Biến đổi văn hóa làng dệt Phương La (huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình) - Pdf 34

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƢỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
********

BÙI THỊ DUNG

BIẾN ĐỔI VĂN HÓA
LÀNG DỆT PHƢƠNG LA
(HUYỆN HƢNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH)

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

HÀ NỘI, 2016


Công trình đƣợc hoàn thành tại:
TRƢỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:

PGS.TS. Bùi Xuân Đính

Phản biện 1: PGS.TS. Đinh Thị Vân Chi
Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Châm
Viện nghiên cứu Văn hóa
Phản biện 3: TS. Nguyễn Thị Việt Hương

của người Việt ở Bắc Bộ
Từ trước tới nay đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về làng
nghề, văn hóa làng nghề của người Việt ở Bắc bộ: Tác phẩm Người nông
dân châu thổ Bắc kỳ của Nhà Địa lý học Pháp Pièrre Gourou, P. Gourou
dành cả Chương 2 đưa ra vấn đề công nghiệp làng xã. Văn hóa truyền thống
làng Đồng Kỵ nghiên cứu làng Đồng Kỵ (thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh);
Ninh Hiệp truyền thống và phát triển nghiên cứu về làng - xã Ninh Hiệp
(huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội) khảo sát những nét tiêu biểu về nghề,
về cấu trúc làng xóm, di tích thờ cúng…
2.2. Những công trình nghiên cứu về biến đổi làng nghề, văn hoá làng nghề
Cuốn Làng nghề, phố nghề Thăng Long - Hà Nội của Trần Quốc
Vượng và Đỗ Thị Hảo, nêu một số quan điểm phát triển làng nghề. Làng
nghề phố nghề Thăng Long - Hà Nội trên đường phát triển chỉ ra hướng
phát triển và các giải pháp để phát triển làng nghề. Phát triển làng nghề


2
truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá phản ánh về các
nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển các làng nghề, hướng bảo tồn và phát
triển làng nghề truyền thống.
Dưới góc độ Dân tộc học/Nhân học, trong vài năm qua, nhiều công
trình bàn sâu về biến đổi của làng nghề truyền thống từ sau hòa bình lập lại
đến nay, nhất là dưới tác động của quá trình CNH- HĐH: Sự phát triển của
làng nghề La Phù nghiên cứu trường hợp về sự thay đổi của một làng nghề
qua các thời kỳ trước đây và hiện nay, nổi bật là việc hình thành các công ty
và những đóng góp của làng nghề này vào ngân sách Nhà nước. Làng nghề
thủ công huyện Thanh Oai (Hà Nội) - truyền thống và biến đổi nghiên cứu
về biến đổi của nghề, làng nghề thủ công huyện Thanh Oai.
2.3. Tổng quan các nghiên cứu về làng nghề Phương La
Làng Phương La - nơi chọn địa bàn nghiên cứu được nhắc đến trong các

dệt và văn hóa làng Phương La trong xã hội truyền thống; Khảo sát, phân
tích thực trạng biến đổi văn hóa làng dệt Phương La; Dự báo xu hướng của
văn hóa làng nghề dệt Phương La những năm tiếp theo, đề xuất giải pháp
bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của làng nghề dệt Phương La trong điều
kiện CNH - HĐH.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của Luận án
4.1. Đối tượng nghiên cứu của Luận án
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là các khía cạnh liên quan đến biến
đổi văn hóa làng nghề Phương La (thực trạng và xu hướng biến đổi, nguyên
nhân biến đổi …).
4.2. Phạm vi nghiên cứu của Luận án
- Về không gian, là làng Phương La (xã Thái Phương, huyện Hưng Hà,
tỉnh Thái Bình); đồng thời, Luận án có nghiên cứu mở rộng sang xã nghề
dệt đũi Nam Cao (huyện Kiến Xương) và dệt khăn Minh Tân (huyện Hưng
Hà) tỉnh Thái Bình.
- Về thời gian, Luận án nghiên cứu biến đổi văn hóa làng Phương La
khi nghề dệt phát triển, nhất là giai đoạn CNH - HĐH đất nước (từ Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VIII, tháng 6/1996 đến nay).
5. Hƣớng tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu của Luận án
5.1. Hướng tiếp cận
Tiếp cận Văn hóa học: là hướng tiếp cận chính yếu của Luận án.
Ngoài ra, Luận án còn tiếp cận Nhân học/Dân tộc học, tiếp cận lịch sử, tiếp
cận hệ thống.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp: Điền dã Dân tộc học, Điều tra xã
hội học; Nghiên cứu liên ngành; Thống kê; So sánh…


4
6. Kết quả và đóng góp của Luận án

nghề: là làng có phần đông cư dân sống bằng một nghề hoặc nhiều nghề thủ
công, có khi chỉ là một công đoạn của nghề, tạo ra các sản phẩm mang tính cách
riêng, thời gian làm nghề và thu nhập của nghề chiếm tỷ lệ lớn nhất so với các
hoạt động kinh tế khác; hoạt động làm nghề có ảnh hưởng lớn đến các mặt khác
của làng (kiến trúc làng xóm, nhà cửa, nhịp sống, thiết chế tổ chức và các quan
hệ xã hội, tâm lý tính cách, phong tục tập quán...).
1.1.1.2. Văn hóa làng nghề
Trên cơ sở phân tích, làm rõ định nghĩa về văn hóa làng nghề của một
số các nhà nghiên cứu đi trước, NCS xác định Văn hóa làng nghề là một
dạng đặc thù, là một phức thể các yếu tố văn hóa vật chất, văn hóa xã hội
và văn hóa tinh thần ở các làng nghề, giữa nghề và làng, giữa con người và
các yếu tố ngoài con người, có quan hệ mật thiết với nhau, ràng buộc và
phụ thuộc, tác động vào nhau, trong đó nghề giữ vị trí trung tâm. Ngoài các
yếu tố chung của văn hóa làng Việt, văn hóa làng nghề có một số yếu tố đặc
thù, như nhịp sống làng nghề, tâm lý và tính cách của người làng nghề…
* Cơ cấu văn hóa làng nghề: Văn hóa làng nghề được cấu thành bởi
các thành tố: Văn hóa vật chất (không gian, cảnh quan làng; các di tích thờ
cúng...), Văn hóa xã hội (các thiết chế, tổ chức làng xã; các giai tầng xã
hội...), Văn hóa tinh thần (phong tục, tập quán, lễ tiết, hội làng...). Có điểm
khác là nghề phát triển, chi phối các mặt đời sống xã hội của làng, vì vậy,
khi nghiên cứu văn hóa làng nghề không thể thiếu yếu tố nghề.
1.1.2. Cơ sở lý thuyết
1.1.2.1. Biến đổi văn hóa
- Luận điểm về biến đổi xã hội


6
Mọi sự vật, hiện tượng luôn vận động và biến đổi không ngừng. Sự
biến đổi đó bao gồm cả biến đổi do nội tại của bản thân sự vật, hiện tượng
và sự vận động, biến đổi do các tác nhân bên ngoài. Hiện tượng văn hóa


7
1.1.2.2. Biến đổi văn hóa làng nghề
Sự biến đổi văn hóa của các làng nghề về bản chất chính là lực lượng
sản xuất rất phát triển, phương thức sản xuất được đổi mới, nền kinh tế
hàng hóa thâm nhập sâu, rộng vào mọi mặt đời sống xã hội của người dân.
Đó là sự biến đổi giữa cái cũ và cái mới; từ cái chưa hoàn thiện đến cái
hoàn thiện. Tuy nhiên, sự biến đổi ấy bao hàm cả những yếu tố tích cực và
chưa tích cực; sự biến đổi đã có chọn lọc và cả những biến đổi chỉ mang
tính trào lưu chưa phù hợp.
Nghiên cứu biến đổi văn hóa làng nghề chính là nghiên cứu sự biến
đổi các thành tố cấu thành văn hóa làng nghề dưới tác động của các yếu tố
chính trị, kinh tế và xã hội. Sự biến đổi này bao hàm cả biến đổi về số
lượng và chất lượng, trạng thái. Biến đổi giữa cái cũ và cái mới; từ cái chưa
hoàn thiện đến cái hoàn thiện.
Nghiên cứu biến đổi văn hóa làng nghề dệt Phương La là nghiên cứu
biến đổi các thành tố Văn hóa vật chất, Văn hóa xã hội và Văn hoá tinh
thần của làng. Với làng nghề Phương La, làm nghề ảnh hưởng chi phối mọi
mặt đời sống của người dân. Vì vậy, Luận án sẽ phải tập trung nghiên cứu
về biến đổi nghề dệt truyền thống. Do điều kiện thời gian nên Luận án chỉ
trình bày khái quát các thành tố văn hóa làng nghề Phương La trong xã hội
truyền thống và một số yếu tố văn hóa hiện nay nổi bật nhất, hình thành và
diễn biến dưới tác động của CNH - HĐH: 1/Nghề dệt và văn hóa vật chất
(không gian, cảnh quan; các di tích tín ngưỡng, tôn giáo); 2/Văn hóa xã hội,
đó là sự hình thành tầng lớp chủ doanh nghiệp; việc tách họ, dựng nhà thờ
mới và vấn đề an ninh - xã hội của làng; 3/Văn hóa tinh thần, những vấn đề
nổi bật là sự thay đổi lối sống; phong tục cưới xin, tang ma, hội làng.
1.2. Tổng quan về làng dệt Phƣơng La
1.2.1. Điều kiện tự nhiên, dân cư và lịch sử hình thành làng
1.2.1.1. Điều kiện địa lý tự nhiên: Phương La (tên Nôm là làng Mẹo)

1.2.2.4. Tổ chức sản xuất và phân công lao động: Trong xã hội truyền
thống, việc tổ chức sản xuất của làng Phương La đều theo quy mô hộ gia
đình, tự sản, tự tiêu... Từ năm 1957-1958, người Phương La tổ chức sản
xuất theo mô hình HTX tiểu thủ công nghiệp; đến năm 1960, các tổ hợp sản
xuất hàng tiểu thủ công nghiệp ra đời. Năm 1980, làng nghề Phương La đã
thành lập được ba tổ hợp sản xuất hàng dệt.
1.2.2.5. Sản phẩm dệt: Sản phẩm của làng Mẹo xưa đơn giản chỉ là lụa,
vải vuông và các sản phẩm từ tơ tằm; những năm khó khăn 1959 -1960, làm
ruột bấc đèn dầu các loại, dệt thắt lưng… Lụa của người làng Mẹo màu mỡ
gà vàng óng, mát mượt, mịn màng đẹp như ráng trời vàng mềm mại, đạt
trình độ mỹ thuật và thẩm mỹ cao đã hút hồn biết bao người.


9
1.2.2.6. Việc tiêu thụ và thu nhập: Hình thức tiêu thụ sản phẩm của
người làng Mẹo xưa rất đơn lẻ, tiêu thụ tại chợ làng. Người dân dùng khớp
cột đình để đo độ rộng hẹp của lụa. Trong thời kỳ chiến tranh loạn lạc, có
người đã phải đổ máu, thiệt mạng khi mang hàng dệt đến các tỉnh xa để tiêu
thụ. Đến khi vải làng Mẹo trở nên nổi tiếng, thương lái ở các nơi tìm về mua
mang đi. Giai đoạn sau hòa bình, trong thời bao cấp, người làng nghề đem
hàng đi phải lén lút, lẩn tránh thuế vụ, nếu không may gặp họ thì không
những bị tịch thu hàng mà còn bị phạt vì tội buôn gian, bán lận….
1.2.2.7. Truyền nghề và học nghề: Người làng Mẹo luôn tôn trọng truyền
thống giữ bí quyết nghề và không tiết lộ cho bất cứ đối tượng nào; họ
truyền nghề theo kiểu “cha truyền con nối”, truyền nghề trực tiếp trên
khung dệt, chỉ truyền nghề cho con trai; chủ yếu là để giữ nghề.
1.2.3. Văn hóa làng Phương La trong xã hội truyền thống
1.2.3.1. Văn hóa vật chất
Không gian, cảnh quan làng: Làng Phương La xưa là một cộng đồng
bền chặt, tự trị, khép kín, được bao bọc bởi lũy tre làng. Người Phương La

Đình. Mỗi khu là một “thôn”, có bộ máy điều hành như một hội đồng kỳ
mục. Đây là hiện tượng chia tách không phổ biến ở vùng châu thổ Bắc Bộ.
- Bộ máy chức dịch: Trước Cách mạng tháng Tám 1945, làng Phương
La cũng là một xã, có một bộ máy chức dịch thực hiện nhiệm vụ giữ gìn an
ninh, thu thuế, điều động binh dịch cho nhà nước phong kiến.
- Phường hội: Xưa, Phương La cũng có các tổ chức phường hội, như
hội Tư văn, hội Tư võ, hội Lão nhiêu... Ngoài ra, làng còn có các phường
nghề, phường tiền nhằm tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau khi khó khăn.
Hệ thống ngôi thứ trong đình: Xã Hương La xưa (Phương La nay)
cũng quy định các thứ hạng để căn cứ vào thứ hạng mà hưởng bổng lộc và
thực hiện chức trách. Ngoài ngôi thứ dành cho những người có tiêu chuẩn
về bằng cấp, phẩm hàm, chức tước và tuổi tác, làng Mẹo còn có các ngôi
thứ dành cho những người bỏ tiền ra mua như lý trưởng, phó lý, chùm, giám
sự ... Những chức mua này, ra làng cũng được chia các phần biếu: Trùm được
chia đầu gà (hoặc má lợn); Lý trưởng được chia cẳng giò, phẩm oản; Giám
sự được chia miếng nây (miếng bụng) lợn.
1.2.3.3. Văn hóa tinh thần của làng Phương La
Việc cưới và việc tang
- Việc cưới: Ngày trước, con cái trong nhà đến tuổi lấy vợ, lấy chồng
đều do bố mẹ sắp đặt. Việc cưới quy định lệ nộp cheo và quy định rõ con
gái lấy chồng nộp tiền cheo, rượu, trầu cau; con gái không được đi lấy
chồng nơi khác. Con rể chưa cưới phải sêu Tết bố mẹ vợ tương lai vào
mùng năm tháng Năm, gồm một con ngỗng cùng năm cân đỗ xanh; dạm


11
ngõ phải có một gà trống và năm đấu gạo nếp.
- Việc tang (việc hiếu): các phong tục tập quán của làng Phương La
được ghi chép trong bản “Tục lệ xã Phương La” lưu giữ tại Viện Nghiên
cứu Hán Nôm. Văn bản được lập ngày 22 tháng Năm năm Tự Đức thứ 34


12
Chƣơng 2
NGHỀ DỆT VÀ VĂN HÓA VẬT CHẤT
CỦA LÀNG PHƢƠNG LA HIỆN NAY
2.1. Nghề dệt của làng Phƣơng La hiện nay
2.1.1. Việc sử dụng và thu mua nguyên liệu dệt
Nhờ tư duy thích ứng nhanh của người Phương La đã giúp họ nhanh
chóng đổi mới nguyên liệu sản xuất đáp ứng nhu cầu thị trường. Nguyên liệu
rất phong phú đa dạng (bông tự nhiên, bông nhân tạo, tơ tằm..) và thông
dụng, có thể được mua từ nhiều nơi, hay nhập khẩu ở nước ngoài. Hình thành
thị trường nguyên liệu cung cấp sợi cho Phương La tại làng và các địa
phương khác theo hợp đồng có tính pháp lý, ổn định, bền vững.
2.1.2. Về công cụ dệt
Người Phương La không ngừng sáng tạo, đổi mới, cải tiến công cụ
dệt: từ thủ công thô sơ, đến các máy dệt hiện đại. Nhờ vậy, người thợ đỡ
mất sức lao động mà năng suất tăng nhiều lần. Việc chuyển từ lao động cơ
bắp sang lao động trí tuệ, từ lao động thủ công sang lao động công nghiệp
để kịp thời ứng xử với guồng dệt của máy móc đã giúp tư duy người thợ
cũng đổi mới từ chậm chạp, đủng đỉnh sang nhanh nhẹn, năng động hơn.
2.1.3. Về tổ chức sản xuất
Công cuộc Đổi mới, người Phương La mạnh dạn đổi mới cả trong tổ
chức sản xuất: sản xuất theo hộ gia đình, sản xuất theo tổ hợp và sản xuất
theo công ty, xí nghiệp. Quy trình sản xuất mới với công nghệ hiện đại,
năng suất, chất lượng cao mang lại cho người dân đời sống sung túc; đồng
thời, tạo cho người Phương La có tư duy quản lý, suy nghĩ vượt trội hơn
những người khác. Từ tư duy “trọng nông”, lấy lương thực làm đầu, cuộc
sống “tự cung, tự cấp”, “an phận” sang tư duy “kinh tế hàng hóa, thị
trường”, phấn đấu trở thành “ông chủ”… Đây chính là những yếu tố góp
phần tạo nên sự biến đổi của văn hóa; hình thành lối sống, nét tính cách

của không gian sinh sống ở mỗi gia đình.
2.2.2. Việc phục dựng, tu bổ các di tích
Trong khoảng 10 năm trở lại đây, hệ thống di tích đình, đền, chùa,
miếu ở Phương La được quan tâm dựng mới hoặc tôn tạo rất khang trang và
quy củ, góp phần giữ gìn, bảo lưu và phát huy giá trị văn hóa truyền thống
của địa phương; khơi dậy lòng tự hào, tinh thần cố kết cộng đồng, nhớ về
cội nguồn của người dân. Tuy nhiên, việc trùng tu cũng làm mất đi sự cổ
kính, tính đồng nhất của di tích; việc thực hiện các lễ nghi cũng có những
biến đổi, biện lễ của các dòng họ cũng có biểu hiện ganh đua…


14
Tiểu kết
Nghề dệt phát triển, mang lại nguồn thu rất lớn cho người dân. Đặc
biệt, công cụ sản xuất được người Phương La luôn cải tiến, đổi mới, đáp
ứng nhu cầu khách hàng về sản phẩm. Do nhu cầu sản phẩm ngày một tăng,
truyền nghề không còn bó hẹp trong gia đình mà họ truyền cho tất cả những
người đến làm thuê. Ngày nay, nghề dệt khăn của làng Phương La phát
triển mạnh mẽ, thành lập được nhiều công ty, xí nghiệp, tổ hợp; nhiều nhà
tỷ phú thành đạt từ dệt khăn của làng. Sản phẩm của làng dệt có mặt không
chỉ trên thị trường trong nước mà cả nhiều nước trên thế giới. Đời sống
nhân dân trong xã nói chung, các hộ làm nghề dệt không ngừng được nâng
cao. Đây là một trong những yếu tố tác động góp phần tạo lên những vấn đề
nổi bật về văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần của làng dệt Phương La.
Không gian cảnh quan làng biến đổi, nhiều biệt thự, vila, nhà cao tầng
mọc lên, đường làng, ngõ xóm không khác gì thành phố; ao hồ, vườn cây xanh
đã bị biến mất, thay vào đó là các nhà xưởng sản xuất, khu chứa nguyên liệu…
Trên đây là một trong những yếu tố tác động góp phần tạo nên những vấn
đề nổi bật về văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần của làng dệt Phương La
Chƣơng 3

giữa chủ doanh nghiệp với công nhân lao động, giữa chủ doanh nghiệp với
chủ đại lý tiêu thụ sản phẩm… Việc xuất hiện các mối quan hệ mới góp
phần làm cho dân làng càng tự tin, năng động và chỉnh chu hơn trong ứng
xử và càng thận trọng giữ gìn các mối quan hệ.
3.1.2. Hiện tượng tách họ, dựng nhà thờ mới
3.1.2.1. Nguyên nhân tách họ
Công cuộc Đổi mới cùng sự phát triển của kinh tế đã tạo điều kiện cho
việc phục hưng dòng họ. Phong trào “trở về nguồn, tìm về cội nguồn” xuất
hiện ở phần lớn các địa phương, các dòng họ. Việc sưu tầm tư liệu để dịch
lại, lập lại và bổ sung gia phả, tộc phả hoặc phả đồ; dựng lại hoặc tu bổ nhà
thờ họ, sửa sang mộ tổ, tổ chức lại các nghi thức tế lễ… diễn ra phổ biến.
Qua thời gian, ở nhiều địa phương, một số dòng họ đã xảy ra tranh chấp về
thế thứ do không còn lưu giữ được gia phả; dẫn đến mâu thuẫn, không cùng
tổ chức các sinh hoạt chung của dòng họ, thậm chí có nơi từ tranh chấp thế
thứ và “đoạn tuyệt” quan hệ này dẫn đến tranh chấp nhà thờ họ, chính
quyền phải giải quyết.
Phương La là làng nghề, kinh tế phát triển, xuất hiện đội ngũ doanh
nhân giàu có, trong số họ, có một số người có tính thích phô trương, “thích
thể hiện” nên những đặc điểm tiêu cực trên đây của dòng họ dẫn đến tình


16
trạng cực đoan, một số chủ doanh nghiệp bỏ tiền ra dựng nhà thờ riêng,
giúp cho việc tách họ nhanh chóng được “hoàn thiện”.
3.1.2.2. Thực trạng hiện tượng tách họ, dựng nhà thờ mới ở làng dệt
Phương La
Nghề dệt phát triển, kinh tế giàu có, đời sống vật chất của người dân
nâng cao, song cũng vì thế mà nảy sinh bất hòa, mâu thuẫn trong các mối
quan hệ ruột thịt, họ hàng, điển hình là sự mâu thuẫn trong các dòng họ, dẫn
đến hiện tượng tách họ, dựng nhà thờ mới, tổ chức cúng lễ riêng, sinh hoạt

- Tính cố kết cộng đồng
- Tính cách cư dân thành thị bước đầu hình thành
3.2.2. Phong tục cưới xin, tang ma
3.2.2.1. Việc cưới xin
Ngày nay, trai gái tự do hôn nhân, cưới ở Phương La đã khác trước rất
nhiều: việc mời cưới rất rộng, cỗ cưới được đặt sẵn, quà mừng cưới là tiền,
rước dâu bằng xe ô tô dù khoảng cách gần. Để tiết kiệm được thời gian tập
trung cho sản xuất, người Phương La tổ chức ăn cưới sớm vào khoảng 8 giờ
sáng. Việc cưới ở làng Phương La cơ bản vẫn giữ được những lễ nghi phù
hợp với truyền thống. Tuy nhiên, hiện tượng đón dâu hai lần diễn ra khá
phổ biến, trong tổ chức lễ cưới vẫn có biểu hiện ganh đua…
3.2.2.2. Việc tang
Đối với việc tang ma cho người mất ở Phương La, về cơ bản các thủ tục
vẫn được duy trì, những tiết chính vẫn diễn ra theo đúng trình tự xưa. Các hủ
tục dần bị xóa bỏ để phù hợp với điều kiện, nhịp sống của làng nghề, không
còn tình trạng “người mất, lợn ngả theo”. Người Phương La vẫn chưa quen
việc hỏa táng, nhiều gia đình khi bố mẹ mất đi, coi trọng việc mời thầy địa lý
về xem đất để đặt mộ; mua đất xí phần, khoanh riêng khu an táng của dòng họ;
việc phúng viếng linh đình diễn ra mạnh mẽ.
3.2.3. Hội làng
Hội đình làng Phương La hiện nay vẫn diễn ra tại đình Đông từ ngày
20 đến ngày 25 tháng 10 âm lịch. Người trảy hội đình Đông cũng tăng lên
rất nhiều, thành phần tham gia lễ hội cũng phong phú hơn. Ngoài phần lễ và
một số trò diễn dân gian truyền thống, lễ hội đình Phương La đã phục hưng
được một số trò hội vốn đã bị mai một; từng bước đưa các sinh hoạt văn
hoá thể thao hiện đại vào lễ hội, thu hút đông đảo nhân dân tham gia. Tuy
nhiên, những trò chơi dân gian bị mai một dần, một số hoạt động đã không
còn duy trì nữa, như thi dệt vải, thi đấu gậy… Đặc biệt, mỗi dòng họ, thậm
chí nhiều gia đình cũng biện lễ vào dâng, gia đình khá giả thì biện lễ càng
lớn và có đoàn tế riêng nên cầu kỳ, tốn kém và dễ dẫn đến làm biến dạng

Nghề phát triển, nhiều “ông chủ” ra đời dẫn đến phân hóa giàu nghèo
diễn ra mạnh mẽ, sâu sắc. Những vấn đề về xã hội nảy sinh, nhất là vấn đề
an ninh trật tự, không gian cảnh quan làng, giữ gìn môi trường, bảo vệ các
giá trị văn hóa, việc chấp hành chủ trương chính sách của Đảng và Nhà
nước của người dân chưa cao. Biểu hiện suy giảm tính cộng đồng; xu


19
hướng tách họ, lập nhà thờ mới; xu hướng một bộ phận cư dân ít tham gia
vào các hoạt động chung, hình thành lối sống riêng... Bên cạnh đó, việc
kiến trúc thiếu đồng bộ, dẫn đến không gian làng không còn thoáng đãng
như xưa, thiếu cây xanh, ít khu vui chơi giải trí công cộng.
4.2. Dự báo xu hƣớng văn hóa làng dệt Phƣơng La trong thời gian tới
4.2.1. Xu hướng chú trọng, đề cao các giá trị văn hóa truyền thống
“Phú quý sinh lễ nghĩa”, vì thế, các lễ nghi được tăng cường, khôi
phục, các lễ nghi mới được cập nhật và sáng tạo. Sự thay đổi này kéo theo
những sự thay đổi lớn trong cộng đồng làng, dễ dẫn đến sự pha tạp, biến
dạng của văn hóa tâm linh… Mặc dù vậy, những truyền thống cũ trong nghi
lễ tôn giáo, những biểu tượng văn hóa, những truyền thuyết vẫn là những
điểm tựa cho việc khẳng định sức sống lâu bền của văn hóa truyền thống
trước sự thay đổi mọi mặt của đời sống xã hội.
4.2.2. Xu hướng đa dạng văn hóa
Những người đến làm thuê đã mang theo tập tục, những nét văn hóa
riêng góp phần làm phong phú thêm văn hóa của làng Phương La: từ âm
ngữ, giọng nói, nét sinh hoạt, phong tục tập quán…
4.2.3. Xu hướng phân hóa trong đời sống văn hóa
Phương La giờ đây có không gian làng rất „„mở‟‟. Sự tăng nhanh mức
sống và các dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân Phương La,
sinh hoạt của các gia đình khác nhau, dẫn đến sự phân hóa trong đời sống
văn hóa, từ quan niệm về văn hóa, thực hành các lễ thức thờ cúng, sự ứng

vào cuộc, động viên các em tham gia các hoạt động văn hoá. Khi đã phát
hiện đối tượng tệ nạn xã hội, chúng ta cần giải quyết một cách kịp thời, dứt
điểm,. Phải xác định công tác phòng chống ma tuý, tệ nạn xã hội là việc làm
của các cấp, các ngành, của mỗi người dân để tạo ra sự đồng thuận.
4.3.1.3. Tăng cường các hoạt động văn hoá, thể dục thể thao
Phải thành lập các đội văn nghệ , thể thao của các dòng họ, sử dụng các
từ đường dòng họ, các thiết chế văn hoá của thôn làng để giao lưu hoặc thi
biểu diễn, thi thể thao giữa các dòng họ,… Tăng cường các hoạt động thể
dục - thể thao để thu hút nhiều nhất các đối tượng, các tầng lớp, các lứa tuổi,
giới tính tham gia, tạo không khí sôi nổi, vui tươi, đoàn kết, gắn bó tình cảm
giữa các cá nhân, gia đình, dòng họ.
4.3.2. Nhóm giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống
4.3.2.1. Bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống
Bảo tồn, tôn tạo các di tích thờ cúng; Bảo tồn các lễ thức thờ cúng, hội
làng theo đúng khuôn mẫu của các cụ ta xưa. Tuyên truyền, vận động người


21
dân tích cực sưu tầm, tìm hiểu và biên soạn các giá trị văn hóa truyền thống
của làng để bảo lưu, truyền bá làm cho mọi người hiểu đủ, đúng về các giá
trị văn hóa đó. Giữ gìn những nét đẹp của các phong tục truyền thống.
4.3.2.2. Phát triển làng nghề kết hợp với phát huy các giá trị văn hóa
truyền thống để phát triển du lịch
Phải đánh giá được giá trị của các di tích, lễ hội và các giá trị văn hóa
khác như sản phẩm nghề, các truyền thuyết… Làm tốt công tác tuyên
truyền quảng bá, khôi phục một số trò diễn dân gian, tục thi tay nghề của
các dòng họ tạo sự hấp dẫn, cuốn hút nhân dân. Như vậy chúng ta vừa phát
triển được kinh tế lại vừa bảo lưu, phát huy các giá trị truyền thống; môi
trường cảnh quan được bảo vệ, giữ gìn, phục vụ cuộc sống của con người.
Cần phát huy vai trò của các nghệ nhân, mở rộng quy mô đào tạo nghề và

Nghề phát triển, kinh tế đời sống người dân được nâng cao, đây chính
là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi văn hóa làng nghề, có
những biến đổi tích cực và cả những biến đổi chưa phù hợp với truyền
thống, ảnh hưởng trực tiếp đến mọi mặt đời sống xã hội của làng. Sự biến
đổi văn hóa sẽ còn diễn ra liên tục, lâu dài, và dự báo xu hướng biến đổi của
văn hóa làng nghề Phương La trong thời gian tới là: phục hồi các giá trị
truyền thống; đa dạng văn hóa; sự phân hóa trong đời sống văn hóa; đề cao
vai trò cá nhân;… Từ những nhận định, đánh giá trên, Luận án đề xuất ba
nhóm giải pháp bảo tồn, phát triển văn hóa làng nghề giai đoạn đẩy mạnh
CNH – HĐH, gồm: về bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống;
nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động xây dựng ĐSVH ở cơ sở, nhấn mạnh
việc chấp hành chủ trương của Đảng, pháp luật Nhà nước của người dân,
cần có biện pháp mạnh để ngăn ngừa các tệ nạn xã hội; phát triển nghề, giải
quyết về mặt bằng sản xuất, nâng cao trình độ cho đội ngũ doanh nhân; giải
quyết triệt để ô nhiễm môi trường làng nghề.
KẾT LUẬN
1. Trên cơ sở kế thừa lý luận của các học giả đi trước, Luận án đã sử
dụng các lý thuyết về biến đổi văn hóa và xã hội của các nhà Văn hóa học đi
trước; từ đó, góp phần phân tích và làm rõ các khái niệm làng nghề, văn hóa
làng nghề và biến đổi văn hóa làng nghề. Dựa vào các lý thuyết và những
khái niệm trên để Luận án giải quyết các vấn đề được đặt ra.
Làng nghề là các làng có phần đông cư dân sống bằng một nghề hoặc
nhiều nghề thủ công, có khi chỉ là một công đoạn của nghề, tạo ra các sản
phẩm mang tính cách riêng, thời gian làm nghề và thu nhập của nghề chiếm tỷ
lệ lớn nhất so với các hoạt động kinh tế khác; hoạt động làm nghề có ảnh
hưởng lớn đến các mặt khác của làng (kiến trúc làng xóm, nhà cửa, nhịp sống,


23
thiết chế tổ chức và các quan hệ xã hội, tâm lý tính cách, phong tục tập quán...).

khẳng định mình... đã dẫn đến việc tách họ, xây nhà thờ mới. Đời sống người
dân no ấm, công ăn việc làm ổn định cũng giúp giảm thiểu các tệ nạn xã hội; tuy



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status