Đời sống văn hóa của cư dân ven biển Hà Tĩnh thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Pdf 33

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Việt Nam có 3/4 diện tích là biển và đại dương, đường bờ biển dài
3260 km kéo từ Móng Cái cho tới Hà Tiên, bao bọc lấy phía Đông, Nam và
một phần phía Tây của Tổ quốc. Từ xa xưa, con người Việt Nam đã có sự gắn
kết chặt chẽ với biển, nhóm cư dân cư trú ở khu vực ven biển trong quá trình
sinh tồn, để thích nghi được với môi trường biển, khai thác, đánh bắt nguồn tài
nguyên thiên nhiên sẵn có của biển đảm bảo cho nhu cầu cuộc sống hang
ngày, họ đã tích luỹ được các tri thức, kinh nghiệm, hiểu biết về biển, về
nguồn tài nguyên sinh vật biển, đồng thời đã hình thành những nét văn hoá
đặc trưng so với cư dân ở các vùng khác.
1.2. Trong thời kỳ CNH, HĐH, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều
Nghị quyết, Chỉ thị về phát triển kinh tế vùng biển, ven biển và hải đảo. Nghị
quyết số 09 - NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X (ngày 9-22007) đã đề ra “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, đánh một dấu mốc
quan trọng, thể hiện tầm nhìn mới của Đảng và Nhà nước về vai trò kinh tế biển
đối với sự nghiệp CNH, HĐH hiện nay.
1.3. Tỉnh Hà Tĩnh có đường bờ biển dài (137km), với 04 cửa biển là cửa
Hội, cửa Sót, cửa Nhượng và cửa Khẩu, có địa hình phong phú, bao gồm: miền
núi, trung du, đồng bằng và ven biển. Sự phong phú về địa lý, địa hình dẫn đến
địa bàn cư trú của cư dân Hà Tĩnh rất đa dạng, từ đó tạo ra sự đa dạng về đời
sống văn hoá. Trong sự đa dạng của văn hóa Hà Tĩnh có dấu ấn văn hoá của
nhóm cư dân định cư ở vùng ven biển, vì sống trong môi trường biển, nhóm cư
dân này đã tạo ra những bản sắc văn hoá riêng.
Hiện nay, dưới những tác động của CNH, HĐH, đặc biệt là “Chiến lược
biển Việt Nam đến năm 2020” của Đảng và Nhà nước, vùng ven biển Hà Tĩnh
đang có nhiều thay đổi, tính thuần nhất và nét đặc trưng văn hoá vùng có xu
hướng bị phá vỡ, nguy cơ phai nhạt, pha trộn, ảnh hưởng bản sắc trở thành
thách thức lớn trong quá trình CNH, HĐH và hội nhập thế giới.
1



2


khảo sát, thực hiện chương trình trưng cầu ý kiến qua điều tra xã hội học).
* Phạm vi thời gian: Nghiên cứu đời sống văn hoá của cư dân ven biển
Hà Tĩnh hiện nay (thời điểm khảo sát 2013 - 2015). Tuy nhiên trong quá trình
phân tích có đề cập đến đời sống văn hoá xưa (trước CNH, HĐH - mốc trước
1995-Hội nghị TW7 khoá VII) để đối chiếu, so sánh, nhận diện những biến đổi.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận
Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm lãnh
đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về xây dựng đời sống văn hoá.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành văn hoá học: Luận án sử dụng các
khái niệm, phạm trù, kết quả của các ngành khoa học có liên quan đến văn hoá
học để nghiên cứu về đời sống văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh như: Dân
tộc học/ nhân học văn hoá, xã hội học văn hoá, Folklore học, tâm lý học,…
- Phương pháp phân tích, tổng hợp hệ thống tư liệu của các học giả đi trước đã
nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến vùng ven biển Hà Tĩnh, cư dân ven biển
Hà Tĩnh và văn hoá ven biển Hà Tĩnh. Qua sự phân tích này, tác giả luận án kế thừa
và đưa ra mục tiêu, nhiệm vụ và những vấn đề mới của đề tài luận án.
- Phương pháp khảo sát - điền dã của nhân học/dân tộc học văn hoá ở
những điểm nằm trong không gian nghiên cứu, để tìm hiểu thực tế, sưu tầm thu
thập tư liệu, thông tin qua cộng đồng cư dân tại thực địa.
- Phương pháp điều tra xã hội học thông qua việc phỏng vấn sâu và bảng
hỏi để có những tư liệu định lượng minh chứng cho những nhận xét, đánh giá
định tính về biến đổi văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu giữa đời sống văn hoá trước và sau CNH,
HĐH của cư dân ven biển Hà Tĩnh để tìm ra xu hướng vận động biến đổi.

Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ
KHÁI QUÁT VỀ VÙNG VEN BIỂN HÀ TĨNH
1.1. TỔNG QUAN TNH HNH NGHIÊN CỨU
1.1.1. Các công trình viết về vùng ven biển Hà Tĩnh: Đại Nam nhất
thống chí; Nghệ An ký; Đất nước Việt Nam qua các đời. Phong thổ ký các
4


huyện tỉnh Hà Tĩnh; Địa chí Cẩm Nhượng; Việt Nam lãnh thổ và các vùng địa
lý,... Các công trình nghiên cứu đi trước trên đây đã cho biết địa danh một số
huyện giáp biển của Hà Tĩnh, cũng như các cửa biển thuộc về Hà Tĩnh xưa và
nay. Tuy nhiên, số liệu nhiều chỗ không còn phù hợp với thực tại, vì hiện nay
các huyện của Hà Tĩnh đã khác.
1.1.2. Các công trình viết về cƣ dân ven biển Hà Tĩnh: An - Tĩnh cổ
lục; Biển với người Việt cổ; Văn hoá Bàu Tró; Cộng đồng ngư dân ở Việt Nam;
Các cộng đồng ngư dân thuỷ cư tại vùng biển Việt Nam; Người Bồ Lô và Vạn
Kỳ Xuyên; Nhật trình đi biển của người Bồ Lô tại vùng biển Bắc Trung Bộ;
Người Việt (Kinh) vùng ven biển miền Trung hội nhập cùng biển cả… Các
công trình nghiên cứu trên đây có chung nhận định cư dân tiền trú trên đất Hà
Tĩnh là cư dân văn hoá Quỳnh Văn và cư dân văn hoá Bàu Tró, nhóm cư dân
này sống chủ yếu ở đồng bằng ven biển, đánh bắt cá và các loài nhuyễn thể ở
biển, sông, hồ. Về cư dân hiện đại, các công trình nghiên cứu chỉ đề cập đến
thời kỳ tiền CNH, HĐH và nhận định có nguồn gốc bác tạp.
1.1.3. Các công trình viết về văn hoá ven biển Hà Tĩnh: Làng cổ Hà
Tĩnh; Lễ hội dân gian ở Hà Tĩnh; Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh; Văn hoá
làng biển ở xứ Nghệ; Văn hoá dân gian làng ven biển; Văn hoá biển miền
Trung và văn hoá biển Tây Nam Bộ; Đôi nét về văn hoá dân gian ven biển
trong nền kinh tế thị trường; Văn hoá dân gian người Bồ Lô ven biển Hà Tĩnh.
Chưa có công trình nào đề cập có tính hệ thống đến ĐSVH của cư dân ven biển

- Hoạt động khai trí - giáo dục nhằm nâng cao kiến thức cho mọi người:
dạy học, diễn giảng, toạ đàm, thư viện, thông tin.
- Hoạt động lưu giữ sản phẩm văn hoá: bảo tàng, lưu trữ, triển lãm, sưu tập.
- Hoạt động tiêu dùng sản phẩm văn hoá: đọc sách, báo, nghe âm nhạc,
xem nghệ thuật, phim ảnh, triển lãm, bảo tàng, tham quan, du lịch.
- Hoạt động lễ hội, tín ngưỡng, xây dựng phong tục nếp sống gia đình văn hoá
- Hoạt động thể dục, thể thao, vui chơi giải trí trong thời gian rỗi”
1.2.2. Quan niệm về biến đổi văn hoá
Những nghiên cứu của các học giả về lĩnh vực này có một điểm chung
rằng biến đổi văn hoá là một hiện tượng phổ biến, là một bước tiến bộ trong sự
phát triển của dân tộc và nhân loại; biến đổi văn hoá là do quá trình thay đổi
phương thức sản xuất, kỹ thuật sản xuất, dẫn đến thay đổi nếp nghĩ, nếp sống,
đời sống tinh thần phù hợp với những biến đổi về chính trị, kinh tế, xã hội trong
từng giai đoạn lịch sử nhất định của mỗi dân tộc.
Nghiên cứu biến đổi văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh là nghiên cứu
về biến đổi văn hoá truyền thống trong đời sống của họ.
6


1.2.3. Quan niệm về tiêu dùng văn hoá
Tiêu dùng văn hoá là việc sử dụng những sản phẩm văn hoá để đáp ứng,
làm thoả mãn nhu cầu tinh thần của cư dân hiện nay, và việc tiêu dùng sản
phẩm văn hoá này cũng chỉ đề cập đến tiêu dùng sản phẩm tinh thần, gắn liền
với sản phẩm tinh thần là công cụ phương tiện tiêu dùng văn hoá và phương
thức tiêu dùng văn hoá.
1.2.4. Quan niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện
các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử
dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động
cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự

huyện Thạch Hà trở vào) như: núi Nam Giới (Thạch Bàn, Thạch Hà), núi Thiên
Cầm (thị trấn Thiên Cầm, Cẩm Xuyên), núi Bàn Độ, núi Cao Vọng, núi Chóp
Cờ (núi Kỳ Đầu), Đèo Ngang (huyện Kỳ Anh). Ngược lại với bờ biển phía nam,
bờ biển phía bắc (thuộc địa phận huyện Nghi Xuân) địa hình tương đối bằng
phẳng, không có núi, với chiều dài 32km, được ngăn cách với bờ biển của huyện
Lộc Hà bởi ngọn Hồng Lĩnh. Các ngọn núi dọc bờ biển Hà Tĩnh không cao lắm.
1.3.1.2. Đặc điểm dân cư: Các nguồn tư liệu viết về Hà Tĩnh, lịch sử Hà Tĩnh
và các di chỉ khảo cổ học ở Hà Tĩnh cho biết cư dân tiền trú ở ven biển Hà Tĩnh
là cư dân văn hoá Quỳnh Văn và cư dân văn hoá Bàu Tró. Đến thời hiện đại và
thời kỳ CNH, HĐH, cư dân ven biển Hà Tĩnh mang tính “bác tạp”, sinh sống
bằng nhiều ngành nghề khác nhau, phân bố ở các vùng bãi dọc và bãi ngang,
nhưng tập trung đông nhất và phát triển mạnh nhất là ở vùng bãi dọc do đặc điểm
có nhiều lợi thế về vị trí địa lý, giao thông và tiềm năng kinh tế khoáng sản,...
1.3.1.3. Đặc điểm kinh tế: Hà Tĩnh là một trong 28 tỉnh, thành phố của cả
nước có biển, với bờ biển dài 137km, Hà Tĩnh có 35 xã ven biển. Ngành nghề
truyền thống của cư dân ven biển Hà Tĩnh là ngư nghiệp, nông nghiệp và một
số nghề tiểu thủ công nghiệp (chế biến hải sản, làm muối,..), thương nghiệp
(buôn bán hải sản). Sang thời kỳ CNH, HĐH các ngành nghề của cư dân phong
phú, đa dạng trên cơ sở hình thành ba mô hình kinh tế tập trung là: đánh bắt, du
lịch và kinh tế công nghiệp...
1.3.1.4. Đặc điểm văn hoá: Hà Tĩnh là vùng “địa linh”, cũng là vùng biên
viễn “phên dậu” của nhà nước Đại Việt, là ranh giới giữa Đàng Trong và Đàng
Ngoài dưới triều đại phong kiến Lê mạt. Từ ngàn xưa đến nay, vùng đất ven
8


biển Hà Tĩnh luôn giữ vai trò, vị trí chiến lược quan trọng của Tổ quốc. Trong
kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Hà Tĩnh là “cái nôi” của cách mạng Việt
Nam, sản sinh ra nhiều anh hùng dân tộc, chí sĩ cách mạng, các nhà chính trị lỗi
lạc, các nhà khoa học trên các lĩnh vực…Vì vậy, Hà Tĩnh và vùng ven biển Hà

10


2.1.1.2. Tín ngưỡng thờ cúng tại gia đình
Bên cạnh tín ngưỡng chung của cộng đồng, tín ngưỡng thờ cúng tại gia
đình của cư dân ven biển Hà Tĩnh hiện nay cũng phong phú và đa dạng, trong
đó tiêu biểu có các tín ngưỡng thờ cúng như: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên; Thờ
Thiên thần; Thờ thần tài; …
2.1.2. Sinh hoạt tín ngƣỡng
Về nhu cầu và mức độ thực hành (sinh hoạt) tín ngưỡng của cư dân vùng
ven biển Hà Tĩnh thời kỳ CNH, HĐH rất phát triển, phong phú, đa dạng, gắn
với quan niệm đa thần. Cư dân ven biển Hà Tĩnh ngày nay thường đến các đền,
miếu thắp hương vào các ngày rằm, mồng một, lễ tết cũng như thắp hương lên
bàn thờ tổ tiên và các gia thần vào các ngày này. Ngoài ra, những khi gia đình
có việc hệ trọng cư dân cũng đến thắp hương tại các cơ sở thờ cúng công cộng
và tại gia đình mình.
2.2. LỄ HỘI
2.2.1. Các lễ hội
2.2.1.1. Lễ hội dân gian
Lễ hội dân gian là hình thức sinh hoạt lễ hội gắn với các tín ngưỡng của
cư dân. Lễ hội dân gian của cư dân ven biển Hà Tĩnh mang đậm sắc thái biển,
phong phú đa dạng về loại hình bao gồm: Lễ hội cầu ngư; Lễ kỳ phúc lục ngoạt;
Lễ hội tưởng nhớ anh hùng dân tộc (nhân vật lịch sử).
2.2.1.2. Lễ hội tôn giáo
Lễ hội tôn giáo là hình thức lễ hội gắn với các tôn giáo, thường được cư
dân theo tôn giáo đó đứng ra tổ chức. Ở vùng ven biển Hà Tĩnh hiện nay, tiêu
biểu có lễ hội của hai tôn giáo sau: Lễ hội công giáo; Lễ hội Phật giáo.
Ngoài các lễ hội trên, ở vùng ven biển Hà Tĩnh thời kỳ CNH, HĐH còn
xuất hiện một số lễ hội mới (mang tính hiện đại) như: lễ khai trương mùa du
lịch bãi tắm ở các khu du lịch bãi tắm ven biển Hà Tĩnh vào ngày 30 tháng 4

2.3.2. Phong tục trong mƣu sinh
* Kiêng kỵ: Ngày nay, những kiêng kỵ nghề nghiệp truyền thống của cư
dân vùng ven biển Hà Tĩnh không phổ biến như trước, cư dân chỉ thực hành
một số kiêng kỵ mang tính nhân văn, có ý nghĩa với cuộc sống hiện đại, phù
hợp với đạo lý dân tộc và điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay. Còn những kiêng
kỵ gắn với môi trường sống cũ đã được cư dân xoá bỏ, do trình độ nhận thức,
12


hiểu biết của cư dân ngày nay đã được nâng cao và điều kiện kinh tế - xã hội đã
có những thay đổi.
* Nghi lễ: Trong xã hội truyền thống, cư dân vùng ven biển Hà Tĩnh có rất
nhiều nghi lễ liên quan đến nghề đánh bắt. Nhưng hiện nay, cư dân chỉ lưu giữ một
số nghi lễ đánh bắt truyền thống, đó là: nghi lễ cúng thuyền mới, và trong nghi lễ
cúng thuyền mới cư dân coi trọng lễ hạ thuyền (còn gọi là lễ hạ thuỷ).
Tiểu kết
Phân tích thực trạng đời sống tín ngưỡng của cư dân ven biển Hà Tĩnh,
trong đó có diện mạo các thần linh được phụng thờ, cùng các sinh hoạt nghi lễ,
nhận thấy: trước hết về hệ thống các thần linh được phụng thờ ở vùng ven biển
Hà Tĩnh ngày nay phong phú, đa dạng hơn so với xưa. Ngoài các vị thần truyền
thống gắn với vùng biển, nghề biển, xuất hiện một số thờ cúng mới trong các
gia đình cư dân, như: thờ thần tài, thờ các thiên thần, thờ Phật, thờ Bác Hồ, …
Cùng với xuất hiện các hiện tượng thờ cúng mới, các sinh hoạt tín ngưỡng và
thực hành nghi lễ trong cư dân cũng gia tăng, không chỉ diễn ra vào dịp lễ hội,
lễ tết, lễ giỗ, mà còn được thực hành đều đặn vào các ngày sóc vọng, những
ngày gia đình cư dân có việc hệ trọng,... Lễ vật thờ cúng ngày nay cũng được
cư dân chú trọng, mua sắm phong phú và đa dạng hơn so với truyền thống.
Gắn liền với hệ thống tín ngưỡng là các lễ hội, lễ hội ở vùng ven biển Hà
Tĩnh hiện nay có nhiều biến đổi: trong lễ hội đã sử dụng các thiết bị hiện đại, có
phần nghi lễ và lễ dâng hương của cấp chính quyền và các đoàn thể chính trị.

3.1.1.4. Đài/radio: Theo bảng tổng hợp kết quả phiếu điều tra xã hội học về
phương tiện truyền thông được trang bị tại các gia đình cư dân ven biển Hà Tĩnh
cho thấy đài phát thanh/radio là phương tiện được cư dân sử dụng ít nhất.
3.1.2. Phƣơng tiện tiêu dùng văn hoá tại địa điểm công cộng
Ngoài các hình thức, phương tiện tiêu dùng văn hoá tại gia đình, cư dân
ven biển Hà Tĩnh ngày nay còn tham gia các hoạt động tiêu dùng văn hoá tại
các thiết chế văn hoá, các địa điểm vui chơi, giải trí công cộng, như: Quán
Karaoke, Quán Internet, Sân thể thao, sân tennis, sân patin, nhà văn hoá, điểm
bưu điện và thư viện xã, khu vui chơi trẻ em,..Sự phong phú, đa dạng các thiết
chế văn hoá công cộng và các điểm vui chơi giải trí hiện nay ở vùng ven biển
Hà Tĩnh đã khẳng định tính sinh động về nhu cầu sinh hoạt văn hoá tinh thần,
vui chơi giải trí của cư dân nơi đây.
14


3.2. NHU CẦU TIÊU DÙNG VĂN HOÁ
3.2.1. Qua các phƣơng tiện tiêu dùng văn hoá tại gia đình
Thực trạng về nhu cầu tiêu dùng văn hoá qua các phương tiện truyền thông
tại gia đình của cư dân ở ba khu kinh tế vùng ven biển Hà Tĩnh hiện nay rất lớn,
ngày càng trở nên quan trọng và bức thiết trong đời sống của cư dân.
3.2.2. Qua các địa điểm, thiết chế văn hoá công cộng
Tìm hiểu nhu cầu người dân đến với các thiết chế văn hoá và địa điểm vui
chơi giải trí công cộng bằng số liệu điều tra xã hội học ở ba khu kinh tế cho
thấy: quán karaoke và nhà văn hoá có số lượng cư dân đến nhiều nhất. Tiếp đến
là quán Internet, đứng thứ tư là điểm bưu điện văn hoá xã. Có sức thu hút khá
lớn hiện nay, được người dân lựa chọn khá cao, là sân tennist, sân patin….
Đứng ở vị trí thấp nhất là thiết chế thư viện xã.
3.3. MỨC ĐỘ TIÊU DÙNG VĂN HOÁ
3.3.1. Qua các phƣơng tiện tiêu dùng văn hoá tại gia đình
Mức độ tiêu dùng văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh hiện nay mang tính

Tiểu kết
Tiêu dùng văn hoá là đề tài đã được một số học giả nghiên cứu những
năm gần đây. Với quan niệm TDVH là việc chủ thể tiêu dùng/hưởng thụ các
sản phẩm, giá trị văn hoá tinh thần, là biểu hiện cơ bản về ĐSVH của một cộng
đồng cư dân nhất định. Từ những lý thuyết TDVH, NCS đã vận dụng vào
nghiên cứu trường hợp TDVH của cư dân ven biển Hà Tĩnh trên hai phương
diện cụ thể: Tiêu dùng văn hoá tại gia đình và tiêu dùng văn hoá tại các địa
điểm công cộng. Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của nội dung này, phương
pháp xã hội học như thu thập thông tin trong phiếu trưng cầu ý kiến, phỏng vấn
cộng đồng đã được sử dụng một cách tối đa để luận giải cho những vấn đề đặt
ra cần giải quyết như: việc sử dụng ti vi, truyền hình Cáp, My Tv, Internet, các
thiết chế văn hoá truyền thống và hiện đại; nhu cầu, mức độ và nội dung tiêu
dùng văn hoá của cư dân thể hiện qua các phương tiện, địa điểm tiêu dùng,...
Những số liệu điều tra xã hội học và điền dã nhân học tại các làng/xã ở vùng
ven biển Hà Tĩnh đã minh chứng cho thực trạng đời sống văn hoá của cư dân
nơi đây về cách thức, nhu cầu, mức độ, nội dung tiêu dùng văn hoá hiện tại ra
sao,…là những câu trả lời thiết thực nhất cho các luận điểm mà tác giả đưa ra.
Nhìn chung, sau khi nghiên cứu về TDVH của cư dân ven biển Hà Tĩnh cho
thấy, mức độ, chất lượng tiêu dùng các sản phẩm văn hoá của cư dân nơi đây đã
ngày một được cải thiện và tăng lên theo tiến trình thời gian, người dân ngày
càng có điều kiện được tiếp cận và tiêu dùng các sản phẩm văn hoá hiện đại của
thời đại công nghệ thông tin trong bối cảnh hội nhập thế giới.
17


Chƣơng 4
XU HƢỚNG BIẾN ĐỔI ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ
CỦA CƢ DÂN VEN BIỂN HÀ TĨNH THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
4.1. SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ TIẾP

4.2.1. Mất đi các phong tục tập quán gắn với môi trƣờng sống cũ
Sống trong xã hội CNH, HĐH, nhận thức của cư dân ngày một nâng cao,
môi trường sống có nhiều biến đổi, yếu tố văn hoá gắn với môi trường sống
cũng mất đi, các phong tục, tập quán, kiêng kỵ dân gian gắn với môi trường
sống cũ cũng vì thế không còn môi trường tồn tại.
4.2.2. Phục hồi văn hoá truyền thống có sự tái cấu trúc và giản lƣợc
Tái cấu trúc văn hoá truyền thống là kế thừa, phục hồi các yếu tố văn hoá
truyền thống có sự sáng tạo, biến đổi, sắp xếp lại,… để phù hợp với đời sống xã hội
đương đại. Các phong tục, tín ngưỡng, lễ hội của cư dân ven biển Hà Tĩnh ngày nay
hầu hết kế thừa truyền thống có sự sắp xếp, bổ sung những yếu tố mới.
4.2.3. Tiếp nhận yếu tố văn hoá mới có tính thời đại và quốc tế
Nói đến du nhập các yếu tố văn hoá mới, trước hết thể hiện rõ nét trong lễ
cưới của cư dân ven biển Hà Tĩnh. Hầu hết các lễ cưới của cư dân ven biển Hà
Tĩnh hiện nay vừa có yếu tố mới của thời đại vừa du nhập một số yếu tố mang
phong cách phương Tây. Các yếu tố mới còn được du nhập vào lễ hội và tín
ngưỡng thờ cúng của cư dân ven biển Hà Tĩnh hiện nay.
4.2.4. Gia tăng các hoạt động tín ngƣỡng
Việc coi trọng, chú ý đến hoạt động tín ngưỡng của cư dân thời kỳ CNH,
HĐH được thể hiện ở mức độ thực hành tín ngưỡng trong cư dân có xu hướng
tăng lên. Các sinh hoạt tín ngưỡng tại cơ sở thờ cúng công cộng, cũng như tại gia
đình diễn ra thường xuyên vào các ngày sóc vọng, vào dịp tết Nguyên Đán, đầu
xuân năm mới và cả những khi gia đình cư dân có việc hệ trọng.
4.2.5. Tiêu dùng văn hoá có tính cá nhân, tiện ích, hiện đại và quốc tế
Để đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần trong điều kiện công việc bận rộn
của thời kỳ CNH, HĐH, cư dân có xu hướng sử dụng các phương tiện tiêu dùng
văn hoá tiện ích để vừa đảm bảo được thời gian cho công việc, vừa đáp ứng
được nhu cầu tiêu dùng văn hoá. Các loại thiết bị nghe nhìn cầm tay tiện ích
như smartphone (điện thoại thông minh) được cư dân sử dụng ngày càng nhiều.
Với những phương tiện tiêu dùng văn hoá đó cư dân có thể TDVH ở mọi lúc,
mọi nơi và có thể tiêu dùng các sản phẩm văn hoá của các nước trên thế giới.

lượng cũng như số lượng các chương trình, hoạt động tại các thiết chế Văn hoá,
Thể thao mang tính Nhà nước để đáp ứng được nhu cầu TDVH ngày càng cao
của cư dân, và thu hút cư dân đến và yêu thích các thiết chế này.
20


4.3.4. Lại căng, pha tạp văn hoá
Cùng với xu thế hội nhập thế giới, mở rộng hợp tác trong đầu tư phát
triển, là xu hướng tăng cường giao lưu trên các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực
văn hoá. Vấn đề lựa chọn, tiếp nhận các yếu tố văn hoá mới, các yếu tố văn hoá
nước ngoài của cư dân rất cần có vai trò định hướng của nhà nước, của các nhà
quản lý chuyên môn về lĩnh vực này. Tránh để diễn ra tình trạng cư dân tiếp
nhận các yếu tố văn hoá một cách xô bồ, thiếu chọn lọc, không có sự định
hướng sẽ dẫn đến lai căng, pha tạp trong văn hoá của cư dân vùng ven biển Hà
Tĩnh thời kỳ CNH, HĐH.
Tiểu kết
Qua nghiên cứu thực trạng ĐSVH của cư dân ven biển Hà Tĩnh (ở
chương 2,3) và tìm hiểu bối cảnh kinh tế - xã hội vùng ven biển Hà Tĩnh ở
những năm tiếp theo (qua bản Quy hoạch kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Tĩnh đến
năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050). Luận án đưa ra một số nhận định về xu
hướng biến đổi ĐSVH của cư dân ven biển Hà Tĩnh thời kỳ CNH, HĐH, đó là:
mất đi các phong tục, kiêng kỵ gắn với môi trường sống cũ; phục hồi văn hoá
truyền thống trên cơ sở tái cấu trúc và giản lược; tiếp nhận các yếu tố văn hoá
mới mang tính thời đại và quốc tế; gia tăng sinh hoạt và hoạt động tín ngưỡng;
TDVH hướng tới tính tiện ích, hiện đại và quốc tế. Trước những xu hướng biến
đổi như vậy, một số vấn đề đặt ra trong ĐSVH của cư dân nơi đây trước những
tác động của thời kỳ CNH, HĐH là: mai một các giá trị văn hoá truyền thống;
hành chính hoá lễ hội; thiếu tính hấp dẫn của các thiết chế văn hoá mang tính
Nhà nước; lai căng, pha tạp văn hoá diễn ra trong đời sống của cư dân. Với
những xu hướng biến đổi và các vấn đề đặt ra trong ĐSVH của cư dân ven biển

cư dân từ nước ngoài vào. Về đặc điểm kinh tế, biển và ven biển Hà Tĩnh phong
phú về tài nguyên sinh vật và tài nguyên khoáng sản, có mỏ sắt Thạch Khê với
trữ lượng sắt lớn, có quặng Titan, Ilminite ở ven biển Cẩm Xuyên, Vũng Áng
(Kỳ Anh); có các bãi tắm đẹp tạo thành những khu du lịch nổi tiếng như Thiên
Cầm, Xuân Thành, Thạch Hải, Kỳ Ninh,… có cảng biển nước sâu Vũng Áng Sơn Dương. Với những tiềm năng lợi thế về tự nhiên, nền kinh tế truyền thống
của cư dân ven biển Hà Tĩnh chủ yếu là đánh bắt. Sang thời kỳ CNH, HĐH
vùng ven biển Hà Tĩnh hình thành ba khu kinh tế tiêu biểu, chuyên biệt trên cơ
sở tiềm năng, lợi thế vùng và đặc điểm kinh tế thời kỳ CNH, HĐH, đó là: khu
kinh tế đánh bắt, khu kinh tế du lịch và khu kinh tế tổng hợp (công nghiệp- dịch
22


vụ -hải cảng,…). Sự nghiệp CNH, HĐH ở vùng ven biển Hà Tĩnh trở thành
nhân tố tác động, thúc đẩy và nâng cao đời sống vật chất, mức thu nhập của cư
dân. Những thay đổi về phương thức mưu sinh, điều kiện kinh tế - xã hội, dẫn
đến đời sống văn hoá cũng có những biến đổi sâu sắc.
3. Nghiên cứu thực trạng đời sống văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh
hiện nay qua các thành tố tín ngưỡng, lễ hội, phong tục và tiêu dùng văn hoá,
cho thấy nhiều nét đặc trưng văn hoá của cư dân vùng ven biển Hà Tĩnh được
thể hiện qua các thành tố này. Về đời sống tín ngưỡng của cư dân ven biển Hà
Tĩnh, phong phú các nhân vật phụng thờ, được phân thành tín ngưỡng thờ cúng
cộng đồng và tín ngưỡng thờ cúng tại gia. Tiêu biểu cho tín ngưỡng thờ cúng
cộng đồng có thờ Cá Ông, thờ Tứ vị Thánh Nương, thờ Mẫu, thờ Thành Hoàng,
và thờ các tổ sư nghề biển, các nhân vật lịch sử; về tín ngưỡng thờ cúng tại gia
có thờ cúng tổ tiên và nhiều vị thần khác, có cả Nhiên thần, Nhân thần và Thiên
thần. Về thực hành tín ngưỡng, ngoài dịp lễ hội, lễ tết, mỗi lần ra khơi cư dân
lại đến đền thờ Cá Ông và đền thờ các vị thần khác để thắp hương cầu khấn. Về
sinh hoạt lễ hội cho thấy nhiều dấu ấn đặc trưng vùng biển, thể hiện trong thực
hành nghi lễ, lễ vật và các trò chơi, trò diễn diễn ra trong lễ hội. Về phong tục,
cư dân vùng ven biển Hà Tĩnh có nhiều quan niệm, kiêng kỵ gắn với môi

ven biển Hà Tĩnh qua bốn thành tố cơ bản là tín ngưỡng, lễ hội, phong tục và
tiêu dùng văn hoá, cùng với mục tiêu chương trình hành động thực hiện chiến
lược biển của tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050, luận án
nhận định có 5 xu hướng biến đổi đời sống văn hoá của cư dân VBHT thời kỳ
CNH, HĐH là: mất đi các phong tục gắn với môi trường sống cũ, phục hồi văn
hoá truyền thống có sự tái cấu trúc và giản lược, tiếp nhận yếu tố văn hoá mới
có tính thời đại và quốc tế, gia tăng các hoạt động tín ngưỡng trong cư dân, tiêu
dùng văn hoá của cư dân ngày càng tiện ích hiện đại và quốc tế. Với 5 xu
hướng biến đổi dẫn đến bốn vấn đề đặt ra cần phải xem xét đối với đời sống văn
hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh thời kỳ CNH, HĐH là: mai một các giá trị văn
hoá truyền thống; hành chính hoá lễ hội; thiếu tính hấp dẫn của các thiết chế
văn hoá, thể thao (mang tính Nhà nước) và nguy cơ lại căng, pha tạp văn hoá.
Nắm bắt được xu hướng biến đổi, giải quyết tốt những vấn đề đặt ra, sẽ
có ý nghĩa quyết định đến việc xây dựng đời sống văn hoá của cư dân ven biển
Hà Tĩnh thời kỳ CNH, HĐH đảm bảo lành mạnh, tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội vùng ven biển Hà Tĩnh phát triển bền
vững trên con đường hội nhập thế giới./.
24




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status