng Tiểu học, việc dạy học, bên cạnh những thành công,
còn có nhiều hạn chế. HS cha đọc đợc nh mong muốn. các em cha nắm đợc công
cụ hữu hiệu để lĩnh hội tri thức, t tởng, tình cảm chứa trong các văn bản đợc đọc.
GV Tiểu học còn lúng túng dạy tập đọc. Cần đọc bài tập đọc thế nào cho hay;
cần chữa lỗi phát âm cho HS thế nào; làm gì để HS đọc hay, diễn cảm; làm thế
nào để HS hiểu văn bản đọc; làm thế nào để phối hợp đọc thành tiếng và đọc
hiểu. . . Đó là những trăn trở của GV trong giờ dạy tập đọc. Cũng nh mọi GV
khác, tôi suy nghĩ rất nhiều về cách dạy tập đọc ở Tiểu học. Đặc biệt rèn cho HS
khả năng đọc hiểu văn bản đợc đọc. Để HS Tiều học có năng lực, có kỹ năng đọc
hiểu tốt phải dạy đọc hiểu một cách có định hớng, có kế hoạch từ lớp 1 đến lớp
5. Tăng cờng dạy học hiểu không có nghĩa là tăng thời gian tìm hiểu bài, giảm
2
Phần nội dung
I. Cơ sở lý luận
1. Khái niệm đọc:
Môn Tiếng việt ở trờng phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt
động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ đợc thể hiện trong
bốn dạng hoạt động, tơng ứng với chúng là bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Đọc
là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng chữ viết sang lời nói
có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc thành tiếng) là quá trình
chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh
(ứng với đọc thầm).
Đọc không chỉ là công việc giải một bộ mã gồm hai phần chữ viết và phát
âm, nghĩa là nó không phải chỉ là sự "đánh vần" lên thành tiếng theo đúng nh các
ký hiệu chữ viết mà còn là một quá trình nhận thức để có khả năng thông hiểu
những gì đợc đọc. Trên thực tế, nhiều chỗ ngời ta chỉ nói đến đọc nh nói đến sự
việc sử dụng bộ mã chữ - âm, còn việc chuyển từ âm sang nghĩa đã không đợc
chú ý đúng mức.
2. ý nghĩa của việc đọc:
Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hoá, khoa học, t t-
ởng, tình cảm của các thế hệ trớc và của cả những ngời đờng thời phần lơn đã đ-
ợc ghi lại bằng chữ viết. Nếu không biết đọc thì con ngời không thể tiếp thu nền
văn minh của loài ngời, không thể sống một cuộc sống bình thờng, có hạnh phúc
đúng nghĩa của từ này trong xã hội hiện đại. Biết đọc, con ngời đã nhân khả năng
tiếp nhận lên nhiều lần, từ đấy, anh ta biết tìm hiểu, đánh giá cuộc sống, nhận
thức các mối quan hệ tự nhiện, xã hội, t duy. Biết đọc, con ngời sẽ có khả năng
chế ngự một phơng tiện văn hoá cơ bản giúp họ giao tiếp đợc với thế giới bên
trong của ngời khác thông hiểu t tởng tình cảm của ngời khác, đặc biệt khi đọc
các tác phẩm văn chơng, con ngời không chỉ đợc thức tỉnh về nhận thức mà còn
rung động tình cảm, nảy nở những ớc mơ tốt đẹp, đợc khơi dậy năng lực hành
động, sức mạnh sáng tạo cũng nh đợc bồi dỡng tâm hồn. Không biết đọc, con
phép thông hiểu nội dung văn bản. Ngợc lại nếu không hiểu điều mình đang đọc
thì không thể đọc nhanh và diễn cảm đợc. Nhiều khi, khó mà nói rạch ròi ký
năng nào làm cơ sở cho kỹ năng nào, nhờ đọc đúng mà hiểu đúng hay chính nhờ
4
hiểu đúng mà đọc đợc đúng. Vì vậy, trong dạy học không thể xem nhẹ yếu tố
nào.
Nhiệm vụ thứ hai của dạy đọc là giáo dục lòng ham đọc sách cho học
sinh. Làm cho sách vở trở thành một sự tồn sùng ngự trị trong nhà trờng, đó là
một trong những điều kiện để trờng học thực sự trở thành trung tâm văn hoá. Nói
cách khác, thông qua việc dạy học, phải làm cho học sinh thích đọc và thấy đợc
khả năng đọc là có lợi ích cho các em trong cả cuộc đời, phải làm cho học sinh
thấy đó là một trong những con đờng đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí
tuệ đầy đủ và phát triển.
Để tổ chức dạy học đọc cho học sinh, chúng ta cần hiểu rõ về quá trình
đọc, nắm bản chất của kỹ năng đọc. Đặc biệt tâm lý, sinh lý của học sinh khi đọc
hay cơ chế của đọc là cơ sở của việc dạy đọc.
Nh trên đã nói, đọc là một hoạt động trí tuệ phức tạp mà cơ sở là việc tiếp
nhận thông tin bằng chữ viết dựa vào các hoạt động của cơ quan thị giác. Chúng
ta đi vào phân tích đặc điểm của quá trình này.
Đọc đợc xem nh là một hoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết với nhau,
là việc sử dụng một bộ mã chữ - âm để phát ra một cách trung thành những dòng
văn tự ghi lại lời nói âm thanh. Thứ hai, đó là sự vận động của t tởng, tình cảm,
sử dụng bộ mã chữ - nghĩa tức là mối liên hệ giữa các con chữ và ý tởng, các
khái niệm chứa đựng bên trong để nhớ và hiểu cho đợc nội dung những gì đợc
đọc.
Đọc bao gồm những yếu tố nh tiếp nhận bằng mắt hoạt động của các cơ
quan phát âm, các cơ quan thính giác và thông hiểu những gì đợc đọc. Càng
ngày, những yếu tố này càng gần với nhau hơn, tác động đến nhau nhiều hơn.
Nhiệm vụ cuối cùng của cự phát triển kỹ năng đọc là đạt đến sự tổng hợp giữa
những mặt riêng lẻ này của quá trình đọc, đó là điểm phân biệt ngời mới biết đọc
sao cho việc phân tích nội dung của bài đọc đồng thời hớng đến đọc có ý thức
bài đọc. Việc đọc nh thế nhằm vào sự nhận thức. Chỉ có thể xem là đứa trẻ biết
đọc khi nào đọc mà hiểu đợc điều mình đọc. Đọc là hiểu nghĩa chữ viết. Nếu trẻ
không hiểu những từ ta đa cho chúng đọc, chúng sẽ không có hứng thú học tập
và không có khả năng thành công. Do đó, hiểu những gì đợc đọc sẽ tạo ra động
cơ, hứng thhú cho việc đọc.
- Vấn đề ngữ điệu Tiếng Việt.
6
Theo nghĩa hẹp, ngữ điệu là sự thay đổi giọng nói, giọng đọc, là sự lên cao
hay hạ thấp giọng đọc, giọng nói. Ngữ điệu là một trong những thành phần của
ngôn điệu. Ngữ điệu gồm toàn bộ các phơng tiện siêu đoạn (siêu âm đoạn tính)
đợc sử dụng ở bình diện câu nh cao độ (độ cao thấp của âm thanh), cờng độ (độ
mạnh yếu của âm thanh hay áp suất trên một đơn vị diện tích của môi trờng
truyền dẫn), trờng độ (độ dài, ngắn của âm thanh hay thời gian thực tế của âm
thanh), âm sắc (sắc thái riêng của âm thanh). Ngữ điệu là yếu tố gắn chặt với lời
nói, là yếu tố tham gia tạo thành lời nói.
Mỗi ngôn ngữ có một ngữ điệu riêng. Ngữ điệu Tiếng Việt nh các ngôn
ngữ có thanh điệu khác, chủ yếu đợc biểu hiện ở sự lên giọng và xuống giọng
(cao độ), sự nhấn giọng (cờng độ), sự ngừng giọng (trờng độ) và sự chuyển
giọng (phối hợp cả trờng độ và cờng độ).
Trong cấu trúc của ngữ điệu có phần cứng và phần mềm. Phần cứng là
những đặc trng vốn có của các thành phần tham gia cấu thành ngữ điệu (nh đặc
trng vốn có của cao độ, trờng độ, cờng độ). Phần này mang tính bắt buộc, tính
xã hội, tính phổ phát. Phần mềm là sự sáng tạo của ngời nói, ngời đọc khi sử
dụng ngữ điệu. Phần này mang tính nghệ thuật, tính cá nhân, gắn với những tình
huống giao tiếp, những trờng hợp sử dụng cụ thể, đồng thời cũng mang tính sáng
tạo.
Nh vậy, theo nghĩa rộng, toàn bộ những phơng tiện đợc sử dụng đọc diễn
cảm nh chỗ lên giọng, xuống giọng, chỗ ngừng, tốc độ, chỗ xuống giọng v.v
đợc thống nhất lại thành một tổ hợp phản ánh đúng thái độ, tình cảm, cảm xúc
đọc thành tiếng từ 1,5 lần đến 2 lần. Nó có u thế hơn hẳn để tiếp nhận, thông
hiểu nội dung văn bản vì ngời ta không phải chú ý đến việc phát âm mà chỉ tập
trung để hiểu nội dung điều mình đọc. Vì vậy, ngay từ cuối lớp 1 đã có hình thức
đọc thầm và càng lên lớp trên thì kỹ năng này càng đợc củng cố.
* Dạy đọc thẩm là làm các việc sau:
+ Chuẩn bị cho việc dạy đọc thầm: Cũng nh khi ngồi đọc (vì ít khi đứng đọc)
thành tiếng, t thế ngồi đọc thầm phải ngay ngắn, khoảng cách giữa mặt và sách
lag 30-35cm.
+ Tổ chức quá trình đọc thầm: Kỹ năng đọc thầm phải đợc chuyển dần từ ngoài
vào trong, từ đọc to đến đọc nhỏ đến đọc mấp máy môi (đọc thầm). Giai đoạn
8
cuối lại gồm hai bớc: di chuyển mắt theo que trỏ hoặc ngón tay rồi đến chỉ có
mắt di chuyển. Giáo viên phải tổ chức quá trình chuyển từ ngoài vào trong này.
Cần kiểm soát quá trình đọc thầm của học sinh bằng cách quy định thời
gian đọc thầm cho từng đoạn và bài. Học sinh đọc xong thì báo cho giáo viên
biết, từ đó giáo viên nắm đợc và điều chỉnh tốc độ đọc thầm.
+ Đọc hiểu: Hiệu quả của đọc thầm đợc đo bằng khả năng thông hiểu nội dung
văn bản đọc. Do đó, dạy đọc thầm chính là dạy đọc có ý thức, đọc hiểu kết quả
đọc thầm phải giúp học sinh hiểu nghĩa của từ, cụm từ, câu, đoạn, bài, tức là toàn
những gì đợc đọc. Giáo viên cần có biện pháp giúp học sinh hiểu bài đọc. Bắt
đầu ừ việc hiểu nghiã từ. Việc chọn từ nào để giải thích phụ thuộc nhiều vào đối
tợng học sinh (ở địa phơng nào, thuộc dan tộc nào . . .). Giáo viên phải có hiểu
biết về từ địa phơng cũng nh có vốn từ của tiếng mẹ đẻ vùng dân tộc mình dạy
học đẻ chọn từ giải thích cho thích hợp, đồng thời phải chuẩn bị để sẵn sàng giải
đáp cho học sinh về bất cứ từ nào trong bài mà các em yêu cầu.
Nh tâm lý ngôn ngữ học đã chỉ ra, để hiểu và nhớ những gì đợc đọc, ngời
đọc không phải xem tất cả các chữ đều quan trọng nh nhau mà có thể và cần
sàng lọc để giữ lại những từ chìa khoá những nhóm từ mang ý nghĩa cơ bản. đó
là những từ giúp ta hiểu đợc nội dung của bài. Trong những bài khoá văn chơng,
đó là những từ dùng đắt tạo nên giá trị nghệ thuật của bài. Ví dụ, với bài Bến
Tiếng hót làm xanh da trời trong bài Con chim chiền chiện, Mẹ là ngọn gió
của con suốt đời trong bài Mẹ, Cây gạo làm tiêu cho những con đò cập bến
và cho những con đò về thăm quê mẹ trong bài Cây gạo. Cần tìm đợc những
mối liên hệ bên trong của văn bản để hiểu ý nghĩa hàm ẩn của nó chứ không phải
chỉ có ý nghĩa biểu hiện, tức là cần dạy cho học sinh biết đọc giữa các hàng chữ.
Nếu với những bài Bé Hoa, Ta yêu quê ta, Em yêu nhà em mà chỉ chú ý đến
những gì biểu hiện trên văn bản rồi lý giải Hoa yêu em Nụ vì em Nụ xinh, em
Nụ ngoan; Em yêu nhà em vì nhà em có hàng xoan, có chim hót, có gỗ tre Ta
yêu quê ta vì quê ta có hàng ớt, hàng càthì không cắt nghĩa đúng nguyen nhân
của tình yêu: Hoa yeu em Nụ vì đó làem của Hoa, em yêunhà em vì đó là nhà
của em, ta yêu quê ta vì đó là quê của ta, những gì gắn bó thân thiết với ta, không
ừam rõ đợc tình chị em, tình quê hơng.
10
Kỹ năng đọc thầm đợc hình thành qua việc thực hiện một hệ thông bài tập
dạy đọc hiểu. Nhng bài tập này xác định những cái đích mà việc đọc thầm của
học sinh hớng tới, đồng thời đó cũng là phơng tiện để đạt đến sự thông hiểu văn
bản của học sinh. Các bài tập này có thể yêu cầu học sinh phát hiện ra những từ
mình không hiểu, yêu cầu các em giải nghĩa một số từ trong bài, nhớ và tái hiện
những chi tiết, hình ảnh của bài. Cũng có thể yêu cầu học sinh năm ý chung của
đoạn, bài, lập đợc dàn ý, hiểu đợc giá trị nghệ thuật của một số yếu tố. ở đây
càn nói thêm về việc hiểu (mà nhiều tác giả gọi là cảm thụ) tác phẩm văn ch-
ơng, những cách nói bất thờng, mặc dầu mới ở mức độ thấp.
Hiện nay có nhiều ý kiến cho rằng cần tăng cờng dạy học hiểu ở Tiểu học,
điều đó không phải là tăng thời gian tìm hiểu bài trong giờ tập đọc, giảm thời
gian luyện đọc thành tiếng mà là tăng cờng chất lợng đọc. Phần bài tập của phân
môn tập đọc trong VBT nhằm mục đích này. Để làm các bài tập của VBT, học
sinh phải đọc, nhớ các chi tiết và hiểu nội dung bài tập đọc để chọn, nối, tô, đánh
dấu ghi đúng yêu cầu của bài. Các bài tập của VBT đợc xây dựng dới hình thức
trắc nghiệm và chuyển các hành động bằng lời thành những hành động vật chất:
Tô, nối, vẽ, đánh dấu nghi lại.
chọn, đối chiếu, cặp đôi, nêu câu hỏi và yêu cầu trả lời ngắn.
Trên thực tế dạy học Tiếng Việt, bài tập Tiếng Việt đợc sử dụng với những
mục đích khác nhau. Một bài tập có thể dùng để vào bài, dạy bài mới, củng cố,
kiểm tra. Lịch sử hình thànhlý thuyết bài tập dạy Tiếng Việt phức tạp, nhiều tác
giả,có thể chia làm 2 giai đoạn lớn tơng ứng với 2 giai đoạn phát triển của phơng
pháp dạy học Tiếng Việt: Giai đoạn 1, phơng pháp dạy học Tiếng Việt sử dụng
trực tiếp các tri thức của khoa học khác; giai đoạn 2, phơng pháp dạy học Tiếng
Việt xác lập một quan hệ mới với các khoa học tiếp cận, đi vào bản chất của đối
tợng nghiên cứu của mình để tìm ra những quy luật chi phối sự vận độngcủa nó,
phục vụ cho mục đích nghiên cứu. Điều làm cho giai đoạn 2 có sự phát triển về
chất là sự ra đời củ lý thuyết hoạt động lời nói, ở đó ngời ta quan niệm sự hình
thành, phát triển ngôn ngữ nh là hình thành phát triển một hoạt động. Hệ quả kéo
theo là việc dạy tiếng không phải là cung cấp một kho tri trức thụ động về ngôn
ngữ. Muốn hình thành, phát triển hành động nói năng phải thông qua một hệ
thống bài tập. Quan điểm hoạt động lời nói dựa trên hệ thống bài tập dạy tiếng
lên hàng u tiên. Bản thân hoạt động, nói năng (đa ngời học vào một hoạt động
12
nói năng có tính chất tâm lý hiện thực) đã bao hàm tính chất thực hành. ở giai
đoạn 1 của dạy tiếng, hệ thống bài tập không nhằm đa học sinh vào hoạt động
nói ăng mà chỉ để cung cố những tri thức lý thuyết ngôn ngữ học. Hiện nay
nhiều ý kiến cho rằng cần xây dựng hệ thống bài tập nhằm thực hiện đến mức
thành thục các thao tác nói năng cho học sinh. Hệ thống bài tập phải phản ánh đ-
ợc một cách bao quát cơ chế lĩnh hội và sản sinh lời nói. Xây dựng một hệ thống
bài tập nh vậy là nhiệm vụ bức xúc đang đặt ra trớc những ngời nghiên cứu ph-
ơng pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học.
* Các dạng bài tập
a. Bài tập đối chiếu cặp đôi
VD: Nối từ ngữ ở cột A với từ ngữ ở cột B sao cho thích hợp
b. Bài tập lựa chọn
VD: Em đánh dấu vào ô trống rớc ý mà em cho là đúng
Chính choè
Sáo sậu
Sáo đen
Câu hỏi: Tìm hoạt động của các loài chim?
Với câu hỏi này có thể chuyển thành bài tập
VD: Em hãy gạch dới nhứng từ ngữ tả hoạt động của các loài chim
Chào mào, sáo sậu, sáo đen . . . đàn đàn, lũ lũ bay đi bay về. Chúng nó gọi nhau,
trêu ghẹo nhau, trò chuyện ríu rít.
b. Khi đọc hệ thống câu hỏi nếu thấy có những ý, những từ ngữ, hình ảnh
hay mà câu hỏi cha khai thác thì ta cxó thể soạn thêm bài tập.
VD: Bài Cây gạo
Câu đầu tiên của bài Cây gạo có thể thêm bài tập
1. Em hãy đóng khung vào từ nói về loại chim nh nói về con ngời trong câu văn
sau:
Mùa xuân, cây gạo gọi đến báo nhiêu chim.
Bài tập đọc còn cần những câu hỏi để giúp học sinh hiểu đợc cả bài, hiều đợc
tình cảm cảu tác giả gửi gẳm trong đó bởi vậy phải chú ý có những bài tập để
thực hiện mục đích này. Thí dụ với bài Cây gạo.
Câu hỏi: Tại sao bác Vũ Tú Nam lại chọn cây gạo?
Em hãy đánh đấu trớc ý trả lời mà em cho là đúng nhất?
Bác Vũ Tú Nam chọn cây gạo vè cây gạo có hoc nở quang năm
Bác Vũ Tú Nam chọn tả cây gạo vì cây gạo có hoa rất đẹp và gọi đến chim
Bác Vũ Tú Nam chọn tả cây gạo vì cây gạo là một loài cây có hoa đẹp và
gắn bó thân thuộc với làng quê của bác Vũ Tú Nam.
14
ứng với một số bài tập đọc có thể soạn dạng bài tập
+ Yêu cầu học sinh chỉ ra trong bài các từ mới học, các từ mà các em không hiểu
nghĩa.
(Hình thức bài tập: Hãy ghi lại các từ mà em ch hiểu)
+ Bài tập yêu cầu giải nghĩa những từ quan trọng, từ chìa khoá của bài.
ơng pháp.
VD: Nhiều giáo viên dạy bình thờng xong xuôi rồi mới yêu cầu học sinh làm cá
bài tập trong phiếu. Nh vậy, giờ học trở nên nặng nề, thêm việc, cồng kềnh và
không nhiều thời gian để luyện đọc. Thực tiễn hiện nay về cơ sở vật chất các tr-
ờng thực hiện cha có điều kiện để dạy đọc hiểu bằng phiếu bài tập (cha có máy
tính, giấy A4), giáo viên cha đợc tập huấn nên rất ngại sử dụng phhiếu bài tập,
soạn phiếu bài tập.
III. Các biện pháp đề xuất:
Chúng tôi cho rằng để dạy đọc hiểu bằng phơng pháp sử dụng phiếu bài
tập trớc hết GV Tiểu học phải nắm vững cách soạn bài tập, sử dụng phiếu bài tập
trong giờ tập đọc, các dạng bài tập, ý nghĩa của việc sử dụng phiếu bài tập. Nhà
nớc cần quan tâm, cung cấp trang thiết bị, CSVC để có thể thực hiện sử dụng ph-
ơng pháp dạy TV nói chung và dạy tập đọc riêng. GVsau khi nắm vững các dạng
bài tập, cách soạn bài tập và cách dạy đọc hiểu bằng phơng pháp sử dụng phiếu
bài tập có thể thực hành ứng dụng vào soạn dạy những bài cụ thể.
IV. Kết quả qua việc thực hiện các biện pháp trên
1. Thực trạng ban đầu ở lớp đợc phân công chủ nhiệm (Số liệu điều tra sau
2 tuần học đầu tiên)
Sĩ số Đọc tốt Đọc khá Đọc TB Đọc yếu
49 4 21 19 5
% đạt 8.2% 42.8% 38.8% 10.2%
2. Sau khi thực tế áp dụng các biện pháp đã cho kết quả thống kê sau:
Sĩ số Đọc tốt Đọc khá Đọc TB Đọc yếu
49 24 22 3 0
% đạt 49% 44.9% 6.1% 0
V. Dạy thực nghiệm:
Giáo án thực nghiệm: bài "Thắng biển"
16
Phần kết luận
Trớc đây, tôi cảm thấy lúng túng khi dạy đọc hiểu cho học sinh Tiểu học,