i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT GHÉP VÀ TẮT
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
APEC Diễn đàn kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHYT Bảo hiểm y tế
CNH, HĐH Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá
CPI Chỉ số giá tiêu dùng
ĐH – CĐ Đại học – Cao đẳng
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GD – ĐT Giáo dục – đào tạo
ILO Tổ chức lao động quốc tế
USD Dollar Mỹ
WTO Tổ chức thương mại thế giới
ii
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
5. Phương pháp nghiên cứu 4
6. Kết quả dự kiến 4
7. Kết cấu đề tài 4
CHƯƠNG 1: SỰ CẦN THIẾT PHẢI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN
LỰC TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA- HIỆN ĐẠI HÓA 6
1.1. Khái niệm nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 6
1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực
6
1.1.2. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực
9
1.2. Tầm quan trọng của phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu
CNH, HĐH và hội nhập quốc tế 10
1.2.1. Vai trò của nguồn nhân lực đối với quá trình CNH, HĐH và hội
nhập ở nước ta
13
1.2.2. Những đòi hỏi của quá trình CNH, HĐH và hội nhập quốc tế về
nguồn lực con người
15
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
Ở
VIỆT NAMTHỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
VÀ
HỘI NHẬP QUỐC TẾ 22
2.1.Thực trạng phát triển nguồn nhân lực Việt Nam 22
2.1.1. Tình hình kinh tế - xã hội
22
2.1.2. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực Việt Nam 23
2.2. Sự biến động nguồn nhân lực Việt Nam 24
2.2.1. Sự biến động về lực lượng nguồn nhân lực Việt Nam
3.2.1.2. Giáo dục và đào tạo 58
3.2.1.3. Y tế và chăm sóc sức khỏe 64
3.2.1.4. Toàn cầu hóa và hội nhập 66
3.2.2. Về phía Doanh nghiệp
67
3.2.2.1. Đào tạo nguồn nhân lực 67
3.2.2.2.Chế độ tiền lương và các đãi ngộ khác 70
3.2.2.3. Môi trường làm việc 72
3.2.2.4. Tâm lý cho người lao động 73
KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, do sự tác động, chi phối bởi những đặc điểm mới của thời
đại và do những nhu cầu mới của sự phát triển đất nước, cùng với những
bài học rút ra từ thực tiễn phát triển của Việt Nam và qua kinh nghiệm của
nhiều nước, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thực tiễn cũng
như trong lý luận, đã có những thay đổi đáng kể về nội dung và giải pháp.
Cùng với đó, vị trí, đặc điểm các nguồn lực của công nghiệp hóa, hiện đại
hóa cũng được nhìn nhận lại một cách rõ ràng hơn. Trong đó con người
vừa được coi là nguồn lực nội tại, cơ bản quyết định sự thành công của quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, vừa là đối tượng
mà chính quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế phải
hướng vào phục vụ.
Với tư cách là nguồn lực quyết định sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
nguồn nhân lực và thực trạng phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay;
trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhất để phát triển nguồn
nhân lực có hiệu quả đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
nhập quốc tế.
4. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nguồn nhân lực vốn là một đề tài quen thuộc được nhiều nghiên cứu
khoa học ở trong nước cũng như ngoài nước đề cập đến. Trong bối cảnh
toàn cầu hóa và hội nhập có tính cạnh tranh cao như hiện nay cùng với sự
chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở nước ta thì việc nghiên cứu nguồn nhân
lực là thực sự cần thiết.
Phát triển nguồn nhân lực trong mối quan hệ với chuyển đổi mô hình
tăng trưởng là đối tượng của nhiều ngành nghiên cứu, như triết học, kinh tế,
giáo dục,… Từ những góc độ nghiên cứu khác nhau của các ngành này,
3
những vấn đề lý luận về phát triển nguồn nhân lực trong mối quan hệ với
chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở Việt Nam ngày càng rõ nét.
Cuốn “Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp
hóa, hiện đại hóa”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, là thành quả
nghiên cứu trong hơn 10 năm (1991 – 2000) của tác giả Phạm Minh Hạc.
Trong cuốn sách này, tác giả Phạm Minh Hạc tập trung trình bày khái quát
lịch sử hình thành và phát triển của ngành khoa học xã hội nghiên cứu con
người trên thế giới và ở Việt Nam; một số kết quả trong chương trình nghiên
cứu con người và nguồn nhân lực; từ đó,đưa ra một số đề xuất và kiến nghị về
chiến lược và chính sách nhằm phát triển toàn diện con người và nguồn nhân
lực Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Nói tới những vấn đề lý luận chung về nguồn nhân lực, chúng ta còn có
thể kể đến những công trình sau: Bài viết “Những vấn đề văn hóa và phát
triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của
Phạm Thành Nghị trên Tạp chí Phát triển giáo dục, số 8, 2004; Luận án tiến
6. Kết quả dự kiến
Với mục đích nghiên cứu nêu trên, nhóm nghiên cứu mong muốn đạt
được những kết quả nghiên cứu sau:
Làm rõ các khái niệm “nguồn nhân lực”, “phát triển nguồn nhân
lực”; “sự cần thiết phải phát triển nguồn nhân lực” thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay;
Nêu lên thực trạng phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay;
Đề xuất những giải pháp phát triển nguồn nhân lực Việt Nam đáp
ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế;
7. Kết cấu đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, công
trình nghiên cứu gồm 3 chương:
5
Chương 1: Sự cần thiết phải phát triển nguồn nhân lực Việt Nam
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhâp quốc tế
Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp phát triển nguồn nhân lực
Việt Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập
quốc tế.
6
CHƯƠNG 1: SỰ CẦN THIẾT PHẢI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN
LỰC TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA- HIỆN ĐẠI HÓA
1.1. Khái niệm nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực
1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực
Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sự
phát triển như: nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, khoa học - công
nghệ, con người … Dù ở thời đại nào, nguồn nhân lực luôn được coi là
yếu tố thể chất và tinh thần của con người, phản ánh thể lực, trí lực, tâm
lực,… ở con người, nhờ đó tạo ra được sức mạnh với tư cách một nguồn
lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Cụ thể, theo định nghĩa của Liên Hợp
Quốc, “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm,
năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của
mỗi cá nhân và của đất nước”. Khái niệm này dựa trên lý luận về lực lượng
sản xuất, con người được coi là lực lượng sản xuất hàng đầu, là yếu tố quan
trọng nhất, quyết định sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất,
quyết định quá trình sản xuất, do đó quyết định năng suất lao động và tiến
bộ xã hội. Trong khi đó, ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là
toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của
mỗi cá nhân. Ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên
cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên
nhiên. Như vậy, khái niệm nguồn nhân lực theo ngân hàng thế giới được
đặt trong lý luận về vốn, con người được đề cập đến như một loại vốn (“tư
bản người”) – yếu tố đóng vai trò quyết định của quá trình sản xuất và kinh
doanh. Khái niệm nguồn nhân lực, theo tổ chức lao động quốc tế, là toàn bộ
những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Kinh tế phát
triển cho rằng: nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy
định có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực được biểu hiện trên
8
hai mặt: về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm
việc theo quy định của Nhà nước và thời gian lao động có thể huy động
được từ họ; về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến
thức và trình độ lành nghề của người lao động. Nguồn lao động là tổng số
những người trong độ tuổi lao động quy định đang tham gia lao động hoặc
đang tích cực tìm kiếm việc làm, được hiểu trên hai mặt: số lượng và chất
lượng. Như vậy theo kinh tế phát triển thì nguồn nhân lực và nguồn lao
động là hai khái niệm không đồng nhất. Cụ thể, một số trường hợp được
Trong bối cảnh xã hội hiện nay, con người được coi là một nguồn tài
nguyên đặc biệt. Nói cách khác, chăm lo đầy đủ đến yếu tố con người là
yếu tố đảm bảo chắc chắn nhất cho sự phồn vinh của một quốc gia. Bởi
vậy, phát triển nguồn nhân lực hay phát triển nguồn lực con người ngày
nay được coi là quốc sách hàng đầu của nước ta. Đại hội Đảng XI khẳng
định tiếp tục ưu tiên phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực
chất lượng cao. Trong “Chiến lược phát triển kinh tế 2011-2020 được
thong qua tại đại hội Đảng lần thứ XI” ghi rõ: “Phát triển và nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột
phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và là lợi thế cạnh
tranh quan trọng nhất đảm bảo cho sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền
vững”. Đầu tư cho con người là sự đầu tư mang tính chiến lược, là tiền đề
cho sự phát triển bền vững.
Khái niệm phát triển nguồn nhân lực cũng giống như khái niệm
nguồn nhân lực, được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Phát triền nguồn
nhân lực có thể hiểu là nâng cao trình độ con người về mọi mặt: thể lực, trí
lực và tâm lực, đồng thời phân bố, sử dụng, khai thác và phát huy hiệu quả
nhất nguồn nhân lực thong qua hệ thống phân công lao động và giải quyết
việc làm để phát triển kinh tế - xã hội. Theo Liên Hợp quốc, phát triển
nguồn nhân lực chính là việc sử dụng tiềm năng của con người nhằm thúc
10
đẩy kinh tế - xã hội phát triển và nâng cao chất lượng sống của con người.
Với một số học giả khác, phát triển nguồn nhân lực là gia tăng giá trị của
con người trên cả phương diện vật chất lẫn tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn
làm cho con người có được những phẩm chất mới, tốt đẹp hơn, năng lưc
được nâng cao hơn, đáp ứng được yêu cầu ngày càng khắt khe của nền kinh
tế - xã hội hiện tại.
Tóm lại, dù được hiểu trên phương diện nào thì tổng quát nhất phát
triển nguồn nhân lực chính là sự biến đổi về số lượng và chất lượng của
luyện kim, năng lượng,… Tại hội nghị lần thứ VII Ban chấp hành Trung
ương khóa VII Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “Công nghiệp hóa, hiện
đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ
công là chính, sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công
nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển
của công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ, tạo ra năng suất lao động
xã hội cao”. Nói một cách đơn giản thì công nghiệp hóa chính là sự phát
triển của các lực lượng sản xuất từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến
hoàn thiện. Từ định nghĩa về công nghiệp hóa tại hội nghị lần thứ VII Ban
chấp hành Trung ương khóa VII, cốt lõi của công nghiệp hóa chính là cải
biến lao động thủ công lạc hậu thành lao động sử dụng kỹ thuật tiên tiến,
hiện đại để đạt được năng suất lao động cao. Định nghĩa này đồng thời xác
định được công nghiệp hóa phải gắn với hiện đại hóa. Công nghiệp hóa và
hiện đại hóa là hai khái niệm không tách rời nhau nhưng cũng không hoàn
toàn đồng nhất với nhau. Từ điển Tiếng Việt định nghĩa hiện đại hóa là làm
cho cái gì đó mang tính chất của thời đại ngày nay. Hiện đại hóa hiểu theo
nghĩa rộng chính là quá trình ứng dụng và trang bị những thành tựu khoa
học và công nghệ tiên tiến, hiện đại vào quá trình sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ và quản lí kinh tế - xã hội. Hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân là
12
làm cho kỹ thuật và công nghệ sản xuất cũng như cơ cấu kinh tế đạt được
trình độ tiên tiến của thời đại. Nói cách khác, đây chính là khía cạnh kinh tế
- kỹ thuật của hiện đại hóa. Thực chất, hiện đại hóa chính là quá trình phản
ánh sự vận động và phát triển của con người thông qua những tiến bộ về
khoa học – kỹ thuật cũng như những công nghệ mới được áp dụng vào
trong sản xuất. CNH, HĐH là hai quá trình nối tiếp nhau, đan xen nhau,
lồng ghép nhau. Hiện đại hóa chính là một phương thức để loài người
chống lại sự tụt hậu trước sự bùng nổ của cách mạng khoa học – công nghệ
nhân lực giữ vai trò quyết định. Tuy vậy, cần phải lưu ý rằng mặc dù nguồn
lực con người giữ vai trò quyết định không có nghĩa là tách rời nguồn lực
con người ra khỏi các nguồn lực khác. Trái lại, phải đặt nguồn lực con người
trong mối tương quan với các nguồn lực hiện có. Đảng Cộng sản Việt Nam
đã khẳng định: “Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa,
vì xã hội công bằng, văn minh, con người phát triển toàn diện. Văn hoá là
kết quả của kinh tế, đồng thời là động lực của sự phát triển kinh tế. Các nhân
tố phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương
diện chính trị, kinh tế, luật pháp, kỷ cương, biến thành nguồn lực nội sinh
quan trọng nhất của sự phát triển”. Có thể nói, trong quá trình kinh tế - xã
hội nguồn nhân lực vừa là chủ thể nhưng đồng thời cũng là khách thể. Như
mọi quốc gia khác trên thế giới, sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế
đều phải phụ thuộc vào nguồn nhân lực và do nguồn lực này quyết định.
Những nguồn lực khác như: vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa
lý,… tồn tại dưới dạng tiềm năng là chủ yếu. Chúng chỉ phát huy tác dụng
khi được khai thác đúng cách, thông qua sự chỉ đạo của con người. Nói
cách khác, nguồn vốn, nguồn tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý sẽ trở
nên vô nghĩa nếu không được kết hợp với nguồn nhân lực. Con người là
nguồn lực duy nhất biết tư duy, có trí tuệ và có khả năng kết hợp các
14
nguồn lực lại với nhau. Vì thế, trong các yếu tố cấu thành nên lực lượng
sản xuất thì người lao động được coi là lực lượng sản xuất quan trọng
nhất, “là lực lượng sản xuất hàng đầu của nhân loại”. Con người không
chỉ đóng vai trò quyết định hiệu quả của việc khai thác, sử dụng nguồn
lực tự nhiên và các nguồn lực hiện có mà còn góp phần tạo ra các nguồn
lực mới trong xã hội. Trước xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa vai trò của
con người trong việc khai thác, sử dụng những nguồn lực tiềm năng kể
trên là không thể phủ nhận. Xét đến cùng, khái niệm “nguồn lực” có thể
sẽ không còn tồn tại nếu thiếu đi “con người”, thiếu đi trí tuệ và lao động
thời kỳ hiện nay, thời kỳ công nghiệp hóa gắn liền với hiện đại hóa; thời kỳ
hội nhập quốc tế trở thành ưu tiên hàng đầu; thời kỳ phát triển con người
xu thế trí tuệ hóa lao động, đi đôi với dân chủ hóa và nhân văn hóa đời
sống xã hội, đặc biệt là kết hợp khai thác giá trị truyền thống và yếu tố hiện
đại phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế.
Trong điều kiện đó, để đáp ứng được yêu cầu của quá trình CNH,
HĐH và hội nhập quốc tế, phát triển nguồn nhân lực nước ta cần phải có
những thay đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu nhất định, khác với thời
kỳ trước.
Đầu tiên, người lao động Việt Nam nói chung phải có phẩm chất đạo
đức tốt và trên hết là phải có một lòng “nồng nàn yêu nước”, có tinh thần tự
cường dân tộc như chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói. Không chỉ vậy, trong
bối cảnh hiện nay, điều cần thiết là người lao động phải có lòng tự tôn dân
tộc quyết đưa nước ta ra khỏi đói nghèo, lạc hậu để hoàn thành sự nghiệp
CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, để “sánh vai cùng các cường quốc năm
châu” khác. Lòng yêu nước tuy là một tình cảm rất tự nhiên, nhưng mặt
khác, quan trọng hơn, chính là sản phẩm của lịch sử, được hun đúc bởi lịch
sử. Yêu nước, thương nòi trở thành một giá trị cơ bản trong hệ giá trị
16
truyền thống của dân tộc Việt Nam. Lòng yêu nước đó phải thấm sâu vào
con tim, khối óc, và phải được thể hiện bằng việc làm, hành vi cụ thể,
không phải một tình yêu trừu tượng chỉ được thể hiện bằng lời nói suông.
Không có lòng yêu nước, sự nghiệp CNH, HĐH khó có thể thành công và
dĩ nhiên tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam ta sẽ gặp nhiều trở ngại.
Lòng yêu nước là phẩm chất hết sức quý báu, “bắt nguồn từ tình yêu nhà,
yêu quê hương; những tình yêu cụ thể hợp thành tình yêu lớn, tình yêu Tổ
quốc,…” Nói cách khác, lòng yêu nước chính là phẩm chất quý báu của
dân tộc Việt Nam nói chung và lao động Việt Nam nói riêng. Bài học về
lòng yêu nước ta đã thấy ở một cường quốc châu Á đó chính là Nhật Bản.
hòn núi cao” cố kết cộng đồng chặt chẽ bởi lẽ trong xu thế toàn cầu hóa như
hiện nay hợp tác để cùng phát triển là điều tất yếu. Một người lao động dù có
giỏi chuyên môn đến mấy nhưng nếu thiếu sự hợp tác với cộng đồng thì
cũng không thể thành công. Đi từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, Việt Nam ta
trở thành nước đang phát triển, thành công bước đầu này là kết quả của thái
độ không cam chịu đói nghèo, dám nghĩ dám làm. Tuy nhiên, để có thể
“sánh vai với các cường quốc năm châu” thì người lao động nước ta còn cần
nâng cao hiểu biết, nâng cao trình độ chuyên môn – điều này phần lớn lao
động nước ta chưa đáp ứng được, nỗ lực tiến quân vào khoa học – công
nghệ, lao động chăm chỉ, hăng say, đặc biệt, người Việt Nam nói chung và
người lao động nói riêng cần phải có phẩm chất cần – kiệm – liêm – chính
như chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn. Trước sự cám dỗ đời thường và
những tư tưởng không phù hợp với thể chế xã hội của nước ta, người lao
động ngày nay còn phải thể hiện một bản lĩnh vững vàng, chắc chắn.
Khái quát hóa, tinh thần yêu nước, theo chiều dài lịch sử đã được
nâng lên thành chủ nghĩa yêu nước, tinh thần tự tôn và tự hào dân tộc đi
từ thời loạn đến thời bình có những sự khác biệt. Bên cạnh những giá trị
truyền thống, cần phải tiếp thu những cái mới để kịp thời đổi mới tư duy
18
bắt kịp với xu thế của xã hội, phục vụ cho quá trình CNH, HĐH và tiến
trình hội nhập quốc tế của nước ta. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào phẩm chất
đạo đức tốt, lập trường chính trị vững vàng thôi là chưa đủ, vẫn còn cần
những yếu tố khác của người lao động phục vụ cho công cuộc CNH, HĐH
và hội nhập quốc tế. Phát triển nguồn nhân lực phải theo hướng tiếp thu
và phát huy giá trị truyền thống đồng thời đổi mới tư duy để bắt kịp với
thế giới.
Quá trình CNH, HĐH đang diễn ra trong xu thế toàn cầu hóa. Do đó,
đòi hỏi người lao động Việt Nam phải chủ động tham gia hội nhập quốc tế.
Hội nhập quốc tế có nghĩa là chấp nhận cạnh tranh với bên ngoài trong điều
sức khỏe như trên. Sức khỏe chính là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát
triển trí tuệ, là phương tiện để biến sức mạnh thành vật chất. Người lao động
cần phải có sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần. Phát triền nguồn nhân
lực phải chú trọng đến sức khỏe người lao động là yêu cầu đầu tiên trong
quá trình CNH, HĐH và hội nhập quốc tế.
Phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ CNH, HĐHvà hội nhập quốc
tế không có nghĩa là đặt nguồn nhân lực độc lập với thiên nhiên. Phát triển
nguồn nhân lực phải chú trọng đến bảo tồn hệ sinh thái, bảo vệ, cải thiện
môi trường sống vì mục tiêu phát triển bền vững. Nói cách khác, phát triển
nguồn nhân lực phải gắn với văn hóa sinh thái. Đây là vấn đề cấp bách,
sống còn không chỉ của một quốc gia mà của toàn nhân loại. Con người, dù
là hình thức tiến hóa nhất của động vật nhưng cũng không thể tách rời được
với thiên nhiên, mà tồn tại như một bộ phận của tự nhiên, gắn bó chặt chẽ
với thiên nhiên, không thể tách rời thiên nhiên trong quá trình tồn tại và
phát triển của mình. Quá trình CNH, HĐH có những tác động tiêu cực đến
môi trường và hệ sinh thái. Hay nói cách khác “chúng ta đang giết dần giết
mòn bà mẹ nuôi dưỡng chúng ta”. Không thể phát triển nguồn nhân lực độc
lập với thiên nhiên, phải đặt công cuộc bảo vệ thiên nhiên, môi trường song
20
song với công cuộc phát triển nguồn nhân lực. Phát triền nguồn nhân lực –
bảo vệ thiên nhiên là hai khía cạnh không thể tách rời trong quá trình
CNH, HĐH và hội nhập quốc tế.
Sự nghiệp CNH, HĐH và tiến trình hội nhập quốc tế khó có thể diễn
ra thuận lợi và thành công nếu thiếu giá trị nhân văn. Giá trị nhân văn là
thành quả người lao động tạo ra, vun đắp và gìn giữ. Điều đáng buồn là
một phần đông lao động Việt Nam chưa coi trọng giá trị nhân văn này. Do
vậy, phát triển nguồn nhân lực đồng thời cũng phải phát triển nhận thức, ý
thức và cả tâm thức cho người lao động. Sự nghiệp CNH, HĐH và tiến
trình hội nhập quốc tế ở nước ta đòi hỏi người lao động vừa phải biết kế