Đề tài: Phân tích tình hình kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông nghiệp tại thành phố Đà Nẵng - Pdf 19

BÁO CÁO THỰC TẬP
Đề tài:
Phân tích tình hình kinh doanh ngoại tệ
tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông nghiệp tại thành phố Đà Nẵng
Trang:
1
MỤC LỤC
BÁO CÁO THỰC TẬP 1
Đề tài: 1
Phân tích tình hình kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông nghiệp tại
thành phố Đà Nẵng 1
MỤC LỤC 2
PHẦN I 3
PHẦN II 15
TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN VND 42
PHẦN III 44
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với xu hướng phát triển kinh tế thị trường trên thế giới bất kỳ một nước nào
đều phải có quan hệ mua bán , giao dịch , cho vay , thu nợ , đầu tư vốn với các nước khác
. Thực hiện các mối quan hệ trên đã dẫn đến hình thành các quan hệ về tiền tệ , tài chính
quốc tế .
Ngày nay các quan hệ tài chính , tiền tệ quốc tế đã trở thành một yếu tố không thể
thiếu được trong hoạt động của nền kinh tế & ngày càng đóng vai trò quan trọng trong
nền kinh tế thị trường . Kết quả thực hiện các mối quan hệ trên hình thành các khoản thu
chi tiền tệ quốc tế giữa các nước với nhau . Để thực hiện tốt các khoản thu chi tiền tệ
quốc tế cần thiết phải thông qua những tổ chức trung gian đó là các ngân hàng thương
mại . Quá trình thực hiện các khoản thu chi tiền tệ quốc tế giữa các nước với nhau nhất
thiết phải sử dụng tiền tệ nước này hay nước khác , nói chung là ngoại tệ . Chính vì điều
này đã làm cho nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng trở nên quan trọng & và
không thể thiếu trong kinh doanh của ngân hàng

1 . Ngân Hàng Thương Mại :
1.1 Khái niệm :
Theo luật các tổ chức tín dụng ban hành ngày 12.12.1997 thì Ngân Hàng Thương Mại là
một tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân Hàng & các hoạt động kinh
doanh khác có liên quan .
Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân Hàng với nội
dung chủ yếu , thường xuyên là nhận tiền gởi , sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và
cung cấp các dịch vụ thanh toán
1.2 Đặc điểm về hoạt động kinh doanh
+ Vốn bằng tiền vừa là phương tiện kinh doanh , vừa là mục đích kinh doanh và
đồng thời cũng là đối tượng kinh doanh
+ Sử dụng vốn của người khác để kinh doanh là chủ yếu và hoạt động kinh doanh
trên nhiều lĩnh vực và ngành nghề khác nhau
+ Một trong những sản phẩm chủ yếu của ngân hàng là tín dụng
+ Giữa các sản phẩm của ngân hàng có mối liên hệ chặt chẽ mang tính liên đới , hoặc
bổ sung hoặc thay thế
+ Hoạt động thống nhất trong hệ thống , giữa các ngân hàng có quan hệ chặt chẽ trong
kinh doanh , vừa phải cạnh tranh , vừa phải liên kết .
+ v v…
1.3 Các nghiệp vụ chủ yếu của Ngân Hàng Thương Mại (NHTM)
- Nghiệp vụ huy động vốn :
Trang:
4
+ Vốn huy động là vốn của các chủ sỡ hữu khác nhau trong xã hội được Ngân
Hàng huy động với trách nhiệm hoàn trả cả gốc lẫn lãi theo đúng thỏa thuận . Vốn
huy động chiếm tỷ trọng lớn trong tổng ngưồn vốn của Ngân Hàng
Vốn huy động của các NHTM được phân làm 3 nhóm như sau :
+ Vốn huy động từ tiền gởi : đây là hình thức huy động thường xuyên của ngân
hàng . Căn cứ theo đối tượng tiền gởi người ta chia thành :
Tiền gởi của các tổ chức kinh tế

• Nghiệp vụ mua bán giao ngay là nghiệp vụ mua bán ngoại tệ mà việc giao
ngoại tệ được thực hiện ngay hay chậm nhất là trong vòng hai ngày làm việc
kể từ khi hợp đồng mua bán ngoại tệ được ký kết trên cở sở tỷ giá giao ngay .
Trong nghiệp vụ , thời gian tối đa để hoàn tất nghiệp vụ là 2 ngày làm việc . Sở dĩ
có 2 ngày làm việc là do thông lệ quốc tế trong mua bán ngoại hối thì 2 ngày làm việc là
khoản thời gian cần thiết để thực hiện các bút toán chuyển tiền giữa các ngân hàng
• Để tiến hành nghiệp vụ hối đoái giao ngay , các nhà kinh doanh hối đoái phải
xác định tỷ giá chéo phù hợp với yêu cầu giao dịch , sau đó trên cơ sở tỷ giá
này kết hợp với lượng ngoại tệ giao dịch để xác định số đối khoản cần phải
trao đổi với nhau giữa 2 bên mua bán vào ngày hiệu lực thông thường
2.2 Nghiệp vụ chuyển hối :
Arbitrage là một kỹ thuật nghiệp vụ rút ra từ nghiệp vụ hối đoái giao ngay . Kỹ
thuật này nhằm giao dịch trực tiếp ngoại tệ với ngoại tệ mà không thông qua b tệ . Để
tiến hành nghiệp vụ này người kinh doanh cần phải xác định rõ :
+ Những tỷ giá chéo cần được xác định ?
+ Trị giá khoản tiền cần được áp dụng là bao nhiêu ?
+ Nếu còn dư thì giải quyết theo tỷ gia nào ?
+ Có lợi hơn so với việc xác định tỷ giá thông qua bản ngoại tệ không ?
Thực chất của kỹ thuật Arbitrage là tận dụng sự chênh lệch giữa tỷ giá của các ngoại tệ là
khác nhau để tiến hành giao dịch trực tiếp ngoại tệ với nhau . Người ta chỉ giao dịch qua
bản tệ đối với bộ phận ngoại tệ dư (hoặc thiếu) mà thôi .
Có 2 loại Arbitrage
+ Chuyển hối thông thường : là nghiệp vụ mua bán ngoại tệ để chuyển từ đồng
tiền này sang đồng tiền khác .
+ Chuyển hối đầu cơ hay còn gọi là nghiệp vụ kinh doanh chênh lệch tỷ giá .
Thực chất là lợi dụng sự chênh lệch giá của đồng tiền trên những thị trường khác nhau để
kiếm lời.
2.3 Nghiệp vụ mua bán có kỳ hạn .(Forward)
* Nghiệp vụ hối đoái có kỳ hạn là nghiệp vụ biểu hiện bằng một hợp đồng giữa một
bên là ngân hàng và một đối tác khác nhằm đổi một loại tiền này lấy một loại tiền khác

2
cv
: Lãi suất cho vay của đồng tiền định giá
Tính x
m
*
(Tiền gởi mua có kỳ hạn) A/B
Giả sử 1 công ty có 1 đơn vị tiền tệ A sau n ngày nữa
Ký hợp đồng n +1A
Công ty đến NH bán có kỳ hạn n ngày 1 đơn vị A lấy B . NH đồng ý mua theo tỷ giá mua
có kỳ hạn ngày (x
m
*
)
 3 giao dịch cùng thực hiện một lúc
• Công ty sẽ đi vay 1 số tiền XA để sao cho sau n ngày với lãi suất t
1
cv
, công ty
sẽ trả vốn gốc và lãi đúng bằng 1 đơn vị tiền tệ A
Trang:
7
An
cv
1*
36000
*XX
t
1
=+

21A
Trả nợ
& lãi vay

x
m
*

n
nn
t
x
t
x
t
x
v
m
cv
m
cv
m
*
36000
**
36000
*

m
*36000
)***36000(
*36000
)36000*(
1
121
1
2
*
+
−++
=
+
+
=

n
nn
t
tt
xx
cv
cvv
mm
*36000
**
*
1
12


+=

x
b


Trang:
8

0
>∆

x
bm
Điểm gia tăng

0
<∆

x
bm
Điểm khấu trừ
Với nghiệp vụ này nhà kinh doanh có thể tính toán trước hiệu quả kinh tế của từng
nghiệp vụ đồng thời tránh được rủi ro do sự biến động tỷ giá .
2.4 Nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ (swap)
Nghiệp vụ swap là một nghiệp vụ kết hợp đồng thời giữa các giao dịch mua (bán)
ngoại tệ giao ngay với các giao dịch bán (mua) ngoại tệ có kỳ hạn cho cùng một khoản
ngoại tệ nhất định
Swap : Spot : mua Với cùng 1 lượng

của mình nếu tỷ giá không tăng như dự đoán . Nhưng đối với người bán thì
không giới hạn được tổn thất nếu xảy ra rủi ro về tỷ giá .
3 . Các Rủi Ro Có Thể Trong Kinh Doanh Ngoại Tệ :
Những rủi ro trong kinh doanh ngoại hối là :
+ Rủi ro về tỷ giá hối đoái
+ Rủi ro về tỷ lệ Swap
+ Rủi ro thực hiện hợp đồng
+ Rủi ro nghiệp vụ và chuyển đổi
Trong số các trường hợp nêu trên chỉ có rủi ro tỷ giá là rủi ro đặc trưng cho kinh
doanh ngoại hối . Còn các rủi ro khác cũng xuất hiện trong các nghiệp vụ khác của ngân
hàng đặc biệt là rủi ro thực hiện và rủi ro tỉ kệ Swap (rủi ro lãi suất) . Nhưng rủi ro trong
chuyển đổi cũng quan trọng không chỉ trong kinh doanh ngoại hối . Đương nhiên những
rủi ro vừa nêu trên có ý nghĩa quan trọng trong nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối hơn là
những nghiệp vụ ngân hàng khác , vì những ngân hàng kinh doanh ngoại hối phụ thuộc
một phần vào sự phát triển ở nước ngoài và như vậy , khó tập hợp và khó kiểm tra hơn là
những rủi ro tương ứng ở trong nước .
3.1 Rủi ro tỷ giá hối đoái
Rủi ro tỷ giá hối đoái là sự rủi ro có ý nghĩa rộng lớn của nghiệp vụ kinh doanh
ngoại hối . Nó sẽ xuất hiện , nếu một “vị thế” được tạo ra , ví dụ : một ngân hàng mua
của một khách hàng hay của một ngân hàng khác một lượng USD với tỷ giá nào đó , thì
cho đến lúc bán lại khối lượng này , ngân hàng mới hết lo lắng về rủi ro tỷ giá . Rủi ro chỉ
tồn tại trong khoảng thời gian mà “vị thế” này tồn tại , nhưng nó cũng quan trọng ngay cả
khi khoảng thời gian giữa lúc hình thành và khóa sổ “vị thế” này , thậm chí chỉ trong
vòng một phút .
Khi chỉ có một biến động nhỏ về tỷ giá thì điều đó , đã dẫn đến hậu quả của một
thất thoát lớn , nếu khối lượng ngoại tệ kinh doanh nhiều . Nếu tỷ giá USD , khi bán ra
giảm xuống thì ngân hàng này sẽ thiệt hại . Nếu giả sử , ngân hàng vẫn giữ khoảng này
thêm qua đêm thì rủi ro còn lớn hơn nữa . Mối nguy hiểm và thiệt hại này không hề phụ
thuộc vào hệ thống tỷ giá hối đoái , tức là bất kể đồng tiền này được thả nổi hay theo tỷ
Trang:

rủi ro do bên đối tác không thực hiện trách nhiệm của họ và hậu quả là hoạt động này sẽ
kết thúc bằng lỗ . Giả sử một ngân hàng bán cho một khách hàng hay một ngân hàng
khác 5 triệu với tỷ giá USD/DEM là 2,8005 và mua lượng này từ một ngân hàng khác
theo tỉ giá USD/DEM là 2,8 . Sau khi đã ký kết hợp đồng với người mua thì người mua
bị phá sản và không thể thực hiện được trách nhiệm của mình . Tỉ giá của USD/DEM trên
thị trường lại hạ xuống còng 2,75 . Ngân hàng đã mua 5 triệu USD theo tỉ giá 2,8 nhưng
không bán tiếp theo tỉ giá này được và phải chịu một khoản lỗ là 250.000 DEM , mà
không thể xem chỉ với lượng này cũng có thể làm cho ngân hàng bị phá sản . Nhưng trên
nguyên tắc , ngân hàng chỉ phải trả lại một phần .
Rủi ro thực hiện trong nghiệp vụ có thời hạn lớn hơn là nghiệp vụ giao ngay do
thời gian thực hiện dài . Điều này xảy ra không chỉ trong giao dịch chuyển đổi với khách
hàng mà cả với các ngân hàng khác . Trong giao dịch với các ngân hàng , rủi ro xuất hiện
ở dạng “ngoại tệ bù trừ rủi ro” , có một phạm vi lớn hơn so với nghiệp vụ với khách hàng
Trang:
11
. Vì trong nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối giữa các ngân hàng , hai hoạt động , mua và
bán được thực hiện ở các địa điểm khác nhau , nên hai đối tác trong hợp đồng khi phân
chia nhiệm vụ thanh toán không biết được liệu bạn hàng có thực hiện trách nhiệm của họ
hay không .
Như vậy , rủi ro thực hiện phụ thuộc vào uy tín thanh toán của bạn hàng , người ta
thường gọi rủi ro này là rủi ro uy tín thanh toán hoặc rủi ro mất địa chỉ .
Các ngân hàng xử lý vấn đề rủi ro thực hiện này (tức là rủi ro uy tín và khả năng
thanh toán) bằng cách chọn lựa kỹ bạn hàng , quy định hạn mức song phương cho khối
lượng ngoại hối giao dịch , cũng như trong giao lưu với khách hàng đòi hỏi một khoản
bảo hiểm theo tỷ lệ phần trăm nhất định thường là 20% so với doanh số giao dịch trong
hợp đồng.
3.4 Rủi ro kinh doanh .
Kinh doanh ngoại hối trong nghĩa rộng , bao gồm cả rủi ro thuộc chính bản thân
hoạt động kinh doanh , tức là chi phí liên quan đến hoạt động kinh doanh này không thể
bù đắp đủ bằng doanh thu . Trên nguyên tắc , các giao dịch thường có thu nhập cao và

Đồng tiền giao dịch bao gồm : USD , EUR , GBP , JPY , HKD , VND
Nghiệp vụ mua bán ngoại tệ bao gồm 3 loại sau :
+ Nghiệp vụ giao ngay – SPOT
+ Nghiệp vu có kỳ hạn – FORWARD
+ Nghiệp vụ hoán đổi – SWAP
Tỷ giá giao dịch được thực hiện trên cơ sở tỷ giá chính thức của NHNN và biên độ
do thống đốc NHNN quy định . Trên cơ sở này , giám đốc sở giao dịch NHNN quy định
tỷ giá mua , bán cỉa NHNN với các thành viên của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng .
Mọi việc thanh toán đều thông qua phương thức thanh toán chuyển khoản qua các
tài khoản của các thành viên mở tại NHNN hoặc tại ngân hàng nước ngoài
Việc mua bán thị trường được thực hiện theo các nguyên tắc sau :
+ Các ngân hàng thương mại được thực hiện mua bán ngoại tệ với các khách
hàng của mình theo quy chế hiện hành . Việc cân đối cung cầu ngoại tệ trong toàn hệ
thống được thực hiện thông qua hội sở chính của từng ngân hàng thương mại .
+ Trường hợp ngân hàng thương mại không tự cân đối được cung cầu ngoại tệ
trong hệ thống của mình , thì các ngân hàng thương mại thực hiện mua bán với nhau .
+ Nếu các ngân hàng thương mại đã thực hiện mua bán với nhau nhưng vẫn chưa
cân đối được nhu cầu ngoại tệ , thì ngân hàng thương mại sẽ giao dịch với ngân hàng Nhà
nước . Khi cung lớn hơn cầu ngoại tệ NHNN sẽ tiến hành việc mua bán ngoại tệ nhằm
cân đối cung cầu ngoại tệ và làm tăng quỹ điều hòa ngoại tệ của nhà nước . Ngược lại
nếu cung nhỏ hơn cầu , NHNN sẽ sử dụng quỹ điều hòa ngoại tệ để bán ra .
Nhờ vậy , trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng . NHNN thực hiên vai trò là
người mua , người bán cuối cùng để can thiệp vào thị trường một cách có hiệu quả , có
nhằm thực hiện chính sách tiền tệ , tỷ giá của Nhà nước .
Trong những năm qua , hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt
Nam đã được những kết quả đáng ghi nhận . Nó đã đáp ứng được một phần nhu cầu
ngoại tệ cho nhập khẩu , góp phần ổn định tỷ giá , khuyến khích xuất khẩu . Tuy nhiên
thị trường ngoại tệ liên ngân hàng của Việt Nam còn rất nhiều hạn chế như : các nghiệp
vụ giao dịch còn đơn giản , chủng ngoại tệ còn ít , chưa phản ánh được thực trạng tổng
cung , tổng cầu ngoại tệ trong nền kinh tế . Tóm lại , thị trường ngoại tệ liên ngân hàng

quản lý ngoại hối do Nhà nước ban hành . Đồng thời các chi nhánh ngân hàng còn phải
tuân theo quy định về trạng thái ngoại tệ hằng ngày của ngân hàng trung ương .
Trang:
14
PHẦN II
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG MUA BÁN
NGOẠI TỆ NGÂN HÀNG N
o
& PTNT ĐÀ NẴNG
GIAI ĐOẠN 2002 – 2003
Trang:
15
I. TÌNH HÌNH KINH TẾ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG SAU 5 NĂM
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN (1997 - 2002 ).
Sau 5 năm trở thành đơn vị trực thuộc Trung ương, tình hình kinh tế - xã hội Thành
phố Đà Nẵng có sự chuyển biến rõ rệt, thể hiện:
- Tổng sản phẩm xã hội trên địa bàn ( GDP ) thời kỳ 1997 – 2001 tăng bình quân
10,09%/năm. Năm 1998 đạt 8,80%; năm 1999 đạt 9,50%; năm 2000 đạt 9,88%; năm
2001, năm đầu tiên thực hiện kế hoạch 5 năm 2001 – 2005, trong tình hình có nhiều khó
khăn, nền kinh tế thành phố tiếp tục ổn định và phát triển với tốc độ tăng trưởng đạt
12,2%. GDP bình quân đầu người năm 2001 đạt 550 USD tăng 10,37% so với năm 1997.
- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: Tỷ trọng ngành Công nghiệp tăng
từ 35,31% năm 1997 lên 42% năm 2001; ngành Dịch vụ giảm từ 54,99% năm 1997
xuống còn 50,71% năm 2001; ngành Nông nghiệp giảm từ 9,70% năm 1997 xuống còn
7,28% năm 2001.
- Giá trị sản xuất Công nghiệp trên địa bàn tăng bình quân hàng năm 19,74%, trong
đó Công nghiệp địa phương tăng 11,94%. Đặc biệt năm 2001, Công nghiệp trên địa bàn
Thành phố tăng trưởng khá, đạt giá trị sản xuất toàn ngành 4.037,78 tỷ đồng, vượt 3,83%
kế hoạch năm, tăng 19,89% so với năm 2000. Khu vực Công nghiệp quốc doanh địa
phương, Công nghiệp dân doanh tăng trưởng khá ( Công nghiệp quốc doanh địa phương

tăng bình quân hành năm gần 20%. Năm 2001, tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản đạt
1.498,72 tỷ đồng, tăng 16,64% so với năm 2000, có 50 công trình hoàn thành đưa vào sử
dụng. Tổng vốn đầu tư xã hội đạt 3.357 tỷ đồng, tăng gần gấp đôi so với năm 2000.
- Các ngành điện lực, bưu chính viễn thông, cảng,… không ngừng phát triển. Số
máy điện thoại phát triển nhanh, đạt bình quân 13,8 máy/100 dân; tổng số thuê bao
Internet là 2.696 thuê bao, chiếm 1,6% tổng thuê bao toàn quốc.
- Bên cạnh đó, thực hiện chiến lược phát triển chung của đất nước và khu vực miền
Trung, một số công trình lớn do TW đầu tư đã và đang được TW triển khai xây dựng trên
địa bàn Thành phố Đà Nẵng và khu vực miền Trung như: đường Hồ Chí Minh, hầm
đường bộ qua đèo Hải Vân, mở rộng nâng cấp cảng Tiên Sa gắn với dự án hành lang
Đông - Tây,… đã tạo nên khí thế và triển vọng mới cho Thành phố.
Như vậy, với tốc độ tăng trưởng kinh tế như hiện nay, thì nhu cầu vốn cho nền kinh
tế của Thành phố trong thời gian tới là rất lớn, muốn đáp ứng được tốc độ tăng trưởng
kinh tế bình quân hàng năm hơn 10% thì tốc độ tăng trưởng vốn tương ứng vào khoảng
30 – 40 %, điều này đòi hỏi các ngân hàng phải nỗ lực hơn nữa trong huy động và cho
vay, làm cho ngân hàng thực sự là một nơi cung ứng vốn chủ yếu và hiệu quả, để làm
được điều này, hệ thống ngân hàng trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng nói chung và mạng
lưới NHNo&PTNT nói riêng phải không ngừng mở rộng quy mô, đa dạng hoá đối tượng
và sản phẩm, nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng nhu cầu về vốn của các dự án, các
ngành nghề, tạo mối quan hệ lâu dài và bền vững với khách hàng trong cho vay và huy
động, để ngân hàng thực sự là một kênh cung ứng vốn quan trọng và hiệu quả của kinh tế
Thành phố.
II. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC QUẢN LÝ
NHNo& PTNT THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG.
Trang:
17
1. Quá Trình Hình Thành Và Phát Triển.
Chi nhánh NHNo&PTNT Thành phố Đà Nẵng được thành lập năm 1988 với tên gọi
lúc bấy giờ là Ngân hàng Nông nghiệp tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, nhằm thực hiện cơ
chế mới chuyển từ ngân hàng một cấp sang ngân hàng hai cấp, nhằm tách bạch chức

Phùng, TP Đà Nẵng có 6 Chi nhánh Ngân hàng Quận, Huyện trực thuộc gọi là Chi nhánh
cấp II loại 4 là: Hải Châu, Thanh Khê, Liên Chiểu, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn và Hoà Vang
cùng với 7 Chi nhánh cấp II loại 5 là: Chi nhánh Chợ Mới, Chi nhánh Ông Ích Khiêm,
Chi nhánh Đống Đa, Chi nhánh Chợ Cồn, Chi nhánh Chi Lăng, Chi nhánh Trần Cao
Vân, và Chi nhánh An Đồn.
2. Chức Năng Và Nhiệm Vụ.
a. Chức năng.
Chi nhánh NHNo&PTNT TP Đà Nẵng là một doanh nghiệp Nhà nước đóng trên
địa bàn Thành phố Đà Nẵng, thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ, dịch vụ ngân hàng
với các chức năng sau:
+ Trực tiếp kinh doanh theo phân cấp của NHNo&PTNT VN.
+ Tổ chức điều hành kinh doanh và kiểm tra kiểm toán nội bộ theo uỷ quyền của
Tổng giám đốc NHNo&PTNT VN.
Trang:
18
+ Thực hiện các nhiệm vụ được giao theo lệnh của Tổng giám đốc NHNo&PTNT
VN
b. Nhiệm vụ.
+ Huy động vốn: Khai thác và nhận tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn bằng
VNĐ và ngoại tệ; phát hành kỳ phiếu và trái phiếu,…
+ Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn bằng VNĐ và ngoại tệ đối với tổ chức
kinh tế, đối với các cá nhân và hộ gia đình thuộc mọi thành phần kinh tế.
+ Kinh doanh ngoại hối: Huy động, cho vay, mua bán ngoại tệ và thanh toán quốc
tế.
+ Kinh doanh dịch vụ: Chuyển tiền điện tử, thu chi hộ tiền…
+ Cân đối, điều hoà vốn đối với các chi nhánh NHNo&PTNT trực thuộc trên địa
bàn.
+ Thực hiện hạch toán kinh doanh và phân phối thu nhập theo quy định của
NHNo&PTNT Việt Nam.
+ Làm dịch vụ cho NHNN.

KH
Phòng
Thông
tin điện
toán
Phòng
kế
toán
tổng
hợp
Phòng
Kinh
doanh
đối
ngoại
Phòng
tổ
chức
hành
chính
Phòng
kiểm
tra
nội
bộ
nộI bộ

Phòng
kế
toán

o
& PTNT Trong Hai Năm Qua:
Mua bán ngoại tệ là một trong nhiều hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Hoạt
động này cũng đem lại một phần thu nhập đáng kể cho các ngân hàng. Mục đích chính
của hoạt động này là nhằm đáp ứng nhu cầu mua bán ngoại tệ của khách hàng một cách
nhanh chóng và thuận lợi nhất, từ đó nâng cao chất lượng phục vụ và uy tín cho ngân
hàng.
Sau đây là tình hình mua bán ngoại tệ của NHN
o
& PTNT ĐN giai đoạn 2002 -
2003:
Bảng 1: DOANH SỐ MUA BÁN NGOẠI TỆ NHN
o
ĐN
ĐVT: 1000 USD
Chỉ tiêu Năm 2002 Năm 2003
So sánh
Mức độ tăng
(giảm)
Tốc độ tăng
(giảm)
Trang:
20
Doanh số mua ngoại tệ 40.975 53.275 + 12.300 + 30.0%
Doanh số bán ngoại tệ 37.775 50.675 + 12.900 + 34,1%
Qua bảng số liệu trên ta thấy doanh số mua bán ngoại tệ của Chi nhánh trong 2
năm qua tăng lên rất nhiều. Cả doanh số mua và doanh số bán ngoại tệ đều tăng lên, mức
độ tăng tốc độ tăng của hoạt động bán ngoại tệ có phần lớn hơn so với hoạt động mua.
Năm 2003 hoạt động mua ngoại tệ tăng 30% so với năm 2002 (tức tăng 12.300 nghìn
USD). Khi đó, hoạt động bán ngoại tệ tăng 34% (tức tăng 12.900 nghìn USD), sự tăng

BẢNG 2: TÌNH HÌNH MUA NGOẠI TỆ THEO ĐỐI TƯỢNG
ĐVT: 1000 USD
Đối tượng
Năm 2002 Năm 2003 So sánh
Số lượng Tỷ trọng Số lượng Tỷ trọng
Mức độ
tăng
(giảm)
Tốc độ
tăng
(giảm)
Tổ chức kinh tế 24.500 59,8% 30.550 57,3% 6.050 + 24,7%
NHN
o
TW 10.700 26,1% 14.120 26,5% 3.420 + 32,0%
Cá nhân 5.775 14,1% 8.605 16,2% 2.830 + 49,0%
Tổng cộng 40.975 100% 53.275 100% 12.300 + 30,0%
Trang:
21
Qua bảng số liệu trên ta thấy, lượng ngoại tệ mà Chi nhánh mua vào từ 3 đối tượng
trên đều tăng lên trong 2 năm qua. Tuy tỷ trọng của mỗi loại có thay đổi trong từng năm
nhưng lượng ngoại tệ mua từ các tổ chức kinh tế vẫn luôn giữ tỷ trọng cao nhất (gần
60%). Vì vậy, các tổ chức kinh tế là đối tượng chủ yếu và quan trọng nhất trong hoạt
động mua ngoại tệ của Chi nhánh. Năm 2003 lượng ngoại tệ mà Chi nhánh mua vào từ
các tổ chức kinh tế tăng 24,7% (tức tăng 6.050 nghìn USD) so với năm 2002, sự tăng lên
này là do các nguyên nhân sau:
Tỷ lệ tăng giá USD/VND trong năm 2003 nhỏ hơn so với năm 2002. Nếu năm
2002 tỷ lệ tăng tỷ giá USD/VND là 3,9% tức tăng 570 đồng (từ 14.516 lên 15.083) thì tỷ
lệ tăng tỷ giá USD/VND trong năm 2003 chỉ là:2,1%, tăng 320 đồng (từ 15.083 lên
15.404). Như vậy, trong năm 2003 mức độ tăng giá của USD thấp hơn so với năm 2002.

01.03.03 15.141 15.141 0
01.04.03 15.193 15.193 0
01.05.03 15.223 15.223 0
01.06.03 15.225 15.225 0
01.07.03 15.296 15.273 23
01.08.03 15.326 15.325 1
01.09.03 15.331 15.330 1
01.10.03 15.346 15.344 2
01.11.03 15.364 15.362 2
Trang:
22
01.12.03 15.390 15.388 2
Qua bảng số liệu trên ta thấy rằng vào nửa cuối năm 2003 tỷ giá mua USD chuyển
khoản của Chi nhánh thường cao hơn so với VCB-ĐN cũng như các ngân hàng khác trên
địa bàn. Nhờ đó mà NHN
o
ĐN đã thu hút được nhiều doanh nghiệp đến bán ngoại tệ cho
Chi nhánh.
Bến cạnh đó, bản thân NHN
o
ĐN cũng đã có những nổ lực rất lớn để đa dạng hoá
các dịch vụ thanh toán quốc tế, rút ngắn thời gian thực hiện các nghiệp vụ thanh toán.
Nhờ đó mà quy mô hoạt động và uy tín NHN
o
ĐN ngày càng được mở rộng và nâng cao
… Từ đó Chi nhánh đã thu hút them được nhiều khách hàng là các tổ chức kinh tế có
hoạt động xuất khẩu đến với Chi nhánh.
Đối tượng tiếp theo trong hoạt động mua ngoại tệ của Chi nhánh là NHN
o
ĐN. Đây

Chi nhánh. Nếu tỷ giá tăng sẽ ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh doanh ngoại tệ của Chi
nhánh.
Nhưng Chi nhánh không phải là một tổ chức đàu cơ mà là một tổ chức kinh doanh
tiền tệ, hoạt động với tư cách là một người trung gian mau đi bán lại ngoại tệ cho khách
hàng và qua đó thu lợi nhuận. Vì vậy, Chi nhánh luôn tìm mọi biện pháp hạn chế rủi ro
đến mức thấp nhất. Khi ở trạng thái thiếu hụt ngoại tệ thì Chi nhánh sẽ mua ngoại tệ từ
NHN
o
VN để cân bằng trạng thái ngoại tệ. Thong thường tỷ giá mua bán ngoại tệ mà
NHN
o
ĐN ấn định thường cao hơn hoặc bằng tỷ giá mua bán của NHN
o
VN. Nếu Chi
nhánh phải mua ngoại tệ từ NHN
o
TW, mà tỷ giá bán của NHN
o
TW sẽ bán ngoại tệ cho
Chi nhánh với giá thấp hơn tỷ giá bán NHN
o
VN công bố. Nhờ đó, Chi nhánh vẫn có lợi
từ sự chênh lệch tỷ giá.
Tóm lại, doanh số mua ngoại tệ của Chi nhánh với NHN
o
VN tăng lên trong năm
2003 là do nhu cầu bán ngoại tệ của Chi nhánh trong năm này tăng cao. Mục đích chính
của Chi nhánh trong việc mua ngoại tệ từ NHN
o
TW là để thực hiện căn bằng trạng thái

lượng ngoại tệ Chi nhánh mua từ kiều hối và dân cư tăng lên trong năm 2003. Trong năm
2003, tỷ giá do NHNN công bố đã gần hơn so với thị trường tự do. Tỷ giá trên thị trường
tự do thường cao hơn từ 30 – 40đ so với tỷ giá của NHNN công bố. Vì vậy, tỷ giá do các
ngân hàng ấn định đã tiến gần hơn với tỷ giá trên thị trường tự do. Như đã nói ở phần
trước, tỷ giá mua chuyển khoản cũng như tỷ goá mua tiền mặt của NHN
o
ĐN công bố
thường cao hơn so với các ngân hàng khác trên địa bàn. Do vậy, khi nhận kiều hối nhiều
người đã bán trực tiếp cho ngân hàng chứ không bán cho thị trường tự do. Với tỷ giá như
trên thì Chi nhánh cũng đã thu hút được nhiều người dân đến bán ngoại tệ cho Chi nhánh.
Như đã nói ở phần trước, tỷ lệ tăng giá của USD so với VND trong năm 2002 là
tương đối thấp (chỉ 2,1%). Do đó, tâm lý găm giữ ngoại tệ trong dân chúng cũng không
còn. Mặt khác, trong năm 2002 vừa qua thì lãi suất huy động USD liên tục giảm trong
khi đó lãi suất huy động VND lại tăng cao. Khi lãi suất huy động USD thấp và tỷ lệ tăng
giá USD thấp thì nhiều người nhận thấy gửi tiết kiệm bằng USD không có lợi bằng gởi
tiết kiệm VND. Do đó, nhiều khách hàng cá nhân đã bán các khoản tiền gửi tiết kiệm
bằng USD cho Chi nhánh để chuyển sang gửi tiết kiệm bằng VND. Nhờ đó doanh số mua
ngoại tệ từ cá nhân được tăng lên.
Huy động mua ngoại tệ từ cá nhân của Chi nhánh còn được thực hiện tại các bàn
thu đổi ngoại tệ. Trong năm 2003, Chi nhánh đã mở rộng thêm mạng lưới bàn thu đổi
ngoại tệ tại chợ Hàn và Siêu thị Đà Nẵng. Mạng lưới các bàn thu đổi ngoại tệ được mở
Trang:
24
rộng sẽ giảm bớt tâm lý ngại đi xa, và giảm bớt thời gian chờ đợi của khách hàng. Nhờ
đó Chi nhánh có thể thu hút thêm được khách hàng cá nhân đến đổi ngoại tệ với Chi
nhánh.
Trong năm 2003 vừa qua, ngành du lịch của thành phố Đà Nẵng đã đạt mức tăng
trưởng khá cao (10,57%). Lượng khách du lịch quốc tế đến với thành phố trong năm
2003 cũng tăng cao so với năm 2002. Khách du lịch quốc tế khi có nhu cầu sử dụng VND
thì họ thường đến đổi ngoại tệ tại ngân hàng chứ không đến các tiệm vàng. Với quy mô

(%)
I 4.700 14,4 7.425 18,1 8.780 16,5
II 9.750 29,8 12.750 31,1 15.130 28,4
III 10.700 32,7 11.500 28,1 17.365 32,6
IV 7.550 23,1 9.300 22,7 12.000 22,5
Tổng 32.700 100 40.975 100 53.275 100
Gọi d
i
là doanh số mua ngoại tệ bình quân của quý i (i = 1,4)
n
x
d
n
i
ij
i

=
=
1
x
ij
: Doanh số mua ngoại tệ trong quý i của năm j
j : j = 1,n (n: số năm nghiên cứu)
d
là doanh số mua ngoại tệ bình quân 4 quý trong năm
Trang:
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status