PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chon đề tài
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của đất nước, nền giáo
dục Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể. Tuy nhiên, để đáp ứng
nhu cầu ngày càng cao của thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
đòi hỏi giáo dục cần có sự đổi mới toàn diện và sâu sắc. Một trong những
giải pháp quan trọng là nhanh chóng đổi mới phương pháp dạy học. Nhận
định được điều đó Đảng và nhà nước ta đã xác định rằng :“ Công nghệ thông
tin là công cụ đắc lực hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập và hỗ
trợ đổi mới quản lý giáo dục, góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng
giáo dục. Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin và ứng dụng công
nghệ thông tin trong giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa quyết
định sự phát triển công nghệ thồng tin của đất nước “
(Chỉ thị số
55/2008/CT- BGD ĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT
trong ngành GD giai đoạn 2008- 2012)
Qua thực tế các nhà khoa học sư phạm đều nhận định rằng việc nghiên
cứu ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp dạy học đã đem lại nhiều
hiệu quả rõ rệt mà phương pháp dạy học truyền thống không thể đạt được.
Công nghệ thông tin tạo ra môi trường dạy học đa phương tiện kết hợp
những hình ảnh, video, âm thanh, văn bản, biểu đồ , mô phỏng… được trình
bày qua máy tính theo kịch bản vạch sẵn nhằm đạt hiệu quả tối đa qua một
quá trình học đa giác quan. Nhiều giáo viên đã có được những tiết dạy tốt tạo
được sự tương tác, phát huy được tính chủ động và sáng tạo của người học
nhờ sử dụng công nghệ thông tin trong thiết kế bài giảng và hỗ trợ các hoạt
động dạy học.
Những thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh: kênh hình,
kênh chữ, âm thanh sống động làm cho người học dễ thấy, dễ tiếp thu và
18.1 SGK [4], qua thí nghiệm học sinh chỉ có thể dừng lại ở việc nhận biết
2
hiện tượng (có sự thay đổi tần số trong quá trình nguồn âm chuyển động so
với máy thu) mà khó giải thích được tại sao lại có hiện tượng như vậy. Khi
dùng mô hình lý thuyết để giải thích sẽ không trực quan, khó thể hiện được
tại sao khi khoảng cách các đỉnh sóng thay đổi thì tần số nghe được lại thay
đổi.
Ngoài ra, hiệu ứng Đốp-le có nhiều ứng dụng trong thực tế. Trong lớp
học không có điều kiện quan sát, nghiên cứu các ứng dụng đó.
Hiện nay, có rất nhiều phần mềm ứng dụng trong dạy học các bộ môn
nói chung và các phần mềm chuyên biệt sử dụng trong giảng dạy môn vật lí.
Các phần mềm này rất hữu ích cho hỗ trợ giảng dạy theo phương pháp dạy
học tích cực như các phần mềm: MS PowerPoint, Crocodile physics, Phet ,
…. Ta có thể kết hợp sử dụng các phần mền này một cách thích hợp để giúp
cho học sinh những cái nhìn sâu sắc và trực quan về hiệu ứng Đốp-le trong
sóng âm – Một hiệu ứng có rất nhiều ứng dụng trong thực tế đời sống hàng
ngày.
Vì những lý do trên tôi chọn đề tài : Tích cự hóa hoạt động nhận thức
của học sinh khi dạy học bài Hiệu ứng Đốp-le với sự hỗ trợ của công nghệ
thông tin.
2.Mục tiêu đề tài
Nghiên cứu một số sản phẩm CNTT trong dạy học vật lý cụ thể, nhắm
phát huy tính tích cực của học sinh trong việc chiếm lĩnh kiến thức trong bài
Hiệu ứng Đốp-ple (Vật Lí 12 nâng cao).
3.Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Quá trình chiếm lĩnh kiến thức của học sinh một cách tích cực khi hoc
bài Hiệu ứng Đốp-ple nhờ sự hỗ trợ của CNTT.
- Nghiên cứu thực tiễn việc dạy bài Hiệu ứng Đốp-le ( Vật Lí 12 Nâng
cao)
- Tham khảo ý kiến của các chuyên gia giáo dục và chuyên gia công
nghệ thông tin.
4
- Tổng kết kinh nghiệm: tìm hiểu kinh nghiệm việc xây dựng và sử
dụng kết hợp các sản phẩm CNTT trong dạy học vật lí.
6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
6.4 Phương pháp thống kê trong giáo dục
7 Đóng góp của khóa luận
7.1 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu lý luận làm sáng tỏ vấn đề sau:
Vai trò của việc sử dụng các sản phẩm CNTT hỗ trợ dạy học nhằm phát
huy hoạt động nhận thức của học sinh một cách tích cực.
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Những kết luận sư phạm góp phần làm rõ vai trò của ứng dụng công
nghệ thông tin vào để tích cự hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong
dạy học bài Hiệu ứng Đốp-le. Nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
8. Cấu trúc khòa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, Khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1 : Cơ sở lý luận và thực tiễn của ứng dụng công nghệ
thông tin trong dạy học Vật lí
1.1. Các ứng dụng cơ bản của công nghệ thông tin trong dạy học Vật lí
1.2. Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học Vật lí
1.3. Tổ chức quá trình dạy học Vật lí dưới sự hỗ trợ của các phần mền
dạy học theo hướng phát huy tính tích cự hoạt động nhận thức của học sinh
trong dạy học Vật lí
tập sinh động [7].
6
Việc sử dụng multimedia trong dạy học Vật lí cho phép trình bày các
hình ảnh đẹp, quan sát các hiện tượng vật lí hay các thí nghiệm vật lí không
có điều kiện thực hiện trên lớp học; đảm bảo tính chân thực của các đối tượng
nghiên cứu trước mắt người học. Việc sử dụng các tài liệu điện tử như vậy
giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn các hiện tượng vật lí, tiếp thu nhanh chóng
kiến thức vật lí; làm tăng niềm tin vào tri thức, kích thích hứng thú, tạo động
cơ trong quá trình dạy học.
1.1.2 Công nghệ thông tin hỗ trợ mô phỏng hiện tượng vật lí
Mô phỏng bao gồm sự mô hình hóa các hệ thống tự nhiên hay xã hội và
cho mô hình vận động nhằm hiểu được sâu sắc chức năng của hệ thống qua
việc lựa chọn ra các đặc điểm hay các hành vi đặc thù của các đối tượng và
việc sử dụng các phương pháp gần đúng và các tiên đề đơn giản trong khi mô
phỏng. Mô phỏng nhờ máy vi tính (computersimulation) là sự xây dựng mô
hình một đối tượng thật trên máy vi tính giúp cho việc nghiên cứu hoạt động
của đối tượng đó, với việc thay đổi các biến số của mô hình, cho phép ta dự
đoán về hành vi của đối tượng [6, trang 16]
Mô phỏng các đối tượng nghiên cứu vật lí nhờ máy vi tính theo quan
điểm của lí luận dạy học hiện đại là một phương pháp nhận thức. Nó xuất
phát từ các tiên đề hay các mô hình (các phương trình hay các nguyên lí vật
lí) được viết dưới dạng toán học, thông qua vận dụng các phương pháp tính
toán trên mô hình nhờ máy vi tính để giải quyết các nhiệm vụ sau:
a, Mô phỏng, minh hoạ các hiện tượng, quá trình vật lí một cách trực
quan và chính xác hơn để dễ quan sát và nghiên cứu.
Không phải các quá trình nào xảy ra trong tự nhiên cũng dễ quan sát.
Đối với chuyển động của chiếc thuyền, đoàn tàu thì việc quan sát để xác định
Hình 1.1: Mô phỏng chuyển động của các phân tử khí [15]
b, Mô phỏng các hiện tượng, quá trình vật lí để qua đó tìm ra các kiến
thức mới (mối quan hệ, quy luật mới...) bằng con đường nhận thức lí thuyết
Ngoài khả năng mô phỏng một cách trực quan và chính xác các hiện
tượng, quá trình vật lí, máy vi tính còn có thể tạo điều kiện cho người nghiên
cứu đi sâu vào và tìm ra các mối quan hệ có tính bản chất của các hiện tượng,
quá trình vật lí. Sở dĩ thực hiện được điều đó là do các chức năng ưu việt
trong việc tính toán và xử lí số liệu của máy vi tính. Máy vi tính có khả năng
rút ngắn thời gian tính toán, đặc biệt là khă năng có thể tìm ra lời giải các bài
toán mà trong điều kiện ở trường phổ thông với công cụ toán học còn thiếu và
không được bổ sung thì không có khả năng giải được.
Thêm vào đó, máy vi tính có khả năng hiển thị các kết quả tính toán, xử
lí số liệu dưới nhiều dạng trực quan khác nhau tạo điều kiện cho người nghiên
cứu dễ phát hiện ra các mối quan hệ chứa đựng trong đó. Kết quả mà máy
tính đưa ra không phải được phát biểu “bằng lời” (dưới dạng văn bản), mà
biểu thị dưới dạng số, bảng biểu, đồ thị hay các hình ảnh động. Từ các dạng
đó cho ta biết tồn tại các mối quan hệ mới có tính qui luật trong hiện tượng,
quá trình vật lí đang nghiên cứu. Như vậy, việc tìm ra các mối quan hệ mới
9
này là trên phương diện tính toán lý thuyết. Kết quả này có được chấp nhận
hay không là phải được kiểm tra bằng thực nghiệm.
Để tìm ra các kiến thức mới bằng con đường lý thuyết nhờ mô phỏng
bằng máy vi tính, cần tiến hành theo các bước sau:
- Như mọi con đường nhận thức, quá trình nhận thức tìm ra kiến thức
mới bằng con đường lý thuyết ở đây bắt đầu từ "vấn đề" ( Hiện tượng, quá
trình vật lí có vấn đề mà khi sử dụng những kiến thức cũ không thể giải quyết
tiện, thiết bị đo thông thường trong phòng thí nghiệm việc nghiên cứu nó hết
sức khó khăn. Để giải quyết các khó khăn đó, ngoài phương pháp mô phỏng
trên máy tính người ta còn sử dụng một số phương pháp khác như phương
pháp đánh tia lửa điện, phương pháp dùng thì kế hiện số và các cửa chắn
quang điện, phương pháp chụp ảnh hoạt nghiệm…. Tuy nhiên, với các thiết bị
thực hiện theo phương pháp này thì lĩnh vực nghiên cứu và không gian nghiên
cứu bị giới hạn, số liệu đo được không hoàn toàn chính xác, mất rất nhiều thời
11
gian và công sức. Để khắc phục các hạn chế kể trên, một trong các phương
pháp mới được đưa ra là phương pháp phân tích các băng ghi hình.
Trong phương pháp phân tích các băng ghi, trước hết, các quá trình vật
lí thật được ghi vào băng hình nhờ một máy Videocamera có gắn thêm một
thước đo toạ độ và một đồng hồ đo thời gian. Sau đó, hình ảnh trong băng ghi
hình được quay lại trên Tivi hay chiếu lại trên màn ảnh to. Nhờ chức năng có
thể quay hình chuyển động chậm lại và làm hình đứng im lại của máy (chức
năng Stand by) cho phép ta quan sát cẩn thận quá tŕnh vật lí thực và xác định
chính xác từng cặp giá trị của toạ độ và thời điểm tương ứng của vật. Hơn
nữa, nhờ chức năng quay lại băng ghi hình của máy, ta có thể quan sát quá
trình vật lí đang nghiên cứu nhiều lần với các mục đích khác nhau tạo điều
kiện thuận lợi cho việc quan sát các đối tượng nghiên cứu. Tuy nhiên phương
pháp này thường mất nhiều thời gian trong khi thu thập, sử lí số liệu và việc
trình bày kết quả thí nghiệm một cách chính xác.
Để rút ngắng thời gian thu thập và sử lí số liệu cũng như trình bày kết
quả một cách chính xác, người ta đưa ra phương pháng phân tích băng đĩa
hình nhờ máy tính và các phần mềm tương ứng. Nguyên tắc của phương pháp
này là như sau: vì máy vi tính chỉ làm việc, tính toán với các cơ sở dữ liệu số,
vì thế trước hết các tín hiệu của băng ghi hình phải được chuyển hóa thành
kết quả là hoàn toàn dễ dàng, chính xác, nhanh chóng và có tính thẩm mỹ cao.
- Phạm vi nghiên cứu rộng hơn mà thời gian nghiên cứu lại được rút
ngắn đáng kể so với các phương pháp khác.
- Trang thiết bị không tốn kém lắm.
13
Mặc dù có khá nhiều ưu điểm cơ bản song ở phương pháp này có một
số khó khăn chủ yếu về kĩ thuật như: các băng ghi hình về các hiện tượng,
quá trình vật lí cần phải được số hoá, tốn dung lượng lưu trữ, giáo viên và học
sinh cần làm quen với việc sử dụng các phần mềm này.
b, Máy vi tính hỗ trợ các thí nghiệm Vật lí được ghép nối với máy vi
tính
Ứng dụng đặc biệt nhất của máy tính trong việc giảng dạy Vật lí là hỗ
trợ các thí nghiệm Vật lí được ghép nối với máy vi tính.
Hình 1.4
Bộ thí nghiệm đệm không khí ghép nối với máy tính
Để hỗ trợ được các thí nghiệm vật lí máy vi tính cần được ghép nối với
các thiết bị thí nghiệm. Dưới đây là sơ đồ hệ thống thiết bị thí nghiệm ghép
nối với máy vi tính về mặt nguyên tắc [17].
Sơ đồ 1.1: Hệ thống thiết bị thí nghiệm ghép nối với máy vi tính về mặt
nguyên tắc
Bộ cảm biến (sensor)
Thiết bị ghép tương thích (interface)
14
cần máy vi tính và được lắp ngoài máy vi tính ví dụ như Science Workshop
500 Interface, Science Workshop 700 Interface hay Science Workshop 750
Interface của hãng Pasco (Mĩ).
Sau khi các tín hiệu đã được số hoá, có thể sử dụng máy vi tính (đã cài
đặt phần mềm thích hợp) để tính toán, xử lí các tín hiệu số này theo mục đích
của người nghiên cứu. Ví dụ như ta có thể lập bảng số liệu về mối quan hệ
giữa các đại lượng mà bộ cảm biến đã thu thập được hay vẽ đồ thị về mối
quan hệ này, …
Như vậy tiến trình làm thí nghiệm Vật lí được ghép nối với máy vi tính
cũng tương tự như tiến trình thí nghiệm Vật lí thông thường gồm các bước
như sau:
- Bước 1: Tiến hành thí nghiệm để có thể quan sát được hiện tượng,
quá trình vật lí cần nghiên cứu.
- Bước 2: Thu thập số liệu đo. Khâu thu thập số liệu đo là khâu hết sức
quan trọng trong thực nghiệm. Ở các thí nghiệm không ghép nối máy vi tính,
công việc này thường được làm thủ công và thường tốn nhiều thời gian, công
sức, ở nhiều thí nghiệm công việc này là khó khăn đối với giáo viên và học
sinh. Song ở các thí nghiệm được hỗ trợ của máy vi tính các số liệu đã được
tự động thu thập nhờ bộ cảm biến rồi truyền đến bộ ghép tương thích đưa vào
máy vi tính. Do được tự động hoá hoàn toàn nên việc thu thập số liệu đo này
ở thí nghiệm ghép nối với máy vi tính xảy ra cực kì nhanh, trong vài chục
giây, ta có thể có ngay các số liệu đó trên màn hình máy tính.
- B ước 3: Xử lí số liệu đo (thông qua tính toán, đối chiếu, so sánh...)
và trình bày kết quả xử lí. Trên các số liệu đã thu thập được, cũng nhờ máy vi
16
tính và phần mềm, ta có thể phân tích, xử lí số liệu (theo các chương trình do
phần mềm định sẵn). Ý định phân tích, xử lí số liệu như thế nào là hoàn toàn
này chỉ mất độ vài giây, cho ngay kết quả trên màn hình. Việc hiển thị các kết
quả trên màn hình cũng rất rõ ràng, khoa học và tiện lợi với các màu sắc làm
nổi bật những dấu hiệu cần quan tâm, như mối quan hệ giữa thời gian và nhiệt
độ của mỗi vật liệu trên cùng một biểu đồ.
Từ việc so sánh trên, cho ta thấy thí nghiệm được hỗ trợ bằng máy vi
tính có một số ưu điểm sau:
- Có tính trực quan cao hơn trong việc tŕnh bày số liệu đo, hiển thị kết
quả .
- Tiết kiệm rất nhiều thời gian do thu thập cũng như xử lí số liệu hoàn
toàn tự động.
- Cho phép thu thập nhiều bộ dữ liệu thực nghiệm trong thời gian rất
ngắn.
- Độ chính xác cao của các số liệu đo cũng như kết quả tính toán cuối
cùng do sử dụng các thiết bị hiện đại và phương pháp tính hiện đại.
- Tiết kiệm thời gian lắp đặt thí nghiệm (vì nói chung các thiết bị vi
tính và các thí nghiệm ghép nối với chúng có ít chi tiết hơn).
- Để có thể sử dụng được các thí nghiệm có ghép nối với thiết bị vi tính
thì không đòi hỏi ở người sử dụng biết kiến thức đặc biệt về kĩ thuật vi tính,
và không cần biết về ngôn ngữ lập trình.
Mặc dù thí nghiệm được ghép nối với máy vi tính có nhiều ưu điểm,
song hiện nay ở nước ta chủ yếu mới sử dụng trong các trường đại học, còn
chưa được sử dụng ở đa số các trường phổ thông. Vì những lí do sau:
- Người sử dụng cần có thời gian làm quen máy vi tính.
- Các thiết bị như các bộ cảm biến, các thiết bị ghép tương thích và
thiết bị thí nghiệm tương ứng tương đối đắt tiền.
- Đặc biệt ở Việt nam còn quá ít các nghiên cứu về lý luận cũng như
thực tiễn về vấn đề này để có những đánh giá đúng mức độ quan trọng của nó.
Điều kiện hiện nay, một trong các vấn đề đặt ra đối với các nhà nghiên
cứu cũng như giáo viên là từng bước nghiên cứu về việc sử dụng phối hợp hai
loại thí nghiệm để đạt được hiệu quả dạy học cao nhất.
- Tính tích cực sử dụng: qua việc vận dụng các công cụ, khái niệm,
định lí, định luật,… để giải quyết một nhiệm vụ học tập nào đó các em phải
phân tích, suy nghĩ, tìm tòi để tự lực đưa ra những phương án khác nhau, nhờ
đấy mà nhu cầu, hứng thú nhận thức và óc sáng tạo phát triển.
19
- Tính tích cực sáng tạo: đây là mức độ phát triển cao nhất của tính tích
cực. Nó đặc trưng cho những suy nghĩ riêng của mình, vượt ra khỏi khuôn
mẫu, máy móc nhằm tạo ra cái mới, cái bất ngờ, có giá trị. Tạo điều kiện cho
sự phát triển các khả năng và tiềm năng sáng tạo của cá nhân.
Tích cực hóa là một tập hợp các hoạt động của thầy giáo và các nhà
giáo dục nói chung, nhằm biến người học từ thụ động thành chủ động, từ đối
tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả
học tập.
Khi nghiên cứu về vấn đề tích cực hóa hoạt động nhận thức của học
sinh, hệ thống đề tài về vấn đề này hết sức phong phú và đa dạng bao gồm
những vấn đề lí thuyết và thực tiễn, những vấn đề chung và vấn đề riêng. Ta
đi nghiên cứu những vấn đề quan trọng sau: những biểu hiện của tính tích cực
nhận thức, đặc điểm của tính tích cực nhận thức của học sinh, những nhân tố
ảnh hưởng tới tính tích cực nhận thức, hứng thú và vấn đề tích cực hóa, các
biện pháp tích cực hóa hoạt động nhận thứ.
1.2.1 Những biểu hiện của tính tích cực nhận thức
a. Những dấu hiệu biểu thị tính tích cực
Thứ nhất, những dấu hiệu bề ngoài qua thái độ, hành vi và hứng thú
Hứng thú nhận thức là thái độ, là sự lựa chọn của cá nhân về đối tượng
nhận thức, trong đó cá nhân không chỉ dừng lại ở những đặc điểm bên ngoài
của sự vật, hiện tượng mà hướng vào các thuộc tính bên trong của sự vật hiện
tượng muốn nhận thức. Hứng thú nhận thức là động cơ quan trọng của quá
b, Mức độ tích cực của học sinh
Tính tích cực nhận thức của học sinh trong quá trình học tập có nhiều
mức độ biểu hiện khác nhau. Thí dụ:
- Mức độ hoạt động của học sinh trong giờ học: Thụ động hoàn toàn
(đơn thuần ghi chép), nhận biết không chủ định (giáo viên nói gì nghe đấy,
không phân biệt đúng sai), nhận biết có chủ định (tiếp thu có chủ định, ghi
chép theo ý riêng của mình), tích cực suy nghĩ, tìm tòi, tham gia giải quyết
vấn đề.
- Sự tập chung chú ý của học sinh trong tiến trình bài học: hoàn toàn
không chú ý (nói chuyện riêng, làm việc riêng, không tập chung); chú ý giả
21
tạo ( ngồi nghiêm chỉ nhưng đầu óc trống rỗng); chăm chú theo dõi, quan sát,
tập trung chú ý cao độ.
- Hứng thú nhận thức của học sinh: không thích, bình thường (không
thể hiện thích hay không), thích, rất thích.
- Kết quả học tập: có thể đo kết quả học tập bằng 2 phương án:
+ Đánh giá kết quả nhận thức (điểm số ).
+ Đánh giá mức độ nắm vững kiến thức kĩ năng: ghi nhớ (nhớ lại, tái
hiện, nhận biết), hiểu bài ( hiểu vấn đề, có thể trình bày lại vấn đề bằng ngôn
ngữ của mình), có khả năng vận dụng, sáng tạo ( có cách giải quyết độc đáo,
nghĩ ra các cách giải quyết độc đáo).
Để nhận biết một cách đơn giản mức độ tích cực của học sinh, ta có thể
thông qua các vấn đề sau:
- Có tự giác học tập không?
- Thực hiện nhiệm vụ của giáo viên theo yêu cầu tối thiểu hay tối đa?
- Tích cực nhất thời hay thường xuyên?
- Tích cực càng cao hay càng giảm?
Học sinh làm việc một mình
Tự học, kết hợp với tổ nhóm và sự
giúp đỡ của thầy giáo
Dạy thành từng bài riêng biệt
Hệ thống bài tập
Coi trọng độ sâu của kiến thức,
Coi trọng trí nhớ
không chỉ nhớ mà suy nghĩ, đặt ra
nhiều vấn đề mới
Làm mô hình, sơ đồ, bộc lộ cấu trúc
Ghi chép tóm tắt
của bài học giúp học sinh dễ nhớ và
vận dụng
Chỉ dừng lại ở câu hỏi, bài tập
Thực hành, nêu ý kiến riêng
Không gắn lý thuyết với thực Lý thuyết kết hợp với thực hành, vận
hành
dụng kiến thức vào cuộc sống
Dùng thời gian học để nắm kiến Cổ vũ học sinh tìm tòi, bổ sung kiến
thức do thầy truyền thụ
thức đã có
Nguồn kiến thức hạn hẹp
Nguồn kiến thức rộng rãi
- Tính tích cực của các đối tượng, lứa tuổi, trình độ… khác nhau là rất
khác nhau. Vì thế để đề suất những biện pháp giáo dục thích hợp giáo viên
cần chú ý tới đặc điểm này.
1.2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến tính tích cực nhận thức
Tính tích cực nhận thức của học sinh tuy nảy sinh trong quá trình học
tập nhưng nó lại chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố và là hậu quả của nhiều
nguyên nhân có những nguyên nhân phát sinh trong lúc học, có những nguyên
Như vậy, có thể nói tính tích cực nhận thức của học sinh chịu ảnh
hưởng của rất nhiều nhân tố. Nhưng nhân tố nhà trường đặc biệt người thầy
khi đứng lớp giữ vai trò quan trọng nhất trong việc tích cực hóa hoạt động
nhận thức của học sinh. Nhà trường cần phối hợp các nhân tố trên để phát huy
tinh thần tích cực học tập của các em nhằm nâng cao chất lượng học tập.
Trong các nhân tố trên có những nhân tố ảnh hưởng hàng ngày cũng có
những nhân tố chỉ ảnh hưởng trong quá trình lâu dài, dưới ảnh hưởng của rất
nhiều tác động. Vì vậy, việc tích cực hóa hoạt động nhân thức của học sinh
24
đòi hỏi một kế hoạch lâu dài và toàn diện khi phối hợp hoạt động của gia
đình, nhà trường và xã hội.
1.2.4 Các biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức
Phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh không phải là vấn đề
mới. Từ thời cổ đại các nhà sư phạm tiền bối như Khổng Tử, Aristot… đã nói
đến tầm quan trọng to lớn của việc phát huy tính tích cực, chủ động của học
sinh và đã nêu ra được nhiều cách phát huy tính tích cự của học sinh. Từ đó
đến nay có rất nhiều các nhà sư phạm đã nghiên cứu về vấn đề này và đã có
nhiều công trình nghiên cứu thành công về vấn đề này. Ở Việt Nam các nhà lý
luận dạy học cũng đã viết nhiều về tính tích cực nhận thức.
Gần đây, tư tưởng dạy học tích cực sáng tạo đã là một chủ trương quan
trọng của Đảng, nhà nước và của ngành giáo dục nước ta. Để nâng cao tính
tích cực nhận thức của học sinh có rất nhiều biện pháp, ta có thể chia thành
các nhóm biện pháp như sau:
a, Nhóm biện pháp cho giáo viên đứng lớp
Nhóm biện pháp này rất quan trọng vì nó tác động trực tiếp đến học
sinh và về thời gian thì dạy học chiếm hơn 80% hoạt động của nhà trường. Nó
rất phong phú, đa dạng bao gồm một số vấn đề sau: