CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số:..................................................................................
1. Tên sáng kiến: Vận dụng phương pháp dạy học bằng “Bản đồ tư duy”
vào giảng dạy các môn học ở lớp 3.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục tiểu học
3. Mô tả bản chất của sáng kiến:
3.1. Tình trạng giải pháp đã biết:
Hiện nay, ngành giáo dục nước ta đang trên đường đổi mới căn bản toàn
diện về: nội dung chương trình, phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra
đánh giá,…... Trong đó, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học là rất được chú
trọng. Rất nhiều phương pháp dạy học tích cực đã được khuyến khích sử dụng
trong thời gian gần đây. Như chúng ta đã biết, không có phương pháp dạy học
nào là vạn năng. Bản thân mỗi phương pháp đều thể hiện những ưu, nhược điểm
riêng của nó.
Với việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, chúng ta đã và đang vận
dụng nhiều phương pháp dạy học tích cực như: phương pháp đặt và giải quyết
vấn đề, phương pháp hợp tác nhóm, phương pháp vấn đáp, phương pháp Bàn tay
nặn bột, ... Việc vận dụng những phương pháp dạy học này giúp HS được tiếp
thu kiến thức một cách chủ động, tích cực hơn so với các phương pháp truyền
thống trước kia. Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy tôi nhận ra chúng vẫn còn
một vài hạn chế như sau:
Thứ nhất: Sau khi kiến thức được hình thành. HS ghi nhớ nội dung kiến
thức bài học chủ yếu nhất vẫn là qua kênh chữ. Và như thế sẽ không thể tránh
khỏi tình trạng một bộ phận các em học sinh sẽ học vẹt “thuộc các quy tắc mà
không hiểu – thuộc mà không biết vận dụng như thế nào”. Đặc biệt là với các
1
em có năng lực học còn hạn chế các em rất khó ghi nhớ nhiều câu từ dài dòng,
3
+ Ưu điểm của giải pháp:
- Vận dụng phương pháp dạy học bằng BĐTD vào dạy học ở lớp 3 không
chỉ là giáo viên áp dụng một phương pháp dạy học tích cực mà còn là dạy cho
học sinh của mình một cách học rất tích cực. Góp phần thiết thực vào việc nâng
cao chất lượng học tập của HS. Điều này rất phù hợp với tinh thần đổi mới
phương pháp dạy học của nghành giáo dục hiện nay.
- Áp dụng giải pháp này vào thực tế rất đơn giản, chỉ cần một tấm bảng +
phấn hoặc giấy + viết, …. là chúng ta hoàn toàn có thể tạo ra một BĐTD.
“Nhanh - gọn - hiệu quả” là đặc điểm của phương pháp này. Do đó không cần
mất nhiều thời gian, không phải đầu tư thêm về kinh phí, trang thiết bị….
- Đặc biệt, ở nơi có điều kiện, có thể dùng phần mềm để thiết kế BĐTD
trên máy tính. Góp phần vào việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào
quá trình giảng dạy. Góp phần nâng cao chất lượng học tập của học sinh.
- Đề tài còn cung cấp một số kinh nghiệm để áp dụng phương pháp BĐTD
vào việc dạy và học đạt hiệu quả cao nhất.
- Tạo cho học sinh học tập trên lớp với sự hứng thú, thân thiện, vui tươi,
nhẹ nhàng. Phát huy khả năng tự nhận thức, tự làm chủ tri thức của học sinh.
+ Khuyết điểm của giải pháp:
Để áp dụng các biện pháp này thành công giáo viên cần có thời gian và sự
đầu tư, tìm hiểu thật kĩ về phương pháp dạy học bằng BĐTD. Từ đó chúng ta
mới hiểu sâu, hiểu chắc và vận dụng chúng một cách linh hoạt và hiệu quả trong
quá trình giảng dạy.
3.2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:
3.2.1. Mục đích của giải pháp:
Với mong muốn góp phần vào việc tìm kiếm những kinh nghiệm vận dụng các
phương pháp dạy học tích cực vào trong thực tế giảng dạy. Tạo cho học sinh
một môi trường học tập tích cực, năng động. Giúp HS được trang bị thêm một
* Giải pháp tác nghiệp:
Thông qua dự giờ, thao giảng, thông qua các cuộc họp chuyên môn trao
đổi với các đồng nghiệp để đánh giá mức độ thực hiện các biện pháp đã nêu ở
các đơn vị lớp cùng áp dụng đề tài.
5
* Giải pháp ứng dụng tiến bộ kỹ thuật: Giáo viên tăng cường nghiên cứu
việc ứng dụng công nghệ thông tin để áp dụng vào các tiết dạy để kích thích
niềm hứng thú say mê cho học sinh trong từng tiết học.
3.2.2.3.
Vận dụng phương pháp BĐTD vào quá trình dạy - học ở
lớp 3:
3.2.2.3.1.
Cách lập BĐTD:
- Ở vị trí trung tâm của BĐTD là một hình ảnh hay một từ khóa thể hiện
một ý tưởng hay một khái niệm chủ đạo.
- Từ ý trung tâm hay hình ảnh trung tâm tỏa ra các nhánh chính, ta gọi là
nhánh cấp 1.
- Từ các nhánh chính lại có sự phân thành các nhánh tiếp tục gọi là nhánh
cấp 2 để nghiên cứu sâu hơn.
- Cứ như thế sự phân nhánh cứ tiếp tục và các khái niệm, hình ảnh luôn có
sự kết nối với nhau.
- Chính vì sự liên kết của BĐTD này sẽ tạo ra một “bức tranh tổng thể” mô
tả về ý trung tâm một cách cụ thể và rõ ràng nhất.
* Tuy nhiên, tùy theo sự sáng tạo trong việc thể hiện, chúng ta có thể thay
BĐTD đã chuẩn bị sẵn lên bảng. Hướng dẫn HS quan sát. GV vừa dùng thước
chỉ lên BĐTD đó và trình bày nhằm giúp HS chốt lại nội dung vừa học một cách
có hệ thống. Cuối cùng gọi HS lên nêu lại. Như thế, HS sẽ rất dễ nhớ bài. Dần
dần, HS sẽ quen và từng bước yêu thích cách học thú vị và hiệu quả này.
7
Ví dụ: Để củng cố kiến thức dạng toán tìm thành phần chưa biết của phép
cộng và phép trừ GV có thể dùng BĐTD như sau:
Hiệu = Số bị trừ
Số trừ
Tổng = Số hạng
+
Số hạng
Phép
trừ
Tìm thành
phần chưa
biết ?
Phép
cộng
Số hạng = Tổng
Số hạng đã
biết
Số bị trừ = Hiệu
+ Số trừ
3.2.2.3.4.. Lựa chọn thời điểm vận dụng phương pháp BĐTD:
9
* Vận dụng khi kiểm tra bài cũ: Sử dụng BĐTD trong kiểm tra bài cũ
giúp GV kiểm tra được phần nhớ lẫn phần hiểu của HS. Ta có thể sử dụng
BĐTD dưới dạng thiếu thông tin, yêu cầu HS điền và rút ra nhận xét về mối
quan hệ của các nhánh thông tin với từ khóa trung tâm.
Hoặc có thể yêu cầu HS về nhà tự vẽ các BĐTD về kiến thức đã học rồi
lên trình bày. GV cũng có thể yêu cầu HS vẽ bằng phấn màu trực tiếp lên bảng
nội dung kiến thức đã học….. Tùy theo từng đối tượng HS mà GV có yêu cầu
khác nhau. Khi thực hiện như vậy tôi thấy HS rất hào hứng, tích cực xung
phong, không khí lớp học rất vui vẻ. Các em có thể bổ sung ý kiến nếu bạn mình
còn thiếu. Sau khi hoàn thành, các em đọc lại kiến thức trên BĐTD đó.
Ví dụ: Sau khi HS học bài Mặt Trời (TNXH lớp 3 – Tiết 56). GV yêu cầu
HS về tự vẽ BĐTD về kiến thức này và trình bày ở tiết học sau. Dưới đây là ví
dụ về BĐTD mà HS đã tự vẽ ở nhà.
* Vận dụng BĐTD trong dạy kiến thức mới: Vận dụng BĐTD trong dạy
kiến thức mới có thể thực hiện như sau:
- GV hướng dẫn HS nội dung trong SGK, đưa ra tình huống có vấn đề.
- GV cùng HS đặt tên cho chủ đề.
- HD HS vẽ BĐTD theo nội dung chính đã chọn. (theo nhóm hoặc cá nhân)
- HS trình bày BĐTD đã vẽ.
- HS nhận xét, đánh giá, bổ sung.
- GV chốt ý. (GV có thể đưa ra một BĐTD đã hoàn chỉnh mà GV chuẩn bị
trước). Gọi HS đọc lại.
10
11
* Vận dụng BĐTD trong các tiết củng cố, ôn tập kiến thức :
Lập BĐTD vào cuối tiết học sau khi học xong một bài hay một chủ đề để
liên kết các kiến thức cơ bản, trọng tâm giúp củng cố phần kiến thức đó. Đây
chính là lợi thế lớn nhất của phương pháp dạy học bằng BĐTD.
GV có thể yêu cầu HS sử dụng giấy, bảng phụ hay có thể vẽ lên bảng lớp,
tự tóm lược nội dung kiến thức cần củng cố hoặc ôn tập dưới dạng BĐTD rồi
thuyết minh lại. Cả lớp cùng đóng góp ý kiến bổ sung. GV kết luận. Cuối cùng
GV có thể đưa ra BĐTD hoàn chỉnh về kiến thức gọi HS nêu lại.
GV có thể sử dụng cách thức này ở buổi 2 trong các tiết ôn tập. Và đặc biệt
là trong các tiết bồi dưỡng HS giỏi nhằm giúp các em nắm vững các mạch kiến
thức một cách hệ thống và hiệu quả.
* Lưu ý : Nếu vận dụng BĐTD vào cuối tiết học để củng cố kiến thức của
một bài thì GV không nên yêu cầu HS vẽ cầu kỳ mà chỉ cần nêu được dàn ý
trọng tâm của bài học bằng các công thức hay hình vẽ đơn giản.
* Ví dụ : BĐTD dùng ôn tập TN-XH : Con người và sức khỏe.
* Ví dụ : BĐTD dùng củng cố kiến thức TNXH bài : Quả.
12
* Vận dụng phương pháp dạy học bằng BĐTD vào dạy các tiết Hoạt
động ngoài giờ lên lớp :
Hiện nay, theo qui định mỗi tuần đều có một tiết Hoạt động ngoài giờ lên
lớp. Để thực hiện tốt các tiết dạy này thì HS phải chuẩn bị rất nhiều việc như :
sưu tầm hoặc vẽ tranh ảnh theo chủ đề, tập biểu diễn các bài thơ, bài hát, câu
chuyện kể theo chủ điểm, diễn tiểu phẩm,.... Nếu không có sự phân công cụ thể,
học tập cho HS và góp phần vào việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quá
trình dạy và học tích cực.
Ví dụ: SĐTD được vẽ trên phần mềm ImindMap 7
14
3.2.2.4. Để vận dụng các biện pháp trên đạt hiệu quả, một số vấn đề
giáo viên cần lưu ý:.
- HS thực hành vẽ BĐTD. GV cần lưu ý HS khi vẽ:
+ Dùng từ khóa và ý chính
+ Viết cụm từ không viết thành câu.
+ Có thể dùng các từ viết tắt.
+ Có tiêu đề.
+ Nên dùng đường cong thay vì đường thằng vì các đường cong sẽ thu
hút sự chú ý của mắt hơn.
+ Sử dụng nhiều màu sắc để ghi.
+ Nếu có thời gian có thể vẽ kèm hình ảnh minh họa.
- Ban đầu, GV khuyến khích HS vẽ những BĐTD đơn giản rồi cứ thế
tùy năng lực HS mà nâng dần mức độ. Khuyến khích các em có quyển sổ riêng
để vẽ BĐTD để dễ dàng lưu giữ và sử dụng khi cần thiết.
- Mặc dù đây là một phương pháp dạy học có nhiều ưu điểm nhưng
muốn khai thác được hiệu quả cao nhất của nó thì trong quá trình lên lớp, GV
cần áp dụng “đúng đối tượng, đúng nơi, đúng thời điểm”. Ngoài ra, chúng ta
cần kết hợp hài hòa với các phương pháp dạy học khác để chúng hỗ trợ làm tăng
những ưu điểm của nhau.
3. 3. Khả năng áp dụng của giải pháp:
15
16
- Giải Violimpic Toán cấp tỉnh: 2 giải (giải Khuyến khích 2013-2014,
năm 2014-2015 không xếp hạng nhưng được công nhận đạt giải cấp tỉnh).
- Giải Violimpic cấp huyện: Năm 2013 – 2014: 1 giải nhì, năm 2014-2015
huyện không xếp hạng nhưng kết quả thi của 4 HS trong lớp của người thực
hiện đề tài đạt số điểm khá cao. (260, 270, 285, 300).
- Học với phương pháp BĐTD là HS phải tự sáng tạo, tự trình bày kiến
thức của mình. Từ đó, học sinh tự tin, năng động, sáng tạo hơn trong các phong
trào và hoạt động ngoại khóa. Đa số HS trong lớp của tác giả sáng kiến là thành
viên trong các đội thi năng khiếu và các hoạt động ngoại khóa của trường. Các
em biết vạch ra những việc cần thực hiện hàng tuần, hàng tháng và thể hiện
chúng bằng BĐTD rồi đính ở góc trang trí của lớp hoặc góc học tập ở nhà để
nhìn vào mà phấn đấu. Vì thế kết quả tham gia các phong trào rất tốt:
+ Đạt giải Nhất hát cá nhân, giải Nhất hát tốp ca và giải Nhất tập thể của
hội thi “Tiếng hát dân ca” cấp trường.
+ Đạt giải Nhất và giải Nhì hội thi “Vẽ tranh” cấp trường.
+ Giải Nhất, giải Nhì, giải Ba hội thi “Viết chữ đẹp” cấp trường.
- Kết quả học tập năm học 2013-2014:
Học sinh khá + giỏi: 23/25 (92%)
Học sinh trung bình: 2/25 (8%)
Học sinh yếu: 0
- Kết quả học tập HK I năm học 2014-2015: 100% HS Hoàn thành ở tất
cả các môn.
- HS học tập tích cực, chủ động, nắm vững kiến thức đã học qua từng bài,
từng chương, từng mạch kiến thức. Khả năng tư duy logic của các em ngày càng
cao.
- Giúp học sinh phát huy năng khiếu vẽ. Các em biết tự dùng BĐTD để
lập kế hoạch cho quá trình rèn luyện và học tập cho bản thân.