phát triển kinh tế tỉnh đắk lắk trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Pdf 23

MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Là một tỉnh miền núi, nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên (TN), có diện tích
tự nhiên vào loại lớn nhất cả nước, Đắk Lắk có vị trí chiến lược quan trọng đối với
phát triển kinh tế - xã hội (KT – XH), đảm bảo an ninh quốc phòng và bảo vệ môi
trường sinh thái với tiềm năng to lớn về quỹ đất cho phát triển nông, lâm nghiệp và
công nghiệp chế biến nông- lâm sản, dự trữ thủy năng cho công nghiệp điện, phát
triển thương mại và dịch vụ Trong quá trình đổi mới kinh tế và công nghiệp hóa,
hiện đại hóa (CNH, HĐH), nền kinh tế của tỉnh đã có những thay đổi cơ bản về cả
phương diện ngành và lãnh thổ. GDP năm 2010 tăng gấp 3,8 lần năm 2004 (năm
chia tách tỉnh Đắk Lắk thành Đắk Lắk và Đắk Nông), đạt 25.353,8 tỉ đồng, đứng
đầu vùng TN và thứ 7/63 tỉnh, thành phố (TP); tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm
quốc nội (GDP) giai đoạn 2004 - 2010 là 11,3%/năm, cao hơn mức trung bình của
cả nước và vùng Tây Nguyên. Bình quân GDP/người/năm liên tục tăng, từ 4,1 triệu
đồng lên 14,5 triệu đồng. Cơ cấu GDP có sự chuyển dịch nhưng khu vực I vẫn
chiếm ưu thế với 53,1%. Cơ cấu kinh tế (CCKT) theo lãnh thổ cũng có sự chuyển
biến tích cực, đã xuất hiện các hình thức tổ chức lãnh thổ gắn với CNH, HĐH như
vùng chuyên canh cà phê lớn nhất Tây Nguyên và cả nước, vùng ngô quy mô lớn;
các Cụm và Khu công nghiệp; các Khu du lịch quốc gia (Yok Đôn) và Điểm du lịch
quốc gia (Hồ Lắk), Cụm du lịch (Buôn Ma Thuột và phụ cận),
Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả khả quan, nhưng kinh tế Đắk Lắk đang đối
mặt với nhiều thách thức: nền kinh tế vẫn trông cậy nhiều vào nông, lâm nghiệp (tỉ
trọng cao thứ 2 ở vùng TN và thứ 3 cả nước), khu vực công nghiệp còn nhỏ bé
(18,5% năm 2010), chuyển dịch CCKT còn chậm, cơ sở hạ tầng (CSHT) và cơ sở
vật chất (CSVC) kỹ thuật chưa đáp ứng được yêu cầu CNH, HĐH; GDP/người còn
thấp (đứng thứ 4/5 tỉnh ở vùng TN và thứ 47/63 tỉnh, TP cả nước. Tỉ lệ hộ nghèo,
nhất là hộ dân tộc ít người còn cao (chiếm 21,9% năm 2010, cao hơn mức trung
bình cả nước 14,2%).
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ XV, nhiệm kỳ
2010- 2015 đã xác định phương hướng chung: “…Tiếp tục đẩy mạnh toàn diện sự
nghiệp CNH, HĐH; chuyển dịch CCKT theo hướng công nghiệp, dịch vụ gắn với

phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để đánh giá kết quả hoạt động của nền kinh tế.
Trong hệ thống lý thuyết PTKT, lý luận về giai đoạn PTKT [50] là cơ sở lí
thuyết quan trọng, do nhà lịch sử kinh tế người Mỹ, Walter W. Rostow đưa ra.
Trong cuốn “Các giai đoạn PTKT”, ông đã nêu lên một cách tổng hợp theo lịch sử
về những bước khởi đầu về quá trình PTKT hiện đại. Theo mô hình Rostow, quá
trình PTKT của mỗi quốc gia được chia thành 5 giai đoạn: xã hội truyền thống, giai
2
đoạn tạo tiền đề để cất cánh, giai đoạn cất cánh, giai đoạn trưởng thành và mức
tiêu dùng cao, giai đoạn theo đuổi chất lượng sống và ứng với mỗi giai đoạn là một
CCKT đặc trưng thể hiện bản chất phát triển của giai đoạn ấy. Trong đó, then chốt
nhất là giai đoạn “cất cánh”. Để chuẩn bị điều kiện cất cánh kinh tế, theo Rostow
phải có một hoặc nhiều ngành làm chủ đạo cho “cất cánh”. Sự chuyển giai đoạn
PTKT biểu hiện ở sự thay đổi tuần tự các ngành chủ đạo. Mô hình W. Rostow mặc
dù còn có hạn chế về cơ sở của sự phân đoạn trong PTKT cũng như sự nhất quán về
đặc trưng của mỗi giai đoạn so với thực tế; tuy nhiên mô hình này đã chỉ ra một sự
lựa chọn hợp lí về cơ cấu ngành tương ứng với mỗi giai đoạn phát triển nhất định ở
mỗi quốc gia, địa phương và cũng là những gợi ý quan trọng để nghiên cứu sinh
phân tích về CCKT và sự chuyển dịch CCKT ở tỉnh Đắk Lắk.
Học thuyết Keynes: do John Maynard Keynes (1883- 1946), nhà kinh tế học
người Anh trình bày trong tác phẩm “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền
tệ”, xuất bản năm 1936, trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng nền kinh tế thế giới
1929- 1933. Keynes cho rằng nền kinh tế của một quốc gia có thể đạt tới và duy trì
một sự cân đối ở một mức sản lượng nào đó, dưới mức công ăn việc làm đầy đủ cho
mọi người, tại nơi mà những khoản chi tiêu mới cho đầu tư được hình thành từ các
khoản tiết kiệm đang được đưa vào hệ thống. Ông cũng đánh giá cao vai trò của tiêu
dùng trong việc xác định sản lượng. Việc giảm xu hướng tiêu dùng sẽ làm cho cầu
tiêu dùng giảm và đây chính là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự trì
trệ trong hoạt động kinh tế. Trong tác phẩm của mình, Keynes cũng cho rằng, đầu
tư đóng vai trò quyết định đến quy mô việc làm. Ông sử dụng lí luận về việc làm và
sản lượng do cầu quyết định để giải thích mức sản lượng thấp và thất nghiệp cao

những vùng còn trống vắng đô thị.
Lý thuyết phát triển các cực [101] của nhà kinh tế học người Pháp FranÇoi
Perroux được đưa ra vào những năm 1950. Ông phát hiện ra rằng, một vùng không thể
PTKT đều đặn ở tất cả các điểm trên lãnh thổ vào cùng một thời gian. Xu hướng chung là
có một hoặc một vài điểm phát triển mạnh nhất, trong khi đó các điểm khác lại chậm phát
triển hay bị trì trệ. Tất nhiên, các điểm phát triển nhanh là các điểm có lợi thế so với toàn
vùng. Ông đã đưa ra khái niệm về cực tăng trưởng. Đó là các trung tâm mới hình thành và
đang phát triển; nó là một hệ thống hay một phức hợp những hoạt động mang nhiều tính
thụ động; chịu ảnh hưởng thúc đẩy từ bên ngoài. Nhịp độ phát triển cực tăng trưởng
thường là mạnh, bởi chúng phản ứng mạnh và nhanh đối với những sức thúc đẩy, sức lôi
cuốn từ các cực phát triển. Trên cơ sở lực hút và lực đẩy của mỗi trung tâm mà hình thành
nên vùng ảnh hưởng của nó tới xung quanh. Từ triển vọng phạm vi ảnh hưởng của mỗi
trung tâm người ta có thể xác định được khu vực lãnh thổ để xây dựng điểm đô thị mới,
4
làm cho tất cả các lãnh thổ đều có đô thị hạt nhân, hay nói cách khác không để lãnh thổ
nào trống vắng đô thị.
Lý thuyết cực tăng trưởng được áp dụng tương đối rộng rãi ở châu Á, nhất là
các nước ASEAN. Nhiều kinh nghiệm đã được tích lũy và có giá trị đối với các
quốc gia cần huy động vốn đầu tư nước ngoài. Đây cũng là lý thuyết giải thích sự
cần thiết của việc PTKT theo lãnh thổ theo hướng phát triển có trọng điểm.
Lý thuyết phát triển phi cân đối: vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX,
người Trung Quốc đề xướng chủ trương phát triển vùng ven biển để tạo động lực.
Đó là ý tưởng của lý thuyết phát triển phi cân đối để lựa chọn không chỉ các ngành
mũi nhọn, mà còn nhằm lựa chọn những lãnh thổ có vai trò động lực để tập trung
đầu tư phát triển đối với chúng. Lý thuyết này cho rằng, đối với mỗi nền KT quốc
dân sẽ có những ngành, lĩnh vực có lợi thế phát triển thành những ngành, lĩnh vực
mũi nhọn; có những lãnh thổ do hội tụ được nhiều điều kiện thuận lợi, nếu tập trung
đầu tư sẽ trở thành lãnh thổ động lực làm đầu tàu lôi kéo sự phát triển chung. Theo
quan điểm đầu tư tập trung có trọng tâm, trọng điểm trước hết tập trung sức lực phát
triển những ngành, lĩnh vực, lãnh thổ có ý nghĩa động lực để tạo đột phá cho sự phát

nhà khoa học Việt Nam. Cho đến nay, hàng loạt các công trình nghiên cứu lý thuyết
và thực tiễn về PTKT đã được công bố.
Lê Du Phong và Nguyễn Thành Độ trong cuốn “Chuyển dịch CCKT trong
điều kiện hội nhập với khu vực và thế giới” [49] ngoài việc phân tích thực trạng
CCKT theo một số vùng và thành phần kinh tế thời kỳ 1991- 1997, đã làm rõ luận
cứ khoa học của PTKT và CCKT theo hướng hội nhập.
Tăng trưởng và phát triển là vấn đề hàng đầu, luôn được các nhà lãnh đạo đất
nước, các nhà quản lý, các nhà khoa học ở trong nước cũng như trên thế giới quan
tâm, nghiên cứu, tìm hiểu. Tìm được con đường phát triển đúng đắn sẽ làm đất nước
hưng thịnh, giàu mạnh và ngược lại, sẽ dẫn đất nước đến nghèo khổ, yếu kém nếu
con đường phát triển sai trái, không phù hợp quy luật. Trong quá trình phát triển của
loài người, nhất là trong hai thế kỷ gần đây, các nhà khoa học đã không ngừng
nghiên cứu, hoàn thiện và đưa ra các lý thuyết về tăng trưởng và phát triển.
Giáo trình Kinh tế phát triển do GS.TS Vũ Thị Ngọc Phùng chủ biên [50] đã làm
rõ những vấn đề lí luận đã được áp dụng cho hoạt động kinh tế ở Việt Nam, những sáng
tạo của Việt Nam trong việc lựa chọn đường lối PTKT phù hợp với điều kiện thực tế của
đất nước và môi trường kinh tế quốc tế. Đặc biệt trong giáo trình này, các tác giả đã phân
tích các mô hình, lí thuyết tăng trưởng và PTKT. Đây là cơ sở quan trọng giúp tác giả
nắm vững và vận dụng vào nghiên cứu PTKT ở tỉnh Đắk Lắk.
6
Nhóm tác giả PGS. TS Ngô Doãn Vịnh (chủ biên), TS. Nguyễn Xuân Thu,
TS. Nguyễn Văn Thành trong cuốn sách "Bàn về PTKT (Nghiên cứu con đường dẫn
tới giàu sang)" [103] đã đề cập đến các tư tưởng, lý thuyết, quan điểm cơ bản về
TTKT, những vấn đề cốt lõi trong nghiên cứu TTKT của nước ta, mối quan hệ giữa
TTKT với phát triển bền vững và cơ cấu của nền kinh tế. Ngoài ra, cuốn sách còn
đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển con người và nguồn nhân
lực để phát triển đất nước trong điều kiện hội nhập quốc tế, giới thiệu các vấn đề cơ
bản về tổ chức không gian KT - XH nhằm phát triển đất nước một cách có hiệu quả,
bền vững cho Việt Nam khi bước vào thế kỷ XXI.
Cùng tác giả, cuốn “Phát triển: điều kỳ diệu và bí ẩn” [102] đã tuyển chọn

Nam về các lĩnh vực kinh tế (nông - lâm - ngư nghiệp, công nghiệp - xây dựng, dịch
vụ), và 8 vùng kinh tế. Ngoài ra, giáo trình còn chú trọng các khía cạnh xã hội của
Địa lí học.
Một số vấn đề như lao động, việc làm, tình trạng thất nghiệp và chất lượng
cuộc sống của nhân dân xét dưới góc độ một số tiêu chí chủ yếu (GDP bình quân
đầu người; giáo dục; y tế và chăm sóc sức khỏe; nhà ở ). Vấn đề TCLT của các
ngành và các vùng cũng được đề cập đến
“Việt Nam, các tỉnh và TP”, (2010), Lê Thông (chủ biên) [71], đã phác họa
bức tranh tương đối hệ thống về thiên nhiên, con người và các hoạt động kinh tế ở
mỗi đơn vị hành chính cấp tỉnh. Cuốn sách có giá trị thực tiễn rất lớn trong việc
nghiên cứu sự PTKT xã hội của các vùng và các ngành của nước ta.
“Địa lí các vùng kinh tế Việt Nam”, (2009), Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên)
[86] và “Việt Nam- các vùng kinh tế và vùng kinh tế trọng điểm” do Lê Thông và
Nguyễn Quý Thao (đồng chủ biên) (2012) [74], đã cụ thể hóa thực tế PTKT theo 7
vùng và 4 vùng kinh tế trọng điểm của nước ta. Các vùng này được trình bày theo
một cấu trúc thống nhất với các chủ đề về nguồn lực, thực trạng phát triển KT - XH
và định hướng phát triển. Cuốn sách này đã đem lại nhiều thông tin khoa học hữu
ích và cập nhật về các vùng kinh tế của nước nhà và là tư liệu hữu ích cho nghiên
cứu sinh khi nghiên cứu về Tây Nguyên.
“Địa lí kinh tế- xã hội Việt Nam thời kì hội nhập”, năm 2006, của Đặng Văn
Phan và Nguyễn Kim Hồng [45] trình bày các nguồn lực phát triển KT - XH Việt
Nam; Địa lí một số ngành kinh tế của Việt Nam cũng như các vấn đề phát triển KT
- XH của các vùng, giúp tác giả có cách nhìn nhận về cách tổ chức không gian
kinh tế, nghiên cứu chiến lược PTKT vùng trong xu thế hội nhập hiện nay.
Đối với vùng Tây Nguyên (TN), cũng có một số công trình khoa học nghiên
cứu các khía cạnh khác nhau của vùng, như: “Quy hoạch tổng thể phát triển KT -
8
XH vùng TN đến năm 2010 (1995) và đến năm 2020” ( 2012) của Bộ Kế hoạch và
Đầu tư [3],[8], của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, năm 1996’’.
“PTKT và vấn đề bảo vệ môi trường vùng TN trong tình hình mới” đề tài

Các tài liệu trên đây có ý nghĩa rất lớn để tác giả tham khảo trong quá trình
nghiên cứu về lý luận và thực tiễn PTKT của Việt Nam cũng như vùng TN và của
tỉnh Đắk Lắk.
Dưới góc độ địa lí, việc nghiên cứu về “PTKT tỉnh Đắk Lắk trong thời kỳ CNH,
HĐH” là khá mới mẻ. Do đó, tác giả lựa chọn đề tài này với mong muốn nghiên cứu
hiện trạng sự PTKT theo ngành và theo lãnh thổ một cách đầy đủ nhất, toàn diện nhất.
3. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU
3.1. Mục tiêu
Vận dụng cơ sở lý luận và thực tiễn về PTKT để làm căn cứ khoa học cho
việc đánh giá tiềm năng, phân tích thực trạng PTKT trong quá trình CNH, HĐH,
cũng như các định hướng và giải pháp PTKT ở tỉnh Đắk Lắk dưới góc độ địa lí học.
3.2. Nhiệm vụ
- Tổng quan có cơ sở lý luận và thực tiễn PTKT, CNH, HĐH và vận dụng
nghiên cứu vào tỉnh Đắk Lắk.
- Đánh giá các nhân tố tác động đến PTKT ở tỉnh Đắk Lắk trong quá trình
CNH, HĐH.
- Phân tích thực trạng PTKT ở Đắk Lắk giai đoạn 2004- 2011 dưới góc độ
địa lí học.
- Đề xuất định hướng và giải pháp phát triển ổn định, bền vững nền kinh tế
tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020 và định hướng 2030.
3.3. Giới hạn nghiên cứu
3.3.1. Về nội dung:
- Tập trung đánh giá các nhân tố tác động đến PTKT ở tỉnh Đắk Lắk
- Đề tài giới hạn nghiên cứu PTKT theo ngành và theo lãnh thổ ở tỉnh Đắk Lắk
dưới góc độ địa lí học:
+ Về PTKT theo ngành, tập trung phân tích theo 3 nhóm ngành (Nông – Lâm
- Thủy sản; Công nghiệp - Xây dựng; Dịch vụ), trong đó đi sâu vào 2 ngành thế
mạnh là nông nghiệp và lâm nghiệp (của nhóm ngành Nông – Lâm - Thủy sản);
công nghiệp (của nhóm ngành Công nghiệp - Xây dựng) và thương mại, du lịch
(của nhóm ngành Dịch vụ)

một bộ phận của hệ thống, tồn tại và phát triển trong mối quan hệ mật thiết với các
phân hệ còn lại trong hệ thống và với những yếu tố khác bên ngoài hệ thống
(ĐKTN, thị trường,…)
Bản thân các ngành kinh tế cũng là một hệ thống ở cấp thấp hơn của hệ
thống kinh tế quốc dân, được hình thành bởi các phần tử khác nhau (theo ngành,
lãnh thổ hoặc thành phần kinh tế,…). Các phần tử cấu thành nên hệ thống này
11
không hoạt động đơn lẻ mà có mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau và có quan hệ
với các hệ thống khác và ngày càng được mở rộng trong quá trình phân công và hợp
tác lao động. Bất cứ một thành tố nào của hệ thống thay đổi đều ảnh hưởng đến các
thành tố còn lại và làm thay đổi cả hệ thống. Khi một ngành, một lĩnh vực thay đổi,
nó sẽ kéo theo sự thay đổi của hệ thống các ngành kinh tế khác.
Như vậy, mặc dù luận án nghiên cứu về sự PTKT của tỉnh Đắk Lắk chủ yếu
tập trung vào việc phân tích thực trạng PTKT theo ngành và theo lãnh thổ, nhưng
căn cứ vào quan điểm hệ thống, nó lại được đặt trong quan hệ hệ thống với các
ngành kinh tế và với các lãnh thổ xung quanh.
Bởi vì nếu xét trên hệ thống lớn hơn, thì tỉnh Đắk Lắk được coi là một bộ
phận của vùng TN và không gian kinh tế TN- DHNTB. Nếu xét cấp thấp hơn thì
Đắk Lắk là một tập hợp bao gồm các hệ thống con (các huyện, thị xã TP) có mối
quan hệ tương tác mật thiết với nhau. Vì vậy, luận án đã nghiên cứu, tìm hiểu các
mối quan hệ qua lại, các tác động ảnh hưởng giữa các yếu tố trong một hệ thống và
giữa các hệ thống để đánh giá chính xác vấn đề cần nghiên cứu đó là những tiềm
năng và thực trạng PTKT của tỉnh trong giai đoạn hiện nay.
4.1.3. Quan điểm lịch sử- viễn cảnh
Mọi sự vật, hiện tượng địa lý dù lớn, nhỏ đều có sự phát sinh, phát triển riêng
của nó. Sự PTKT luôn luôn thay đổi trong các thời kỳ và luôn luôn ở trạng thái vận
động, biến động không ngừng theo sự phát triển của LLSX và quan hệ sản xuất.
Vận dụng quan điểm lịch sử vào nghiên cứu luận án để thấy được những biến đổi
của các yếu tố kinh tế qua từng giai đoạn phát triển kinh tế của tỉnh, từ đó đánh giá
chính xác các triển vọng phát triển của các ngành kinh tế cũng như sự phân hóa lãnh

tiến hành khảo sát thực địa tại hầu hết các huyện, thị xã Buôn Hồ và TP Buôn Ma
Thuột trong nhiều đợt. Nội dung các hoạt động thực địa của tác giả đã thực hiện bao
gồm: quan sát, điều tra, ghi chép, mô tả, chụp ảnh, ghi hình, gặp gỡ trao đổi với
lãnh đạo các Sở, ban ngành, các chuyên gia, cán bộ quản lí về các vấn đề liên quan.
Trên cơ sở đó, tác giả đã thu thập và xử lí được nhiều thông tin về quan điểm, chủ
trương, chính sách liên quan đến PTKT trong thời kỳ CNH, HĐH định hướng đến
năm 2020.
4.2.3. Phương pháp bản đồ và GIS
Sử dụng phần mềm Map Info để thành lập cơ sở dữ liệu địa lý và xây dựng
các bản đồ chuyên đề để mô tả các nhân tố ảnh hưởng đến PTKT, phân tích thực
trạng PTKT, sự phân bố các hiện tượng kinh tế, mối liên quan đến không gian lãnh
thổ và xu hướng PTKT trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa; định hướng
đến năm 2020 và tầm nhìn sau 2020. Một số bản đồ được biên vẽ :
13
Bản đồ hành chính tỉnh Đắk Lắk
Bản đồ các nhân tố tự nhiên ảnh hưởng đến PTKT tỉnh Đắk Lắk
Bản đồ đất tỉnh Đắk Lắk
Bản đồ các nhân tố KT – XH ảnh hưởng đến PTKT tỉnh Đắk Lắk
Bản đồ tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Đắk Lắk
Bản đồ phát triển và phân bố nông- lâm- thủy sản tỉnh Đắk Lắk
Bản đồ phát triển và phân bố công nghiệp tỉnh Đắk Lắk
Bản đồ phát triển và phân bố dịch vụ tỉnh Đắk Lắk
4.2.4. Phương pháp phân tích thống kê
Tác giả đã dùng phương pháp này thông qua các bảng số liệu để phân tích các
dãy số biến động theo thời gian và không gian; các loại biểu đồ, đồ thị…nhằm nêu lên
một cách tổng hợp bản chất và tính quy luật của các hiện tượng và quá trình KT- XH
trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Trên cơ sở các số liệu, tài liệu thu thập được tác giả đã tính
toán các chỉ tiêu cần thiết, so sánh và rút ra những nhận định và kết luận đáp ứng mục
đích nghiên cứu và từ đó đề xuất một số biện pháp giải quyết.
4.2.5. Phương pháp chuyên gia

TTKT là một trong những nội dung cơ bản của PTKT và là một trong những
vấn đề hấp dẫn nhất trong nghiên cứu kinh tế phát triển nói chung và Địa lí học
(KT-XH) nói riêng.
TTKT là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian
nhất định (thường là một năm). Sự gia tăng thể hiện ở quy mô và tốc độ. Quy mô
tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng
với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm của các thời
kỳ [50, tr21].
Nếu sản lượng hàng hóa và dịch vụ trong một quốc gia năm sau tăng hơn so
với năm trước thì quốc gia đó được coi là có sự TTKT.
Bản chất của TTKT là sự thay đổi về lượng của nền KT. Ngày nay, yêu cầu
TTKT gắn liền với tính bền vững hay đảm bảo chất lượng tăng trưởng ngày càng cao,
tăng trưởng kinh tế xanh, nghĩa là mô hình tăng trưởng biến những hạn chế về nguồn lực
và ảnh hưởng của thảm họa thiên nhiên thành những cơ hội kinh tế giúp nâng cao tăng
trưởng và giảm tác động xấu tới môi trường thông qua sử dụng hiệu quả nguồn tài
nguyên và tăng đầu tư vào vốn tự nhiên.
b. Phát triển kinh tế (PTKT)
PTKT là quá trình chuyển đổi kinh tế có liên quan đến việc chuyển biến
cơ cấu của nền kinh tế thông qua quá trình CNH, tổng sản phẩm trong nước
và thu nhập bình quân đầu người. Nói chung, các nước đang phát triển được
đặc trưng bởi nền sản xuất tự cấp tự túc là chính, chủ yếu là nông nghiệp và
mức thu nhập bình quân đầu người thấp. Các nước phát triển được đặc trưng
bởi các ngành chế biến và dịch vụ lớn, mức thu nhập đầu người cao[42].
Theo[106] hiểu theo nghĩa chung nhất thì PTKT là một quá trình được
bao hàm trong sự tăng trưởng và sự cải thiện một hệ thống kinh tế dưới bất kỳ
hình thức nào. Trong Địa lí kinh tế và trong nghiên cứu về phát triển, thuật
16
ngữ này có ý nghĩa đặc thù hơn và áp dụng cho các hệ thống kinh tế vùng và các
thuộc tính riêng của chúng và các hệ thống này tương tác ở tầm mức độ toàn cầu.
Có nhiều cách để nêu đặc trưng sự PTKT ở một nước hoặc một vùng. Một số

Cũng như TTKT xanh, PTKT xanh cũng được nhiều nước áp dụng và được
coi là một xu hướng toàn cầu hiện nay. PTKT xanh là quá trình nâng cao đời sống
con người và cải thiện công bằng xã hội, đồng thời giảm thiểu đáng kể những rủi ro
môi trường, và những thiếu hụt sinh thái.
17
c. PTKT bền vững: từ những thập niên 70, 80 của thế kỷ XX, khi tăng trưởng
kinh tế của nhiều nước trên thế giới đã đạt được một tốc độ khá cao, người ta bắt
đầu có những lo nghĩ đến ảnh hưởng tiêu cực của sự tăng trưởng nhanh đó đến
tương lai con người và vấn đề phát triển bền vững được đặt ra.
Năm 1987, trong Báo cáo “tương lai của chúng ta” lần đầu tiên đã đưa ra
định nghĩa “PTBV là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng
không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”.
Sau đó, Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về môi trường và phát triển họp tại
Rio de Janeiro (Braxin, 1992) đã đưa ra bản tuyên ngôn “về môi trường và phát
triển” đã tái khẳng định khái niệm trên và cùng thỏa thuận một chương trình nghị sự
PTBV, gọi là Agenda 21.
Năm 2002, tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về PTBV tổ chức ở
Johanensburg (Cộng hòa Nam Phi) đã xác định: PTBV là quá trình phát triển có sự
kết hợp chặt chẽ, hợp lí, hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển, đó là PTKT, phát
triển xã hội và bảo vệ môi trường.
PTBV về mặt kinh tế, đòi hỏi phải có CCKT hợp lí, phải sử dụng tối ưu các
nguồn lực nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế lâu dài, ổn định và phải có chiến lược
PTKT phù hợp trong từng giai đoạn cụ thể.
d. CCKT và sự chuyển dịch CCKT
- CCKT là tổng thể những mối quan hệ về chất lượng và số lượng giữa các bộ
phận cấu thành nền kinh tế trong một thời gian và trong những điều kiện KT - XH nhất định.
Theo C. Mác [dẫn theo 89] “CCKT của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản
xuất phù hợp với quá trình phát triển nhất định của LLSX vật chất. Cơ cấu là một sự
phân chia về chất và một tỷ lệ về số lượng của những quá trình sản xuất xã hội". Còn
theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), "CCKT là tổng các ngành, lĩnh vực, bộ phận

chưa đủ, chúng chỉ trở thành sức mạnh kinh tế khi con người biết khai thác và sử
dụng một cách hợp lý và hiệu quả. Thực tế trên thế giới, có nhiều quốc gia rất giàu
tài nguyên thiên nhiên (ví dụ: nhiều nước ở châu Phi) nhưng vẫn là các nước nghèo,
chậm phát triển. Ngược lại, nhiều quốc gia như Nhật Bản, các nước Tây Âu, không
nhiều tài nguyên, nhưng lại trở thành những nước công nghiệp phát triển hàng đầu
thế giới.
ĐKTN và tài nguyên thiên nhiên là tài sản quốc gia, là nhân tố không thể
thiếu được trong quá trình sản xuất, tạo ra của cải phục vụ đời sống con người. Tài
nguyên thiên nhiên có giới hạn, mà nhu cầu của con người thì vô hạn với số dân
ngày càng tăng. Do đó, để đảm bảo phát triển bền vững thì cần bảo vệ tài nguyên
thiên nhiên và môi trường sinh thái.
19
c. Kinh tế- xã hội: có vai trò hết sức quan trọng trong việc lựa chọn chiến
lược phát triển và phân bố các ngành kinh tế phù hợp với điều kiện cụ thể của đất
nước trong từng giai đoạn.
- Dân cư và nguồn lao động là nhân tố quan trọng, quyết định việc sử dụng
các nguồn lực khác trong quá trình PTKT. Vai trò của dân cư, nguồn lao động đối
với việc PTKT và phân bố sản xuất thể hiện ở hai mặt. Một mặt, đó là yếu tố đầu
vào của hoạt động kinh tế, là LLSX trực tiếp tạo ra sản phẩm, tạo ra sự tăng trưởng
cho các ngành kinh tế. Mặt khác, dân cư và nguồn lao động là lực lượng tiêu thụ các
sản phẩm, dịch vụ tham gia tạo cầu cho nền kinh tế. Quy mô và cơ cấu tiêu dùng
góp phần quan trọng thúc đẩy TTKT. Sự tác động của dân cư, nguồn lao động thể
hiện ở quy mô, tốc độ gia tăng dân số và lao động, cơ cấu dân số, chất lượng nguồn
lao động về mặt thể chất, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, khả năng tiếp thu khoa học
kỹ thuật mới, thói quen và thái độ lao động.
Trong thời hiện đại ngày nay, khoa học công nghệ đã trở thành bộ phận trực
tiếp của LLSX thì nguồn lao động, dù là lao động giản đơn cũng đòi hỏi phải có
trình độ kiến thức đủ mức cần thiết. Trình độ kỹ thuật công nghệ của sản xuất càng
cao, ứng dụng của khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống càng nhiều thì
vai trò của nguồn lao động có chuyên môn kỹ thuật càng phải tăng cường.

chất lượng và hiệu quả của các ngành và nền kinh tế. Nhân tố khoa học công nghệ
góp phần mở rộng khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng các nhân tố khác. Tạo ra
những khả năng sản xuất mới, đẩy nhanh tốc độ phát triển các ngành kinh tế. Sự
phát triển ngày càng mạnh mẽ của khoa học và công nghệ còn làm cho sự phân
công xã hội trở nên sâu sắc, phân hóa thành nhiều ngành hơn, xuất hiện thêm nhiều
ngành mới, dẫn tới sự thay đổi cơ cấu, vị trí giữa các ngành. Sự thay đổi này dẫn
đến kết quả là làm chuyển dịch CCKT theo hướng giảm tỷ trọng ngành công nghiệp,
tăng tỷ trọng ngành dịch vụ trong GDP, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và PTKT.
- Đường lối chính sách: bao gồm thể chế chính trị, cơ chế chính sách, đường
lối xây dựng kinh tế, xu thế hội nhập và phát triển của khu vực và thế giới… là
những nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và PTKT.
Đường lối chính sách là nhân tố mang tính quyết định đến sự thành công hay
không của chiến lược, mục đích PTKT của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ. Thực tế
trên thế giới, ở mỗi quốc gia, mỗi thời điểm đều có đường lối chính sách phát triển
KT - XH khác nhau.
Tăng trưởng và PTKT đòi hỏi phải có một thể chế chính trị xã hội ổn định
thể hiện qua đường lối phát triển KT- XH đúng đắn phù hợp với các quy luật khách
quan, có khả năng thu hút mọi nguồn lực ở trong và ngoài nước. Ngược lại sự
khủng hoảng về chính trị tất yếu dẫn đến tình trạng suy thoái.
21
- Các mối quan hệ liên tỉnh, liên vùng: mỗi tỉnh hoặc vùng tuy là đơn vị độc
lập về hành chính nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với tỉnh khác, vùng khác. Các
hoạt động kinh tế thường phải gắn với các mối liên kết kinh tế, kỹ thuật và liên kết
không gian sâu sắc. Việc liên kết giữa các tỉnh,vùng là hợp tác bổ sung cho nhau
giữa các địa phương nhằm mục đích tăng cường sức hút và tiềm lực phát triển KT-
XH, đồng thời thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các tỉnh trong vùng và giữa vùng
này với vùng khác.
- Xu thế hội nhập và cạnh tranh: xu thế hội nhập quốc tế và khu vực (như
WTO, APEC, ASEAN) có tác động quan trọng đến PTKT, vừa tạo ra nhiều cơ hội
đồng thời cũng gặp nhiều thách thức của Việt Nam nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói

- GDP/người được tính bằng GDP chia cho dân số trung bình cùng thời kỳ
nghiên cứu. Chỉ tiêu này thường được tính hàng năm trên phạm vi cả nước và từng
tỉnh, TP. GDP/người tính theo giá thực tế, tính theo nội tệ hoặc ngoại tệ.
GDP/người là chỉ tiêu quan trọng dùng để so sánh, đánh giá trình độ PTKT
và mức sống dân cư giữa các quốc gia, hoặc giữa các tỉnh, TP và các vùng.
c. Cơ cấu GDP và xu hướng chuyển dịch CCKT theo nhóm ngành:
- Cơ cấu GDP:
Trong đánh giá sự PTKT thì cơ cấu GDP theo nhóm ngành và ngành là một
trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh xu hướng vận động và mức độ thành công
của chính sách và chiến lược CNH, HĐH. Cơ cấu GDP là tỷ trọng của các bộ phận
cấu thành so với GDP, tính theo giá thực tế.
Cơ cấu GDP theo 3 khu vực (nhóm ngành) kinh tế: Khu vực I (nông- lâm-
thủy sản); khu vực II (công nghiệp – xây dựng); khu vực III (dịch vụ). Đây là một
trong những tiêu chí hàng đầu được dùng để đánh giá cơ cấu và quá trình chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình CNH, HĐH.
- Tốc độ và xu hướng chuyển dịch cơ cấu GDP theo nhóm ngành và ngành
theo hướng các ngành kinh tế truyền thống (Nông- lâm- thủy sản), khai khoáng và
một bộ phận của lĩnh vực dịch vụ phục vụ nhu cầu dân sinh thông thường sẽ ngày
càng giảm tỷ trọng trong GDP; đồng thời tỷ trọng của các ngành kinh tế dựa trên
công nghệ - kỹ thuật hiện đại, năng suất cao, trước hết là các ngành công nghiệp chế
biến và dịch vụ ngày càng cao.
Đây là chỉ tiêu quan trọng, phản ánh vị trí, vai trò của từng bộ phận cấu thành
GDP (theo nhóm ngành và ngành); là cơ sở quan trọng để phân tích, đánh giá cơ
cấu, sự chuyển dịch cơ cấu và mức độ đóng góp của các bộ phận đối với nền kinh
tế. Qua đó, sẽ thấy được nền kinh tế đang phát triển và chuyển dịch theo xu hướng nào.
d. Giá trị sản xuất (GTSX) và cơ cấu GTSX
23
- GTSX (GO - Gross output):
Khi nghiên cứu PTKT theo ngành và theo lãnh thổ cấp tỉnh và dưới cấp tỉnh
(huyện, thị xã, TP trực thuộc tỉnh) người ta thường tính GTSX. Đây là chỉ tiêu kinh

24
GTSX của từng ngành/GTSX của toàn ngành N- L- TS và trong nội bộ từng
phân ngành.
* Công nghiệp
- Giá trị sản xuất (GO
cn
): là chỉ tiêu kinh tế phản ánh kết quả của các hoạt
động sản xuất, kinh doanh do công nghiệp được tạo ra trên địa bàn tỉnh trong một
thời kỳ nhất định. Bao gồm các ngành công nghiệp khai thác; công nghiệp chế biến
và sản xuất, phân phối điện, khí đốt và nước. Chỉ tiêu này thể hiện quy mô sản xuất,
mức độ đầu tư và là căn cứ để tính toán các chỉ tiêu quan trọng khác như tốc độ phát
triển công nghiệp và cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp
GTSX công nghiệp được tính theo giá thực tế và giá so sánh.
- Tốc độ tăng trưởng GTSX công nghiệp: là chỉ tiêu tương đối phản ánh nhịp
điệu tăng hoặc giảm của GTSX công nghiệp qua thời gian. Nó là chỉ tiêu quan trọng
hàng đầu đánh giá mặt lượng của sự phát triển công nghiệp, tốc độ tăng trưởng phản
ánh sự gia tăng về quy mô GTSX công nghiệp năm sau so với năm trước và giữa
các thời kỳ với nhau của ngành công nghiệp.
- Cơ cấu GTSX công nghiệp: được xác định bằng tỷ trọng GTSX của từng
bộ phận trong tổng GTSX của toàn bộ ngành công nghiệp. Tỷ trọng này phụ thuộc
vào vị trí của mỗi bộ phận ( nhóm ngành và từng ngành) trong hệ thống các ngành công nghiệp.
Thông qua chỉ tiêu này có thể thấy được mức độ khai thác tài nguyên của
lãnh thổ, trình độ và xu hướng phát triển công nghiệp… Sự chuyển dịch cơ cấu
ngành công nghiệp cũng phản ánh sự phát triển của ngành công nghiệp trên địa bàn
của tỉnh.
* Dịch vụ
- Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng: là chỉ tiêu tổng
hợp phản ánh toàn bộ kết quả hoạt động bán lẻ hàng hóa phục vụ cho tiêu dùng cá
nhân và hộ gia đình của các doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh thuộc mọi thành
phần kinh tế trong khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. Chỉ tiêu này


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status