Khãa luËn tèt nghiÖp ®¹i häc
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bản thân sự tồn tại của mỗi cá nhân trong xã hội, ấy là sự dung hòa của hai mặt đạo đức và
tài năng. Mỗi con người được khẳng định là đã phát triển toàn diện trong xã hội mới ngày
nay thì bản thân mỗi cá nhân con người không thể thiếu được một trong hai nhân tố đó.
Chỉ một khi đạo đức được vun đắp và bồi dưỡng đúng cách thì khi đó tài năng mới có thể
được xây dựng và phát triển đúng hướng. Chính vì thế, vấn đề đạo đức và xây dựng đạo
đức luôn luôn là một trong hai mặt mà đòi hỏi mỗi cá nhân, mỗi bản thể con người phải
luôn xem trọng để từ đó phát triển toàn diện và hoàn thiện bản thân mình.
Con người sống có đạo đức, có tình người , có trên, có dưới_ đó là nguyên tắc sống của
con người và cũng chính là truyền thống hàng ngàn đời của dân tộc ta. Tư tưởng đó luôn
ăn sâu và ghim chặt trong trái tim mỗi người con đất Việt. Như vậy, để chúng ta có thể
hiểu rõ rằng việc xây dựng đạo đức đó không phải là việc làm cá nhân của một ai mà đó là
trách nhiệm gìn giữ và phát triển cả một nền văn hóa dân tộc nhân nghĩa mà cha ông ta đã
để lại. Hàng nghìn năm máu lửa đã đi qua, hàng nghìn năm vất vả cũng đã rời xa chúng ta,
đã và đang có rất nhiều minh chứng cho nhân cách đạo đức sống của một con người đã làm
rạng danh lịch sử con người Việt mà chúng ta có thể liệt kê một cách đầy tự hào như:
Nguyễn Trãi, Lê Lợi, Trần Nhân Tông,…. một trong những minh chứng về nhân cách đạo
đức tiêu biểu và cốt cách nhất ấy chính là tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với tư tưởng
đạo đức cốt lõi ấy chính là nhân nghĩa và tình yêu thương con người.
Trong thời đại ngày nay, với xu thế mở cửa hội nhập nền kinh tế thế giới, Việt Nam đang
có những bước chuyển mình đáng kể. Những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trong
hơn 20 năm đổi mới vừa qua đã khẳng định một Việt Nam đang đi lên theo hướng tích cực
trong con mắt bạn bè quốc tế. Song, cùng với những phát triển nhanh chóng về kinh tế thì
cũng kéo theo những biến đổi về mặt đạo đức của cả cộng đồng người trong xã hội Việt
Nam. Sự biến đổi về tưu duy đạo đức và lối sống của mối con người dù là theo chiều
hướng tiêu cực hay tích cực trong giai đoạn hiện nay cũng là một vấn đề quan trọng mà
chúng ta cần phải quan tâm nhằm có phương hướng xây dựng đạo đức cho đúng đắn và
phù hợp.
Xuất phát từ thực tế đất nước và chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta đề ra.
ngoài nước, đề cập được đến những vấn đề cấp thiết nhất của xã hội về vấn đề đạo đức và
xây dựng đạo đức con người.
Cuốn sách “ Những vấn đề đạo đức trong điều kiện nền kinh tế thị trường – Từ góc nhìn
của các nhà khoa học Trung Quốc” do Viện thông tin khoa học xã hội thuộc Trung tâm
khoa học xã hội và nhân văn quốc gia dịch thuật ( Thông tin khoa học xã hội – chuyên đề,
1996). Có nhiều ý kiến khác nhau về quan hệ giữa đạo đức và kinh tế thị trường nói chung
và kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc nói riêng. Nhìn chung,
các quan điểm trình bày, phân tích sâu sắc và tranh luận, phản biện trên tinh thần khoa học
đã làm rõ những khía cạnh khác nhau của đạo đức trong nền kinh tế thị trường và nêu
những phương hướng cho việc xây dựng đạo đức trong điều kiện mới.
Ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay ( từ năm 1986 đến nay) sự biến đổi của điêu kiện
kinh tế xã hội đã dẫn tới sự biến đổi các giá trị, sự suy thoái các giá trị đạo đức trong gia
SV: NguyÔn Thu Giang
2
Líp: K34A - GDCD
Khãa luËn tèt nghiÖp ®¹i häc
đình, cán bộ đảng viên, nhất là đạo đức của thanh niên ngày càng nhiêm trọng. Nhiều công
trình nghiên cứu khoa học đã nghiên cứu giải quyết vấn đề này.
Trong đó, quyển sách “ Về giáo dục đạo đức cách mạng trong cán bộ đảng viên hiện nay:
thực trạng và giải pháp” do Nhà xuất bản chính trị Quốc gia Hà Nội, năm 2004 đã đề cập
đến một cách chân thực thực trạng đạo đức mà chủ yếu là đạo đức cách mạng cả về mặt
tích cực và mặt tiêu cực trong giới cán bộ, đảng viên, chiến sĩ đồng thời từ đó đưa ra những
biện pháp phù hợp cho việc xây dựng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, xây dựng
Đảng Cộng Sản lành mạnh và vững mạnh.
Quyển sách “ Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay – Vấn đề và giải pháp” do Nguyễn Duy
Khãa luËn tèt nghiÖp ®¹i häc
3.1.Mục đích nghiên cứu
Vận dụng quan điểm toàn diện của chủ nghĩa Mác – Lênin trong việc xây dựng đạo đức
con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống những vấn đề lý luận về quan điểm toàn diện theo chủ nghĩa Mác – Lênin, con
người và đạo đức con người
- Phân tích thực trạng đạo đức của con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay trên các
lĩnh vực.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp để xây dựng đạo đức cho con người Việt nam đáp
ứng nhu cấu phát triển của nền kinh tế hội nhập hiên nay của Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1.Đối tượng nghiên cứu: Khóa luận nghiên cứu vấn đề đạo đức và xây dựng đạo đức ở
Việt Nam theo quan điểm toàn diện của triết học Mác – Lênin.
4.2. Phạm vi nghiên cứu : con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
5.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên quan điểm của Chủ nghía Mác – Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đạo đức, về con người, về quan điểm
toàn diện, về Việt Nam sau thời ký đổi mới
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của
chủ nghĩa Mác – Lênin là chủ yếu.
- Ngoài ra, luận văn kết hợp và vận dụng một số phương pháp nghiên cứu như: phương
pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp lôgic và lịch sử; phương pháp thống kê, so sánh để
thực hiện đề tài.
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
6.1.Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần nâng cao nhận thức về những biểu hiện đặc thù của con người Việt
1.1.Lý luận của triết học Mác – Lênin về quan điểm toàn diện
1.1.1. Nguyên lý về mối liên hệ _ cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện
“ Liên hệ” là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự
chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của sự vật, của một hiện
tượng trong thế giới”.
Đồng thời, triết học Mác – Lênin cũng khẳng định ba tính chất cơ bản của mối liên
hệ, bao gồm:
+ Tính khách quan của mối liên hệ
+ Tính phổ biến của mối liên hệ
+ Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ
Nội dung khái lược trên về mối liên hệ phổ biến chính là cơ sở lý luận để chúng ta tìm
hiểu về quan điểm toàn diện _ một quan điểm biện chứng theo chủ nghĩa Mác – Lênin và
những người mácxit cộng sản.
1.1.2.Nội dung quan điểm toàn diện
Vì các mối liên hệ sự tác động qua lại, chuyển hóa quy định lẫn nhau giữa các sự vật,
hiện tượng và các mối liên hệ mang tính khách quan, mang tính phổ biến nên trong hoạt
động nhận thức và hoạt động thực tiễn con người phải tôn trọng quan điểm toàn diện, phải
tránh cách xem xét phiếm diện.
1.2.Quan điểm về con người
1.2.1.Quan điểm của triết học trước Mác về con người
* Quan điểm của triết học phương Đông về con người
- Trong nền triết học Trung Hoa suốt chiều dài lịch sử trên hai ngàn năm Cổ - Trung
đại, vấn đề bản tính con người là vấn đề được quan tâm hàng đầu
+ Giải quyết vấn đề này, các nhà tư tưởng Nho gia và Pháp gia đã tiếp cận từ giác
độ hoạt động thực tiễn chính trị, đạo đức của xã hội và đi đến kết luận bản tính con người
là “ Thiện” ( Nho gia) và bản tính người là “ Bất thiện” ( Pháp gia)
SV: NguyÔn Thu Giang
6
Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển của con
người luôn luôn bị quyết định bởi ba hệ thống quy luật khác nhau, nhưng thống nhất với
nhau:
+ Hệ thống các quy luật tự nhiên như quy luật về sự phù hợp cơ thể với môi
trường. Quy luật về sự trao đổi chất, về duy truyền, biến dị, tiến hóa, … quy định phương
tiện sinh học của con người.
SV: NguyÔn Thu Giang
7
Líp: K34A - GDCD
Khãa luËn tèt nghiÖp ®¹i häc
+ Hệ thống các quy luật tâm lý ý thức hình thánh và vận động trên nền tảng sinh
học của cọn người như hình thành tình cảm, khát vọng, niềm tin, ý chí
+ Hệ thống các quy luật xã hội quy định quan hệ xã hội giữa người với người
* Trong tính hiện thực của nó, con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội
Từ những quan điểm đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, con người vượt lên thế
giới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội và
quan hệ với chính bản thân con người. Cả ba mối quan hệ đó, suy đến cùng, đều mang tính
xã hội, trong đó quan hệ xã hội giữa người với người là quan hệ bản chất, bao trùm tất cả
các mối quan hệ khác và mọi hoạt động trong chừng mực liên quan đến con người.
Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên luận đề nổi
tiếng trong tác phẩm “ Luận cương về Phoiơbắc” : “ Bản chất con người không phải là một
cái trừu tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó bản chất con
người là tổng hòa những quan hệ xã hội”[3,11].
* Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử
Trong tác phẩm “ Biện chứng của tự nhiên”, Ăngghen cũng cho rằng: “ Thú vật
Hồ Chí Minh coi đạo đức là nền tảng của người cách mạng, cũng giống như gốc của
cây, ngọn nguồn của song, của suối.
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, Đảng phải “ là đạo đức, là văn mính”, thì mới
hoàn thành được sứ mệnh lịch sử vẻ vang của
Những vấn đề đạo đức đã được Hồ Chí Minh xem xét một cách toàn diện:
- Đối với mọi đối tượng – từ công nhân, nông dân đến trí thức, văn nghệ sĩ; từ các cụ
phụ lão đến phụ nữ, thanh thiếu niên nhi đồng; từ đồng bào dân tộc đến đồng bào các tôn
giáo, các nhà tu hành,…
- Trên mọi lĩnh vực hoạt động của con người – từ đời tư đến đời công.
SV: NguyÔn Thu Giang
10
Líp: K34A - GDCD
Khãa luËn tèt nghiÖp ®¹i häc
- Trên mọi phạm vi từ hẹp đến rộng – từ gia đình đến xã hội , từ giai cáp đến dân tộc,
từ các vùng – miền, địa phương đến cả nước, từ quốc gia đến quốc tế.
- Trong cả ba mối quan hệ chủ yếu của mỗi người – đối với mình, đối với người và đối
với việc
1.3.5.Nguyên tắc xây dựng đạo đức của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay
Thấm nhuần tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, Tại hội nghị TW 6(lần 2) khoá VIII
(tháng 2/1999) của Đảng cộng sản Việt nam đã đề ra cuộc vận động và xây dựng chỉnh đốn
Đảng. Trong đó Đảng đặc biệt chú trọng các nguyên tắc về xây dựng đạo đức mới mà Hồ
Chí Minh đã đưa ra.
Hội nghị TW6 khoá IX chỉ rõ: Cần phải tiếp tục thực hiện nghị quyết hội nghị lần thứ
II Ban chấp hành Trung ương khoá VIII về giáo dục - đào tạo và nhấn mạnh phải nâng cao
Những biến đổi văn hóa của Việt Nam trong những năm gần đây có sự tác động
không nhỏ tới những giá trị tinh thần mà cụ thể ở đây là những giá trị, những nguyên tắc
đạo đức của con người trong cuộc sống gia đình, xã hội:
Có thể khái quát những mặt tác động của văn hóa đối với những giá trị đạo đức của con
người ở hai mặt cụ thể sau:
* Mặt tích cực: Những biến đổi to lớn của các giá trị văn hóa đã đáp ứng được nhu
cầu hưởng thu các giá trị tinh thần của nhân dân, là một trong những yếu tố góp phần nâng
cao đời sống của nhân dân ta
* Mặt tiêu cực: Việc du nhập một cách xô bồ các loại hình văn hóa, không kiểm
soát được thường xuyên đã biến nền văn hóa Việt Nam hiện nay không còn giữ được bản
sắc và những giá trị riêng có của nó.
2.2. Thực trạng vấn đề đạo đức ở nước ta hiện nay
2.2.2.Mặt tích cực
* Đạo đức trong gia đình
- Những giá trị truyền thống quý báu như lòng yêu nước, yêu quê hương, yêu
thương đùm bọc lẫn nhau, thủy chung, hiếu nghĩa, hiếu học, cần cù sáng tạo trong lao
động, bất khuất, kiên cường vượt qua mọi khó khăn, thử thách đã được gia đình Việt Nam
giữ gìn, vun đắp và phát huy trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước.
- Qua nhiều thời kỳ phát triển, cấu trúc và quan hệ trong gia đình Việt Nam có
những thay đổi, nhưng chức năng cơ bản của gia đình vẫn còn tồn tại và gia đình vẫn là
một nhân tố quan trọng, không thể thiếu trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
* Đạo đức trong cán bộ, đảng viên
Sau gần 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, đất
nước đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử về kinh tế - xã hội. Nhận thức
của đội ngũ cán bộ đảng viên về cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự
chuyển biến tích cực, thích ứng nhanh với quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
SV: NguyÔn Thu Giang
12
Tại Đại hội IX, Đảng ta đánh giá một trong những nguy cơ thách thức của đất nước ta hiện
nay là: "tình trạng tham nhũng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ
phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng. Nạn tham nhũng kéo dài trong bộ
máy của hệ thống chính trị và trong nhiều tổ chức kinh tế là một nguy cơ lớn đe doạ sự
sống còn của chế độ ta”. Đại hội X chỉ rõ: "tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong
một bộ phận cán bộ công chức diễn ra nghiêm trọng”.
SV: NguyÔn Thu Giang
13
Líp: K34A - GDCD
Khãa luËn tèt nghiÖp ®¹i häc
* Đạo đức trong thanh niên, học sinh, sinh viên
Tình trạng giới trẻ sống buông thả, không coi trọng những giá trị đạo đức đã và
đang diễn ra ở nhiều nơi và biểu hiện ở nhiều mặt trong cuộc sống:
- Vấn đề bạo lực học đường xảy ra và ngày càng gia tăng mạnh trong những năm
gần đây.
- Học sinh mầm non biết chửi thề, nói tục, bắt chước các hành vi “nhạy cảm” quan
hệ nam nữ trong phim ảnh.
- Bên cạnh đó, tình trạng sống thử và quan hệ tình dục trước hôn nhân ngày càng
tăng cao ở thanh thiếu niên.
- Hơn nữa, một số đông bạn trẻ đang chạy theo vòng xoáy của “văn hóa tốc
độ”.
- Học sinh, sinh viên không chụi khó học tập, mua điểm,…
2.2. Nguyên nhân của sự biến đổi đạo đức ở nước ta hiện nay
2.2.1.Nguyên nhân gây biến đổi giá trị đạo đức trong gia đình
và bảo vệ Tổ quốc vang dội.
Ba là, chính sách mở cửa hội nhập kinh tế thế giới của Đảng và Nhà nước ta.
- Nguyên nhân tiêu cực:
Một là, chủ nghĩa cá nhân, công thần, kiêu ngạo, chạy theo lối sống hưởng thụ, làm
giàu bằng mọi giá.
Hai là, pháp luật không nghiêm, kỷ cương xã hội bị buông lỏng
Ba là, xã hội ta còn bị ảnh hưởng khá nặng nề bởi các tàn tích của đạo đức phong
kiến
Bốn là, xã hội ta đã và đang bị ảnh hưởng lối sống tư sản
Năm là, lối sống thiếu trung thực, cơ hội, chạy chọt vì lợi ích cá nhân, như chạy
thành tích, chạy bằng cấp, chức quyền, dự án, đề tài... khá phổ biến. Khi bị phát hiện vi
phạm pháp luật, thì chạy tội...
Sáu là, lời nói không đi đôi với việc làm, nói và làm trái với Nghị quyết của Đảng;
nói một đằng, làm một nẻo; nói nhiều, làm ít
Bảy là, suy thoái về đạo đức trong quan hệ gia đình và quan hệ cá nhân với xã hội;
lối sống buông thả, hưởng thụ.
Tám là, đạo đức nghề nghiệp sa sút, ngay cả trong những lĩnh vực được xã hội tôn
vinh, như: Y tế, giáo dục, bảo vệ pháp luật, báo chí...
* Nguyên nhân biến đổi giá trị đạo đức trong thanh, thiếu niên hiện nay
- Nguyên nhân tích cực:
Một là, thanh niên Việt Nam năng động, sáng tạo, ham học hỏi, nhiệt tình với các
phong trào Đoàn thể quần chúng.
Hai là, sự tác động của những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại.
Ba là, chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta.
* Nguyên nhân tiêu cực:
Một là, nguyên nhân bản thân,do lối sống thiếu ý thức, sống buông thả, đua đòi; đặc
biệt là giới trẻ đã lạm dụng tự do để làm những chuyện phi đạo đức
SV: NguyÔn Thu Giang
16
Líp: K34A - GDCD
Khãa luËn tèt nghiÖp ®¹i häc
Từng bước ổn định, củng cố và xây dựng gia đình ít con (mỗi cặp vợ chồng có một
hoặc hai con), no ấm, tiến bộ, bình đẳng, hạnh phúc.
3.1.2.Phương hướng xây dựng đạo đức trong cán bộ, đảng viên
Quy định số 47-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm mà Ban Chấp hành TW
vừa ban hành.
- Căn cứ Điều lệ Đảng;
- Căn cứ Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
- Căn cứ Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư
khoá XI;
- Để tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng và giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách
mạng, tính tiền phong gương mẫu của đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến
đấu của tổ chức đảng;
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG QUY ĐỊNH
Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai
cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam; cùng với việc gương mẫu chấp
hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của
Nhà nước, các quy định của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội mà mình là
thành viên, phải chấp hành nghiêm chỉnh những quy định cụ thể của Đảng về những điều
đảng viên không được làm.
3.1.3. Phương hướng xây dựng đạo đức trong thanh niên, học sinh, sinh viên
Trong bối cảnh tình hình mới của đất nước, việc giáo dục thế hệ trẻ cần được quan
tâm ở nhiều khía cạnh. Cần xây dựng môi trường xã hội lành mạnh để thanh niên được rèn
dục nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.
Thứ tư, phát huy vai trò của dư luận xã hội, tôn vinh những tấm gương sáng về đạo đức
cách mạng, lên án những hành vi đạo đức sai trái.
Thứ năm, thực hiện có hiệu quả công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng
phí, xử lý theo pháp luật và kỷ luật Đảng đối với cán bộ, đảng viên vi phạm.
3.2.3. Giải pháp xây dựng đạo đức trong thanh niên, học sinh, sinh viên
Một là, giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo thanh niên Việt Nam phát triển cao về trí tuệ,
cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức.
Hai là, nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và tinh
thần quốc tế trong sáng.
Ba là, nâng cao sức khoẻ, đời sống tinh thần, xây dựng nếp sống văn hoá và đẩy lùi tệ
nạn xã hội, tình trạng phạm pháp trong thanh niên.
Bốn là, làm tốt công tác giáo dục và tự giáo dục về thái độ và trách nhiệm của thanh
niên đối với lao động, xây dựng phong cách làm việc văn minh, khoa học.
Năm là, tổ chức tốt các hoạt động văn hoá - tinh thần cho thanh niên, quan tâm đến các
đối tượng thanh niên ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và các vùng đặc biệt khó khăn.
SV: NguyÔn Thu Giang
18
Líp: K34A - GDCD
Khãa luËn tèt nghiÖp ®¹i häc
KẾT LUẬN
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, bao gồm một hệ thống những nguyên tắc,
chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác đánh giá và điều chỉnh hành vi của mình trong
các quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với xã hội cho phù hợp với lợi ích, hạn
Khãa luËn tèt nghiÖp ®¹i häc
của những hạn chế trong đạo đức con người là nền tảng kinh tế thị trường ở nước ta đang
trong thời kỳ chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan lieu bao cấp sang nền kinh tế thị
trường, cái mới, cái cũ cùng tồn tại, đan xen nhau, cơ chế thị trường và các thể chế liên
quan đang trong quá trình hoàn thiện nhưng việc giáo dục đạo đức của con người cả về nội
dung và hình thức chưa thật sự phù hợp với điều kiện kinh tế đó, và chưa phù hợp với đặc
điểmđạo đức của từng bộ phận. Hơn nữa, một bộ phận con người Việt Nam chưa có ý thức
tự giác rèn luyện đạo đức nên chụi sự tác động nặng nề từ mặt trái của những biến động
kinh tế – xã hội trong giai đoạn hiện nay.
Xây dựng đạo đức cho con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đó là giúp cho
họ hình thành và hoàn thiện những chuẩn mực đạo đức phù hợp với vị trí mà họ đang đứng
trong xã hội trên cơ sở kinh tế hiện thực ở Việt Nam hiện nay, đồng thời không xa rời
truyền thống đạo đức dân tộc và đạo đức xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa. Để xây
dựng được một cách toàn diện đạo đức con người Việt Nam thì cần phải thực hiện một
cách thống nhất và toàn diện các phương pháp để có thể đem lại hiệu quả tốt nhất: Phát
triển giáo dục, kết hợp và thống nhất phương pháp giáo dục của ba lực lượng chính đó là
gia đình – nhà trường – xã hội, phát huy những giá trị tích cực, hạn chế các mặt tiêu cực,…
Việc xây dựng đạo đức cho con người Việt Namm đạt được hiệu quả cao khi có sự đồng
tâm hiệp lực của Đảng, Nhà nước, các tổ chức, gia đình và xã hội và bản thân mỗi người
trong quá trình thực hiện nhiệm vụ này.
Việc phát huy những ưu điểm về đạo đức của con người, khắc phục tình trạng suy
thoái của một bộ phận không nhỏ công dân nhằm đáp ứng nhu cầu thời đại là hết sức khó
khăn do nhiều nguyên nhân chủ quan và khác quan đan xen, phức tạp. Song, với định
hướng đúng đắn và những giải pháp cụ thể giải quyết từ cơ sở khách quan cho đến những
yếu tố chủ quan tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới quá trính xây dựng đạo đức cùng với
sự quan tâm của toàn xã hội, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự quản lý chặt chẽ của Nhà
nước và sự phối kết hợp chặt chẽ của các tổ chức và lực lượng xã hội, tin rằng công cuộc
xây dựng đạo đức cho con người Việt nam trong giai đoạn hiện nay nhất định sẽ đạt hiệu
quả cao.
KHXH & NV ( ĐHQG Hà Nội), Hà Nội.
13. Nguyễn Thị Mai Hoa ( 2009), Quan hệ giữa phát triển văn hóa và phát triển nhân
cách con người ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Phát triển nhân lực, số 4.
14. Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh – Khoa Triết học ( 2004) “Giáo trình đạo
đức học”, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội.
15. Vũ Thanh Hương ( 2004), “Đạo đức của sinh viên trong điều kiện kinh tế thị trường
hiện nay ở Việt Nam – thực trạng và giải pháp”, Luận án thạc sĩ, Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
SV: NguyÔn Thu Giang
21
Líp: K34A - GDCD
Khãa luËn tèt nghiÖp ®¹i häc
16. Trần Hậu Kiêm ( chủ biên) ( 1997), “Giáo trình Đạo đức học”, Nxb. Chính trị Quốc
gia, Hà Nội.
17. La Quốc Kiệt ( Chủ biên) ( 2002), “Tu dưỡng đạo đức tư tưởng”, Nxb. Chính trị Quốc
gia, Hà Nội.
SV: NguyÔn Thu Giang
22
Líp: K34A - GDCD
Khãa luËn tèt nghiÖp ®¹i häc