MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Môi trường đang trở thành một vấn đề nan giải mà xã hội quan tâm
hiện nay. Để giải quyết những vấn đề đó cần có những công trình nghiên cứu
về xử lý nhằm giảm thiểu ô nhiễm khi thải ra môi trường góp phần gìn giữ và
bảo vệ môi trường. Ở Việt Nam, quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở
nước ta trong những năm gần đây phát triển rất nhanh. Dân số đã tăng lên
nhanh chóng đặc biệt là các khu vực đô thị, các thành phố lớn. Sự gia tăng
dân số đã kéo theo việc sử dụng nước phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất, lượng
rác thải, khói bụi và tiếng ồn ngày càng tăng. Ô nhiễm môi trường tại các đô
thị đang trở thành một vấn đề đáng quan tâm.
Quảng Ninh là tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, xã Thuỷ
An là xã thuần nông thuộc huyện Đông Triều, nông dân chủ yếu là sản xuất
nông nghiệp và chăn nuôi số hộ được sử dụng nước sạch còn thấp. Việc thu
gom, xử lý rác thải từ trước tới nay do từng hộ nông dân xử lý, xã chưa có lực
lượng thu gom thường xuyên. Vì vậy tình trạng rác thải vứt bừa bãi, hôi thối
gây ô nhiễm không chỉ ảnh hưởng đời sống của các hộ nông dân trong xã mà
còn ảnh hưởng đến mỹ quan chung của huyện. Nhận thức của người dân về
việc thu gom, xử lý rác thải trong quá trình chăn nuôi và sinh hoạt lại chưa
cao, xác súc vật chết đều đổ ra khe, suối gần nhà và quanh vườn; Nhà tiêu
không đảm bảo vệ sinh…đây là những nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi
trường, phát sinh dịch bệnh trên địa bàn xã thời gian qua, ảnh hưởng sức khoẻ
cộng đồng, phá huỷ cân bằng môi trường.
Trong những năm qua, quá trình đô thị hóa đã tác động mạnh mẽ đến
môi trường của xã, gây ô nhiễm môi trường không khí, nước, đất ở các mức
độ khác nhau. Ngoài nguyên nhân khách quan (như vị trí địa lí, điều kiện tự
nhiên), nguyên nhân chủ quan là sự gia tăng của các hoạt động kinh tế - xã
hội, dân cư, thiếu quy hoạch không gian lãnh thổ và thiếu quan tâm trong
công tác quản lý môi trường của các cơ quan quản lý cấp cơ sở.
- Luật BVMT Việt Nam - Ngày 29 tháng 11 năm 2005 của Quốc Hội
Nước Cộng Hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Quyết định số 104/2000/QĐ – TTg ngày 25/08/2000 của Thủ tướng
Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh
nông thôn đến năm 2020.
- Quyết định của Bộ trưởng Bộ Y Tế số 08/2005/QĐ – BYT ngày
11/03/2005 về việc ban hành tiêu chuẩn vệ sinh đối với các loại nhà tiêu.
- Nghị định số 149/2004/NĐ – CP ngày 27/07/2004 của Chính phủ quy
định về việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước
thải vào nguồn nước.
- Thông tư của Bộ Y Tế số 15/2006/TT – BYT ngày 30/11/2006 hướng
dẫn việc kiểm tra vệ sinh nước sạch, nước ăn uống, nhà tiêu và hộ gia đình.
- Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 5944-1995) Chất lượng nước - Tiêu
chuẩn chất lượng nước ngầm.
- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5502:2003 nước cấp sinh hoạt – yêu cầu
chất lượng.
1.2. Cơ sở lý luận
Các khái niệm liên quan
- Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao
quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển
của con người và sinh vật.
- Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường như
đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình
thái vật chất khác.
- Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong
lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng
phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện
môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo
thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy, thải loại chất thải
- Phế liệu là sản phẩm, vật liệu bị loại ra từ quá trình sản xuất hoặc tiêu
dùng được thu hồi để dùng làm nguyên liệu sản xuất
- Sức chịu tải của môi trường là giới hạn cho phép mà môi trường có
thể tiếp nhận và hấp thụ các chất gây ô nhiễm.
- Kiểm soát ô nhiễm môi trường là tổng hợp các hoạt động của Nhà
nước, các tổ chức và cá nhân nhằm loại trừ, hạn chế những tác động xấu đối
với môi trường; phòng ngừa ô nhiễm môi trường; khắc phục, xử lý hậu quả do
ô nhiễm môi trường gây nên (La Thị Cẩm Vân, 2013) [3].
- Quan trắc môi trường là quá trình theo dõi có hệ thống về môi
trường, các yếu tố tác động lên môi trường nhằm cung cấp thông tin phục vụ
đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu đối
với
môi
trường.
- Thông tin về môi trường bao gồm số liệu, dữ liệu về các thành phần môi
trường; về trữ lượng, giá trị sinh thái, giá trị kinh tế của các nguồn tài nguyên
thiên nhiên; về các tác động đối với môi trường; về chất thải; về mức độ môi
trường bị ô nhiễm, suy thoái và thông tin về các vấn đề môi trường khác.
- Đánh giá môi trường chiến lược là việc phân tích, dự báo các tác
động đến môi trường của dự án chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển
trước khi phê duyệt nhằm bảo đảm phát triển bền vững.
- Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo các tác động
đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra các biện pháp bảo vệ môi
trường khi triển khai dự án đó.
Nguồn gây ra ô nhiễm do giao thông vận tải sinh ra gần 2/3 khí CO 2 và
1/3 khí CO cùng với khí NO. Đặc điểm nổi bật của các nguồn này là tuy
nguồn gây ô nhiễm tính theo đơn vị phương tiện giao thông vận tải có quy mô
nhỏ nhưng lại tập trung suốt dọc tuyến đường giao thông nên tác hại rất lớn,
nguồn gây ô nhiễm thấp, di động, khả năng khuyếch tán phụ thuộc các chất ô
nhiễm phụ thuộc chủ yếu vào địa hình và kiến trúc các phố hai bên đường.
Tại Hà Nội, các nhà khoa học cho rằng hoạt động giao thông vận tải là một
nguồn gây ô nhiễm rất lớn.
*Do hoạt động sản xuất nông nghiệp
Ô nhiễm do hoạt động sản xuất nông nghiệp chủ yếu do đốt rừng làm
rẫy, làm cho khí CO2 tăng lên, khí CH4 tạo ra do sựu phân hủy chất hưu cơ từ
các trang trại chăn nuôi hoặc từ các đống rác xử lý không đúng kỹ thuật.
Bên cạnh đó ô nhiễm môi trường do các hoạt động sản xuất nông
nghiệp còn gây ra bởi các hoạt động phun thuốc bảo vệ thực vật bằng bình
phun, vòi phun, máy bay. Phân gia súc phân hủy, phân bón gây mùi hôi thối
tạo điều kiện cho các loại sinh vật truyền bệnh phát triển như ruồi, nhặng…
*Ô nhiễm không khí trong nhà
Đây là một trong những nguồn gây ô nhiễm ảnh hưởng trực tiếp đến
con người, nguồn gây ô nhiễm trong sinh hoạt chủ yếu là lò sưởi và bếp đun
sử dụng các nhiên liệu như than, củi dầu lửa, khí đốt… Nguồn gây ô nhiễm
này tuy nhỏ nhưng thường gây ô nhiễm cục bộ trong một không gian nhỏ nên
có thể để lại hậu quả lớn và lâu dài. Bên cạnh đó nguồn gây ô nhiễm trong
nhà còn có thể kẻ tới các khí sinh ra từ các nguồn thải sinh hoạt, khói thuốc
lá, các hợp chất hữu cơ bay hơi có nguồn gốc từ các loại sơn và các vật liệu
xây dựng. Đặc biệt tại các khu vực tập trung đông dân cư, diện tích sinh hoạt
nhỏ hẹp mức độ ảnh hưởng tới sức khỏe con người lại càng lớn.
1.3.1.2. Ô nhiễm nước
*Nguồn nước mặt
thuốc trừ sâu và phân bón cũng là nguồn đe doạ lớn đối với nguồn nước
ngầm.
Các quá trình hình thành địa chất tự nhiên là nguồn giải phóng kim loại
nặng vào nước ngầm, trong đó phổ biến nhất là ô nhiễm Asen. Một nghiên
cứu mới đây cho thấy nguồn nước ngầm của nhiều quốc gia thuộc khu vực
Nam Á và Đông Nam Á có hàm lượng Asen rất cao. Cao nhất là Băng-la-đét.
Hiện có 1/15 dân số nước này đang phải uống nước có hàm lượng Asen cao
hơn 5 lần mức cho phép của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).
Nước ngầm rất khó xử lý, do đó việc bảo vệ nguồn nước đó là cực kỳ
quan trọng. Một số biện pháp ngăn chặn cơ bản là tăng cường kiểm soát đối
với việc xả thải, xây dựng hệ thống thoát nước hợp vệ sinh. Tuy nhiên, cho
đến nay ở các nước đang phát triển các biện pháp này được tiến hành rất
chậm chạp, trong khi hệ thống nước ngầm đang ngày càng bị nhiễm bẩn
nghiêm trọng (Quyền Thị Dung, 2013) [4].
1.3.1.3. Ô nhiễm đất
Nguyên nhân chủ yếu của ô nhiễm đất là nông dược và phân hóa học
chúng tích lũy dần trong đất qua các mùa vụ. Thứ hai là việc sử dụng hóa chất
bảo vệ thực vật trong nông nghiệp đang gây ô nhiễm đất nghiêm trọng, làm
vỡ kết cấu đất, xói mòn đất (Quyền Thị Dung, 2013) [4].
Ô nhiễm đất do nông dược và phân hóa học. Ô nhiễm đất xảy ra chủ
yếu ở nông thôn. Trước hết là do sự bành trướng của kĩ thuật canh tác hiện
đại. Nông nghiệp hiện nay phải sản xuất một lượng lớn thức ăn trong khi đất
trồng trọt tính theo đầu người ngày càng giảm vì dân số tăng và cũng vì sự
phát triển thành phố, kỹ nghệ và những sử dụng phi nông nghiệp. Người ta
cần phải thâm canh hơn, dẫn tới việc làm xáo trộn dòng năng lượng và chu
trình vật chất trong hệ sinh thái nông nghiệp.
Phân hóa học chắc chắn đã gia tăng năng suất, nhưng việc sử dụng lặp
lại, với liều rất cao gây ra sự ô nhiễm đất do các tạp chất lẫn vào. Hơn nữa,
+ Thành phố Rudnaya ở Nga.
Theo báo cáo của Viện này, các khu vực ô nhiễm nhất thế giới là những
khu vực hẻo lánh cách xa thủ đô và các khu du lịch của các nước. Những
nước có các thành phố bị ô nhiễm môi trường, phần lớn là các nước đang phát
triển, thiếu các biện pháp kiểm soát ô nhiễm, cộng thêm sự thiếu hiểu biết của
chính quyền địa phương và sự bất lực của người dân trong việc giải quyết các
tình trạng ô nhiễm.
Cũng theo báo cáo, đa số ô nhiễm của các khu vực này xuất phát từ chì
không được kiểm soát, mỏ than hoặc các nhà máy sản xuất vũ khí hạt nhân
chưa được lọc sạch. Ô nhiễm môi trường ở những thành phố này gây ảnh
hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ người dân và gia tăng nạn nghèo đói.
Những nơi bị ảnh hưởng nặng nề nhất của ô nhiễm môi trường là nơi con
người sinh sống có tuổi thọ thấp nhất, trẻ sơ sinh bị khuyết tật, tỉ lệ hen trẻ em
trên 90% và chậm phát triển trí tuệ.
Nghiên cứu do các cơ quan của Liên hiệp quốc tiến hành cho thấy
khoảng 20% trường hợp chết sớm trên toàn thế giới là do các nhân tố ô nhiễm
môi trường gây nên.
*Tại Chernobyl, báo cáo ước tính 5,5 triệu người vẫn bị đe doạ bởi vật
liệu phóng xạ tiếp tục thấm vào mạch nước ngầm và đất cách đây 20 năm sau
thảm hoạ nổ nhà máy điện hạt nhân.
*Người dân ở Lâm Phần, trung tâm tỉnh Sơn Tây, nơi chuyên khai thác
than của Trung Quốc, thường bị viêm phế quản, viêm phổi, ung thư phổi do
chất lượng không khí kém.
*Khoảng 300.000 người ở Dzherzhinsk (thuộc Nga), một khu vực sản
xuất vũ khí hoá học trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, tuổi thọ chỉ bằng một nửa
so với dân của các nước giàu nhất. Tuổi thọ của đàn ông ở Dzherzhinsk là 47
và của phụ nữ là 42.
không mang lại kết quả.
Trung Quốc mặc dù đã cải thiện đáng kể chất lượng nước ở sông
Hoàng Phố chảy qua thành phố Thượng Hải bằng khoản đầu tư hàng tỉ USD
trong 20 năm cùng với việc đóng cửa các cơ sở gây ô nhiễm nhưng hoạt động
công nghiệp và sự phát triển đô thị lại đang gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn
nước sông Dương Tử, con sông lớn nhất quốc gia này.
Một thực tế cho thấy, các chương trình phục hồi chất lượng nước mặt là
có thể thực hiện được nhưng rất tốn kém. Và điều đó dường như đồng nghĩa
với việc những người dân nghèo sống xung quanh các lưu vực bị ô nhiễm vẫn
tiếp tục phải ăn uống và sinh hoạt bằng những nguồn nước chết người đó.
*Ô nhiễm không khí:
Nguyên nhân chủ yếu của ô nhiễm không khí ở các nước đang phát
triển là do việc đốt than và các chất đốt sinh học (gỗ, phân động vật và rơm
rạ) để nấu ăn, sưởi ấm và chiếu sáng. Hơn 50% dân số thế giới dùng năng
lượng để đun nấu theo cách này, hầu hết họ đều sống ở các nước nghèo.
Trong khi đa số người dân ở các nước có thu nhập cao đã chuyển sang
dùng các sản phẩm từ dầu mỏ và điện để đun nấu, thì ở các nước đang phát
triển như Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Châu Phi cận Sahara, tới 80% các
gia đình ở thành phố và hơn 90% các hộ dân ở nông thôn vẫn đun nấu bằng
các nguồn nhiên liệu truyền thống này.
Nhiên liệu sinh học được đốt chủ yếu bằng các bếp thô sơ, do đó chúng
thường không được đốt cháy hoàn toàn. Điều này vừa gây ra sự lãng phí
nguyên liệu vừa gây ô nhiễm không khí. Cùng với hệ thống thông gió không
đảm bảo đã làm cho hàm lượng bụi và khói độc trong nhà cao, rất có hại cho
sức khoẻ con người. Trong đó những người bị ảnh hưởng nhiều nhất là phụ
nữ - những người thường xuyên nấu ăn và trẻ nhỏ thường xuyên được địu trên
lưng mẹ.
Sự đốt cháy nguyên liệu sinh học tạo thành các hạt. Các hạt với đương
25 khu công nghiệp tập trung hoạt động với tổng số 611 nhà máy trên diện
tích 2298 ha đất. Theo kết quả tính toán, hoạt động của các khu công nghiệp
này cùng với 195 cơ sở trọng điểm bên ngoài khu công nghiệp, thì mỗi ngày
thải vào hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai tổng cộng 1.740.000 m 3 nước thải
công nghiệp, trong đó có khoảng 671 tấn cặn lơ lửng, 1.130 tấn BOD 5 (làm
giảm nhu cầu ôxy sinh hoá), 1789 tấn COD (làm giảm nhu cầu ôxy hoá học),
104 tấn Nitơ, 15 tấn photpho và kim loại nặng. Lượng chất thải này gây ô
nhiễm cho môi trường nước của các con sông vốn là nguồn cung cấp nước
sinh hoạt cho một nội địa bàn dân cư rộng lớn, làm ảnh hưởng đến các vi sinh
vật và hệ sinh thái vốn là tác nhân thực hiện quá trình phân huỷ và làm sạch
các dòng sông.
.
Các loại ô nhiễm thường thấy tại các đô thị Việt Nam là ô nhiễm nguồn
nước mặt, ô nhiễm bụi, ô nhiễm các khí sulfure, cacbonic, nitrit, ô nhiễm chì
(Pb), chất thải rắn (trong sinh hoạt, bệnh viện). Giáo sư Lâm Minh Triết (Đại
học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh) trong buổi hội thảo “Bảo vệ môi
trường và phát triển bền vững ở Việt Nam” đã nhấn mạnh: “Nồng độ các chất
ô nhiễm trong nước mặt thường rất cao như là chất rắn lờ lững, nhu cầu ôxy
sinh hoá, nhu cầu ôxy hoá học, nitơrit, nitơrat... gấp từ 2-5 lần, thậm chí tới
10-20 lần trị số tiêu chuẩn cho phép đối với nguồn nước mặt loại B, chỉ số
E.Coli vượt tiêu chuẩn cho phép hàng trăm lần. Ngoài các chất ô nhiễm hữu
cơ trên, môi trường nước mặt đô thị ở một số nơi còn bị ô nhiễm kim loại
nặng và chất độ hại như là chì, thuỷ ngân, asen, clor, phenol...”
* Môi trường nước
Vấn đề đầu tiên phải kể đến về hiện tượng môi trường sống của người
dân ở các vùng nông thôn Việt Nam đang bị tàn phá nghiêm trọng là nước
độc với mọi sinh vật; Tồn dư lâu dài trong môi trường đất – nước gây ra ô
nhiễm; Tác dụng gây độc không phân biệt, nghĩa gây chết tất cả các sinh vật
có hại và có lợi trong môi trường đất, nước.
Hiện nay, nước ta chưa sản xuất được thuốc BVTV mà phải nhập khẩu
để gia công hoặc nhập khẩu thuốc thành phẩm bao gói lớn để sang chai đóng
gói nhỏ tại các nhà máy trong nước.
Nguyên nhân tình trạng trên là do việc quản lý thuốc BVTV còn nhiều
bất cập và gặp nhiều khố khăn. Hàng năm khoảng 10% thuốc được nhập lậu
theo đường tuyển ngạch. Số này rất đa dạng và chủng loại, chất lượng không
đảm bảo mà vẫn lưu hành trên thị trường. Thứ hai là việc sử dụng còn tùy
tiện, không tuân thủ các yêu càu kĩ thuật theo nhãn mác, không đảm bảo thời
gian cách ly của từng loại thuốc. Thứ ba là do một lượng lớn thuốc BVTV tồn
đọng tại các kho thuốc cũ, hết hạn sử dụng còn nằm rải rác tại các tỉnh thành
trên cả nước. Theo trung tâm công nghệ xử lý môi trường, cán bộ tư lệnh hóa
học (2004), trong khoảng hơn 300 tấn thuốc BVTV có nhiều chất nằm trong
12 chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy. Và cuối cùng là viêc bảo quản thuốc
BVTV trong nhà, trong bếp và trong chuồng nuôi gia súc.
- Nguyên nhân thứ hai gây ô nhiễm môi trường ở nông thôn là do chất
thải rắn từ các làng nghề và sinh hoạt của người dân. Hiện cả nước có khoảng
1.450 làng nghề, phân bố ở 58 tỉnh thành và đông đúc nhất là khu vực đồng
bằng Sông Hồng, vốn là cái nôi của làng nghề truyền thống Thái Bình và Bắc
Ninh,... trong đó các làng nghề có quy mô nhỏ, trình độ sản xuất thấp, thiết bị
cũ và công nghệ lạc hậu chiếm phần lớn (trên 70%). Do đó, đã và đang nảy
sinh nhiều vấn đề nông thôn, tác động xấu đến lượng môi trường đất, nước,
không khí và sức khỏe của người dân làng nghề.kết quả phân tích chất lượng
nước thải của làng nghề dệt nhuộm tại Thái Bình cho thấy, đa số các chỉ tiêu
phân tích đều vượt tiêu chuẩn cho phép, đặc biệt là BOD 5, COD đều vượt tiêu
chuẩn từ 2-5 lần (Hoàng Thị Thanh Hiền, 2013) [2].
Hải Phòng, nhà máy Vicasa Biên Hoà, KCN Tân Bình, nhà máy tuyển than
Hòn Gai... Ở một số khu dân cư gần các KCN nồng độ khí sulffure vượt chỉ
số tiêu chuẩn cho phép nhiều lần (khu dân cư gần nhà máy xi măng Hải
Phòng nồng độ khí sulfure trung bình ngày là 0,407 mg/m 3 gấp 1,4 lần tiêu
chuẩn cho phép, cụm công nghiệp Tân Bình nồng độ sulfure trung bình là
0,338 mg/m3 (gấp 1,1 lần tiêu chuẩn cho phép). Tính trung bình lượng chất
thải rắn sinh hoạt thải ra ở các thành phố lớn (Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng,
thành phố Hồ Chí Minh) từ 0,6 – 0,8 kg/người/ngày, chất thải rắn trong bệnh
viện (cơ sở y tế) được thải ra ước tính từ 50-70 tấn/ngày. Chất thải rắn này
ảnh hưởng rất lớn đến môi trường đô thị..
Hầu hết nhiên liệu sử dụng trong các làng nghề là than. Do đó, lượng
bụi và các khí CO, CO2, SO2 và NOx thải ra trong quá trình sản xuất trong
nhiều làng nghề khá cao. Theo kết quả điều tra tại các làng nghề sản xuất
gạch đỏ (Khai Thái – Hà Tây); vôi (Xuân Quan – Hưng Yên) hàng năm sử
dụng khoảng 6.000 tấn than, 100 tấn củi nhóm lò; 250 tấn bùn; 10m 3 đá sinh
ra nhiều loại bụi , SO2, CO2, CO, NOx, và nhiều loại chất thải nguy hại khác,
gây ảnh hưởng tới sức khỏe người dân trong khu vực và làm ảnh hưởng tới
hoa màu, sản lượng cây trồng của nhiều vùng lân cận. Đây cũng là một trong
các nguyên nhân gây ra các vụ xung đột, khiếu kiện như ở Thái Bình, Bắc
Ninh và Hưng Yên .
* Ô nhiễm đất
Hiện trạng ô nhiễm đất ở Việt Nam
Sản xuất nông nghiệp: áp lực tăng dân số đòi hỏi nhu cầu tăng lương
thực, thực phẩm ngày càng tăng và phải tăng cường khai thác độ phì nhiêu
của đất bằng nhiều biện pháp cụ thể: tăng cường sử dụng hóa chất như phân
vô cơ, thuốc trừ sâu, diệt cỏ: sử dụng chất kích thích sinh trưởng làm giảm
thất thoát và tạo nguồn lợi cho thu hoạch; mơ rộng các hệ tưới tiêu.
Sản xuất nông nghiệp: thải ra nhiều chất gây ô nhiễm như kim loại
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng môi trường khu vực xã Thuỷ An –
huyện Đông Triều – tỉnh Quảng Ninh.
- Phạm vi nghiên cứu: Khu vực xã Thuỷ An – huyện Đông Triều – tỉnh
Quảng Ninh.
2.2. Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: UBND xã Thuỷ An – huyện Đông Triều – tỉnh Quảng Ninh.
- Thời gian tiến hành: từ ngày 01/04/2014 đến ngày 20/05/2014
2.3. Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Thuỷ An – huyện Đông Triều –
tỉnh Quảng Ninh.
- Đánh giá chất lượng môi trường trên địa bàn xã Thuỷ An – huyện
Đông Triều – tỉnh Quảng Ninh.
- Hiểu biết và thái độ của nhân dân xã Thuỷ An – huyện Đông Triều –
tỉnh Quảng Ninh về các vấn đề môi trường và hoạt động Bảo vệ môi trường.
- Đề xuất một số biện pháp quản lý, tuyên truyền và cách thức giảm
thiểu ô nhiễm môi trường của địa phương.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp kế thừa
- Thu thập các tài liệu khoa học, các tạp chí khoa học, đề tài nghiên cứu
và số liệu về các vấn đề cần nghiên cứu.
- Tham khảo, kế thừa các tài liệu, các đề tài đã được tiến hành trước đó
có liên quan đến khu vực tiến hành nghiên cứu.
2.4.2. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Sử dụng các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội… trong báo
cáo quy hoạch sử dụng đất của địa phương.
- Tìm và thu thập các số liệu ở các văn bản, tạp chí, internet của tỉnh, huyện.
2.4.3. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp