PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua, đất nước ta chuyển mình trong công cuộc đổi mới sâu
sắc và toàn diện, từ một nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều
thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Với công
cuộc đổi mới, chúng ta có nhiều thành tựu to lớn rất đáng tự hào về phát triển kinh tế xã hội, văn hóa - giáo dục.
Tuy nhiên, mặt trái của cơ chế thị trường cũng ảnh hưởng tiêu cực đến sự
nghiệp giáo dục, trong đó sự suy thoái về đạo đức và những giá trị nhân văn tác động
đến một phần lớn thanh niên và học sinh như: có lối sống thực dụng, thiếu ước mơ,
thiếu hoài bão, lập thân, lập nghiệp; những tiêu cực trong thi cử, bằng cấp, chạy theo
thành tích. Thêm vào đó, sự du nhập văn hoá phẩm đồi truỵ thông qua các phương
tiện như phim ảnh, game, mạng Internet… làm ảnh hưởng đến những quan điểm về
tình bạn, tình yêu trong lứa tuổi thanh thiếu niên và học sinh, nhất là các em chưa
được trang bị và thiếu kiến thức về vấn đề này.
Từ nhiều năm nay, vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường
được xem là mục tiêu hàng đầu, vì đây là sự quyết định tương lai của các em sau này,
giáo dục đạo đức cho học sinh THPT là giúp các em có nhận thức đúng trong lối
sống, tư duy và hành động. Sự hình thành phát triển về nhân cách, mục tiêu của giáo
1
Giáo viên thực hiện: Nguyễn Đức Hiếu – Tổ Khoa học xã hội
dục là nhằm định hướng cho con người thực hiện tốt cả hai mặt “Vừa hồng, vừa
chuyên” công tác giáo dục trong nhà trường tiến hành tốt là cơ sở để nâng cao chất
lượng, hành vi của con người, cho nên trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh
THPT không thể xem nhẹ.
Đánh giá thực trạng giáo dục, đào tạo Nghị quyết TW 2 khóa VIII nhấn mạnh:
“Đặc biệt đáng lo ngại là một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái về
đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập
3. Đối tượng nghiên cứu
Học sinh lớp 10, Phân hiệu Nghĩa Tâm - Trường THPT Văn Chấn.
4. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
- Đề tài được tiến hành nghiên cứu ở Phân hiêụ Nghĩa Tâm - trường THPT Văn
Chấn tỉnh Yên Bái
- Nghiên cứu về thực trạng và biện pháp giáo dục đạo đức học sinh của trường
THPT nơi tôi công tác trong năm học 2011-2012 và năm học 2012 – 2013.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đánh giá, phân tích thực trạng việc giáo dục đạo đức cho học sinh ở Phân
hiệu Nghĩa Tâm - trường THPT Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.
3
Giáo viên thực hiện: Nguyễn Đức Hiếu – Tổ Khoa học xã hội
- Đề xuất biện pháp quản lý giáo dục đạo đức học sinh ở Phân hiệu Nghĩa Tâm
- trường THPT Văn Chấn, tỉnh Yên Bái trong giai đoạn hiện nay.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận, xử lý thông tin: Nghiên cứu, phân tích, tổng
hợp, hệ thống hóa các tài liệu, văn bản liên quan đến đề tài. Những kiến thức về tâm
lý học lứa tuổi, tâm lý học sư phạm, giáo dục học và những quan điểm đường lối của
Đảng, các văn bản của Bộ giáo dục và Đào tạo về đánh giá xếp loại, khen thưởng và
kỷ luật học sinh.
- Phương pháp theo dõi, quan sát: Đánh giá công tác giáo dục đạo đức học sinh
của trường trong các năm học. Đưa ra một số kinh nghiệm biện pháp về việc thực
hiện công tác giáo dục đạo đức cho học sinh của trường trong giai đoạn hiện nay.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp quan sát các hoạt
động giáo dục đạo đức của nhà trường; Phương pháp phỏng vấn; Phương pháp thống
kê, xử lý số liệu.
6
Giáo viên thực hiện: Nguyễn Đức Hiếu – Tổ Khoa học xã hội
Chuyển hóa những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội thành những phẩm
chất đạo đức nhân cách cho học sinh, hình thành ở học sinh thái độ đúng đắn trong
giao tiếp, ý thức tự giác thực hiện các chuẩn mực của xã hội, thói quen chấp hành các
quy định của pháp luật.
3. Chức năng của đạo đức
Là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng của ý thức xã hội, đạo đức một mặt
quy định bởi cơ sở hạ tầng, của tồn tại xã hội, mặt khác nó cũng tác động tích cực trở
lại đối với cơ sở hạ tầng, tồn tại xã hội đó. Vì vậy, đạo đức có chức năng to lớn, tác
động theo hướng thúc đẩy hoặc kìm hãm phát triển xã hội. Đạo đức có những chức
năng sau:
- Chức năng giáo dục.
- Chức năng điều chỉnh hành vi của cá nhân, của cộng đồng và là công cụ tự điều
chỉnh mối quan hệ giữa người và người trong xã hội.
- Chức năng nhận thức, phản ánh.
4. Giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
- Mục đích: Giúp học sinh nhận thức được các chuẩn mực đạo đức của xã hội, rèn
luyện kỹ năng, hành vi theo các chuẩn mực đó và hình thành thái độ, ý thức trong học
sinh về đạo đức.
- Nội dung: Lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu hoà bình, có tinh thần cộng đồng và
quốc tế, có tinh thần lao động sáng tạo, có thái độ xây dựng và bảo vệ môi trường...
7
Giáo viên thực hiện: Nguyễn Đức Hiếu – Tổ Khoa học xã hội
trò của Hiệu trưởng, người quản lý chỉ đạo tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục của
nhà trường là quan trọng nhất.
- Vai trò của cấu trúc và nội dung chương trình môn Giáo dục công dân cũng góp
phần không nhỏ đối với công tác này.
5.2. Đặc điểm
Giáo dục đạo đức đòi hỏi không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ khái niệm tri thức
đạo đức, mà quan trọng hơn là kết quả giáo dục phải được thể hiện thành tình cảm,
niềm tin, hành động thực tế của học sinh.
Quá trình dạy học chủ yếu được tiến hành bằng các giờ học trên lớp; còn quá
trình giáo dục đạo đức không chỉ bó hẹp trong giờ lên lớp mà nó được thể hiện thông
qua tất cả các hoạt động có thể có trong nhà trường .
Đối với học sinh THPT, kết quả của công tác giáo dục đạo đức vẫn còn phụ
thuộc rất lớn vào nhân cách người thầy, gương đạo đức của người thầy sẽ tác động
quan trọng vào việc học tập, rèn luyện của các em.
Để giáo dục đạo đức cho học sinh có hiệu quả, yếu tố tập thể giữ vai trò hết sức
quan trọng. Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh chỉ đạt kết quả tốt khi nó có sự
tác động đồng thời của các lực lượng giáo dục: nhà trường, gia đình và xã hội.
9
Giáo viên thực hiện: Nguyễn Đức Hiếu – Tổ Khoa học xã hội
Việc giáo dục đạo đức cho học sinh đòi hỏi người thầy phải nắm vững các đặc
điểm Tâm – Sinh - Lý lứa tuổi của học sinh, nắm vững cá tính, hoàn cảnh sống cụ thể
của từng em để định ra sự tác động thích hợp.
Giáo dục đạo đức là một quá trình lâu dài, phức tạp, đòi hỏi phải có công phu,
kiên trì, liên tục và lặp đi lặp lại nhiều lần.
6. Những tác động tới việc rèn luyện đạo đức của học sinh ở trường THPT
6.1. Về tâm sinh lý học sinh
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
HỌC SINH Ở PHÂN HIỆU NGHĨA TÂM - TRƯỜNG THPT VĂN CHẤN
1. Thực trạng của công tác giáo dục đạo đức học sinh ở Phân hiệu Nghĩa Tâm
trường THPT Văn Chấn hiện nay
1.1. Thuận lợi
- Vấn đề giáo dục đạo đức cho trẻ vị thành niên nói chung, học sinh THPT ở Phân
hiệu Nghĩa Tâm – trường THPT Văn Chấn nói riêng luôn nhận được sự quan tâm của
các cấp lãnh đạo Đảng, chính quyền địa phương, sự quan tâm theo dõi phối kết hợp
của phụ huynh, nhân dân.
- Bên cạnh đó đội ngũ nhà giáo có tri thức giàu tâm huyết luôn coi trọng vấn đề giáo
duc đạo đức lối sống cho học sinh.
- Hơn thế nữa, trong những năm gần đây, vấn đề dạy và học môn Giáo dục công dân
đã và đang đổi mới và là một trong những môn có chuyển biến mạnh mẽ về đổi mới
phương pháp dạy học, dạy học đạo đức thông qua bộ môn Giáo dục công dân được
xác định là một nhiệm vụ quan trọng, là đòi hỏi cấp bách của xã hội đối với việc nâng
cao chất lượng giáo dục phổ thông.
12
Giáo viên thực hiện: Nguyễn Đức Hiếu – Tổ Khoa học xã hội
- Chương trình Sách giáo khoa Giáo dục công dân mới có nhiều đổi mới về mục tiêu,
cấu trúc, sự đổi mới này rất thích hợp cho giáo viên giảng dạy bộ môn Giáo dục công
dân cho học sinh. Thông qua bài học học sinh có thể tự hoạt động tích cực, chủ động
sáng tạo tìm tòi phát hiện và chiếm lĩnh nội dung bài học.
- Giáo viên dạy Giáo dục công dân là những người có chuyên môn nghiệp vụ vững
vàng, giàu tâm huyết với học sinh, luôn gương mẫu trong tư cách đạo đức lối sống, là
tích…đã xâm nhập vào nhà trường. Động cơ học tập vì dân giàu nước mạnh, vì lý
tưởng còn mờ nhạt. Song những mặt yếu tố này ít có dịp bộc lộ công khai trong nhà
trường, nên những người làm công tác giáo dục dễ bỏ qua.
2. Nguyên nhân làm ảnh hưởng đến đạo đức của học sinh
Từ những thực trạng trên ta thấy có nhiều nguyên nhân làm ảnh hưởng đến đạo
đức của học sinh.
- Do xúi giục của bạn bè, sự ham mờ hiểu biết, tác động của kinh tế thị trường…
- Nhiều phụ huynh học sinh chưa quan tâm đúng mức đến việc học tập và rèn luyện
đạo đức của các em.
- Việc thông tin giữa gia đình và nhà trường còn ít và chậm.
14
Giáo viên thực hiện: Nguyễn Đức Hiếu – Tổ Khoa học xã hội
- Do không xác định đúng đối tượng kết bạn, hoặc tiếp xúc với những phần tử xấu ở
bên ngoài xã hội cho nên các em dễ nảy sinh tiêu cực.
- Do trình độ văn hóa và nhận thức của nhiều phụ huynh còn hạn chế .
- Mặt trái của cơ chế thị trường ảnh hưởng đến nền văn hóa, lối sống
- Đời sống kinh tế gia đình còn khó khăn.
- Một vấn đề quan trọng nữa là hội phụ huynh học sinh chưa thường xuyên kết hợp
chăm lo giáo dục đạo đức học sinh.
- Việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh chưa được tiến hành thường xuyên, đôi
lúc còn bị buông lỏng. Nội dung, phương pháp giáo dục còn đơn điệu, còn thiếu
những biện pháp cụ thể gợi mở cho học sinh tự kiểm điểm, tự rèn luyện, tự tu dưỡng.
- Vai trò nêu gương trong việc rèn luyện đạo đức cách mạng, lối sống giản dị, trong
sáng, hết lòng vì học sinh của một vài giáo viên còn mờ nhạt, chưa trở thành tấm
gương sáng về đạo đức, lối sống cho học sinh học tập, noi theo.
3. Vai trò và nhiệm vụ của giáo dục đạo đức cho học sinh THPT hiện nay.
- Rèn luyện thói quen hành vi đạo đức để trở thành bản tính tự nhiên của mỗi cá nhân
và duy trì lâu bền thói quen này.
- Quan tâm đến giáo dục vốn sống, kỹ năng sống cho học sinh.
16
Giáo viên thực hiện: Nguyễn Đức Hiếu – Tổ Khoa học xã hội
- Giáo dục ý thức chấp hành chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật nhà nước, quy
định của địa phương, nội quy, quy chế của trường. Giáo dục truyền thống đạo đức văn
hoá của dân tộc Việt Nam.
CHƯƠNG III:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH THÔNG QUA
PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC” MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10
1. Thực trạng của việc giảng dạy chương trình môn Giáo dục công dân
Trường đã tổ chức thực hiện giảng dạy môn Giáo dục công dân đầy đủ theo đúng
quy định của chương trình, có lồng ghép giáo dục pháp luật và một số nội dung khác
17
Giáo viên thực hiện: Nguyễn Đức Hiếu – Tổ Khoa học xã hội
theo quy định vào bộ môn. Tuy nhiên thực tế việc dạy và học môn Giáo dục công dân
ở trường còn nhiều khó khăn, bất cập nên hiệu quả giáo dục đạo đức của môn học còn
thấp. Môn giáo dục công dân từ trước đến nay chưa được coi trọng, nhiều giáo viên,
học sinh, Cha mẹ học sinh vẫn xem đây là môn học phụ.
Nguyên nhân: thực trạng trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên
nhân chủ yếu sau:
đức là gì, phân biệt được đạo đức với pháp luật để từ đó điều chỉnh hành vi đạo đức
của bản thân. Đặc biệt với các phạm trù cơ bản của đạo đức học như: Nghĩa vụ, lương
tâm, nhân phẩm, danh dự và hành phúc sẽ giúp cho học sinh hiểu được ý nghĩa đích
thực của cuộc sống, hiểu được rằng hạnh phúc chân chính của con người là ở chỗ biết
gắn lợi ích của mình với lợi ích giai cấp, của dân tộc, nhân loại và đấu tranh cho sự
giải phóng thực sự con người.
Giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ có thể diễn ra dưới nhiều hình thức như giáo
dục thông qua lao động sản xuất, qua các hoạt động xã hội, qua các hình tượng văn
học, nghệ thuật, qua việc truyền đạt tri thức đạo đức, qua những tấm gương…mỗi
hình thức đều có một vị trí nhất định đối với việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ.
Sau đây tôi xin đưa ra một số giải pháp giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua phần
Công dân với đạo đức.
19
Giáo viên thực hiện: Nguyễn Đức Hiếu – Tổ Khoa học xã hội
2.1. Sử dụng phương pháp kể chuyện
Theo tôi thiết nghĩ, bên cạnh các phương pháp đã và đang thực hiện, khi dạy
phần Công dân với đạo đức giáo viên nên sử dụng các câu chuyện có ý nghĩa giáo
dục đạo đức, để thông qua đó truyền đạt tri thức cho học sinh. Những câu chuyện,
những tấm gương đạo đức sinh động sẽ có sức lôi cuốn thu hút sự chú ý hơn nữa của
học sinh đối với bài giảng vì trong giáo dục đạo đức, nêu gương là một hình thức
quan trọng. Bác Hồ nói: Một tấm gương sống còn hơn một trăm bài diễn thuyết.
Ví dụ khi giảng bài 10: Quan niệm về đạo đức, giáo viên có thể bắt đầu hoặc
kết thúc bằng câu chuyện Bác Hồ trong đời thường qua đó rút ra những kết luận về sự
giảm dị, thanh đạm của Bác Hồ, nêu cao tấm gương đạo đức sáng ngời của Bác cho
học sinh noi theo.
Hoặc khi giảng bài 11: Một số phạm trù cơ bản của đạo đức học ở đơn vị kiến
thức 1: Nghĩa vụ, giáo viên có thể sử dụng câu chuyện Lá cờ thêu sáu chữ vàng để
cấp độ cao hơn nữa đó là những tấm gương đạo mang ý nghĩa xã hội rộng lớn, có thể
gây ra những tác động có tính chất dây truyền, bùng nổ trong những tình huống nhất
định. Chẳng hạn khi giảng dạy bài Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ
quốc chúng ta lấy ví dụ như quyết tâm đánh đuổi giặc ngoại xâm của Trần Hưng Đạo
đã dấy lên tinh thần “sát Thát” hừng hực trong toàn quân; tấm gương vì nước, vì dân
21
Giáo viên thực hiện: Nguyễn Đức Hiếu – Tổ Khoa học xã hội
của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dấy lên tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”
của các chiến sĩ cảm tử quân Thủ đô năm xưa…
Cho nên không nên quan niệm tấm gương đạo đức là một cái gì cao siêu, đó là
những cái rất gần gũi, đời thường mà mỗi người đều có thể và cần phải trỏ thành tấm
gương đạo đức. Nếu làm được như thế thì mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng
dân cư và nói rộng ra là cả xã hội sẽ có một môi trường đạo đức lành mạnh, trong
sáng, đây là điều cần thiết cho sự hình thành phát triển nhân cách ở thế hệ trẻ. Vì vậy
khi giáo viên giảng dạy phần Công dân với đạo đức trong chương trình Giáo dục công
dân lớp 10. Việc đưa các tấm gương đạo đức minh họa cho các nội dung bài giảng của
phần này cần hướng đến nhận thức của học sinh đó là: những giá trị đạo đức là hết
sức cao đẹp những cũng thật giảm dị, gần gũi, tự nhiên như cuộc sống đời thường mà
mỗi chúng ta ai cũng có thể thự hiện được.
Chủ tịch Hồ Chí Minh vị lãnh tụ tối cao của Đảng ta, dân tộc ta lúc sinh thời đặc
biệt quan tâm đến sự nghiệp “trồng người”. Trong công tác giáo dục Người rất coi trọng
đến “nêu gương”. Bác đã vận dụng phương thức giáo dục của người xưa: “Dĩ nhân nhi
giáo, dĩ ngôn nhi giáo” tức là trước hết phải giáo dục bằng tấm gương sống của chính
mình, sau đó mới giáo dục bằng lời nói. Bác đã nhiều lần căn dặn giáo dục đạo đức cho
học sinh là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn xã hội. Vì vậy để giáo dục đạo đức cho
học sinh, trước hết những người làm công tác giáo dục nói phải luôn nêu gương về đạo
23
Giáo viên thực hiện: Nguyễn Đức Hiếu – Tổ Khoa học xã hội
lối sống, cần, kiệm, liêm chính chí công vô tư để tăng tính thuyết phục trong tuyên
truyền giáo dục đạo đức cho học sinh. Đó chính là yếu tố bên trong có tính quyết định
chất lượng hiệu quả giáo dục, rèn luyện đạo đức cho học sinh. Bác Hồ đã chỉ rõ
“Người Việt Nam vốn giàu tình cảm và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị
hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”.
2.3. Sử dụng phương pháp trực quan
Phương pháp trực quan là phương pháp giáo viên sử dụng đồ dùng giảng dạy
để minh hoạ cho học sinh nắm được kiến thức. Hình ảnh sự vật rất sinh động, phong
phú, cụ thể cảm tính. Nhận thức sự vật thông qua các giác quan, hình ảnh sự vật được
cảm nhận trực tiếp.
- Sử dụng tranh ảnh nó có tác dụng hệ thống kiến thức, nắm kiến thức bài giảng
tổng hợp, khái quát. Tranh ảnh là hình ảnh trực quan gây nhiều ấn tượng sâu sắc, tạo
ra tâm lý tiếp thu nhẹ nhàng. Chẳng hạn dạy đơn vị kiến thức Trách nhiệm bảo vệ tổ
quốc chúng ta đưa ra một số tranh ảnh về Thanh niên lên đường làm nghĩa vụ bảo vệ
tổ quốc, tranh ảnh rèn luyện thân thể…
- Hình thức trực quan qua video, đèn chiếu. ví dụ đơn vị kiến thức Lòng yêu
nước và truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam chúng ta có thể chiếu những
đoạn phim về tình yêu quê hương đất nước, truyền thống đánh giặc từ đó giáo dục
được lòng tự hào dân tộc từ đó học sinh ý thức được trách nhiệm của mình trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Hay giảng dạy đơn vị kiến thức Ô nhiễm môi
trường trong bài Công dân với một số vấn đề cấp thiết của nhân loại chúng ta chiếu
các đoạn phim về tình hình ô nhiễm môi trường; hay đơn vị kiến thức Bùng nổ dân số
24
Giáo viên thực hiện: Nguyễn Đức Hiếu – Tổ Khoa học xã hội