ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------
NHÂM TIẾN LINH
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN TRÊN
ĐỊA BÀN XÃ VẠN THỌ - HUYỆN ĐẠI TỪ - TỈNH THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Khoa
Khoá học
: Chính Quy
: Khoa Học Môi Trường
: Môi Trường
: 2010 - 2014
Thái Nguyên, năm 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------
NHÂM TIẾN LINH
Bảng 4.5: Kết quả phân tích nước mặt với QCVN ......................................... 31
Bảng 4.6: Kết quả phân tích nước ngầm với QCVN ...................................... 31
Bảng 4.7: Kết quả phân tích nước suối với QCVN ........................................ 32
Bảng 4.8: Loại hình cống thải của các hộ đang sử dụng ................................ 35
Bảng 4.9: Hiện trạng nhà tiêu các hộ sử dụng ................................................ 35
Bảng 4.10 kết quả phân tích hàm lượng kim loại nặng trong đất ................... 32
Bảng 4.11 Đánh giá hàm lượng N tổng số trong đất ...................................... 33
Bảng 4.12 Đánh giá hàm lượng mùn trong đất ............................................... 34
Bảng 4.13 Đánh giá hàm lượng lân tổng số (P) trong đất .............................. 34
Bảng 4.14: Hiện trạng đổ rác thải sinh hoạt của các hộ gia đình.................... 36
Bảng 4.15: số lượng gia súc, gia cầm trên địa bàn xã Vạn Thọ ..................... 38
Bảng 4.16: Hiện trạng sử dụng phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật của các hộ
gia đình ảnh hưởng đến môi trường ................................................ 39
Bảng 4.17: Hiểu biết của người dân về vấn đề môi trường ............................ 41
Bảng 4.18. Nhận thức của người dân về việc phân loại rác tại nguồn ........... 42
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1: Biểu đồ thể hiện hiện trạng sử dụng nhà tiêu của các hộ gia đình . 36
Hình 4.2: Biểu đồ thể hiện hình thức đổ rác các hộ gia đình xã vạn thọ ........ 37
Hình 4.3 Biểu đồ thể hiện phân loại rác tại nguồn xã Vạn Thọ...................... 42
MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: MỞ ĐẦU.......................................................................................... 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................. 1
1.2. Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 2
3.4.4. Phương pháp lấy mẫu và chỉ tiêu theo dõi, phương pháp phân tích ..... 22
3.4.5. Phương pháp tổng hợp xử lý số liệu ..................................................... 23
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .......................... 24
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Vạn Thọ ............................... 24
4.1.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................. 24
4.1.1.1. Vị trí địa lý ......................................................................................... 24
4.1.1.2. Địa hình, địa mạo ............................................................................... 24
4.1.1..3. Khí hậu, thủy văn .............................................................................. 24
4.1.1.4. Nguồn tài nguyên ............................................................................... 25
4.1.1.5. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên của xã ................................... 25
4.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội ........................................................................ 26
4.1.2.1. Thực trạng phát triển kinh tế .............................................................. 26
4.1.2.2 thực trạng phát triển dân số, lao động và việc làm ............................. 29
4.2. Đánh giá hiện trạng môi trường nông thôn tại xã Vạn Thọ ..................... 30
4.2.1. Hiện trạng cung cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường tại các
gia đình ............................................................................................................ 30
4.2.2. Hiện trạng nhà tiêu và hệ thống cống thải mà các hộ đang sử dụng. ... 34
4.2.3. Hiện trạng môi trường đất ..................................................................... 32
4.2.4. Hiện trạng rác thải trên địa bàn ............................................................. 36
4.2.5. Hiện trạng vệ sinh môi trường trong lĩnh vực chăn nuôi ...................... 38
4.2.6. Tình hình sử dụng phân bón hóa chất bảo vệ thực vật ......................... 38
4.3. Sự nhận thức của người dân địa phương về vấn đề bảo vệ môi trường .. 40
4.4.Đề xuất giải pháp bảo vệ môi trương ........................................................ 42
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .......................................................... 44
5.1. Kết luận .................................................................................................... 44
5.2. Kiến nghị .................................................................................................. 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 47
I. Tiếng Việt .................................................................................................... 47
II. Tài liệu tiếng Anh ....................................... Error! Bookmark not defined.
III. Tài liệu Internet ......................................................................................... 47
thiết song song với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của xã.
Xuất phát từ vấn đề đó, Được sự nhất trí của ban giám hiệu nhà
trường, ban chủ nhiệm khoa Môi Trường - trường Đại Học Nông Lâm Thái
Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô Th.S Dương Thị Thanh Hà, em
2
tiến hành đề tài: “Đánh giá chất lượng môi trường nông thôn trên địa bàn
xã Vạn Thọ - Huyện Đại Từ - Tỉnh Thái Nguyên”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Điều tra, đánh giá môi trường nông thôn trên địa bàn xã Vạn Thọ- Huyện
Đại Từ - Tỉnh Thái Nguyên.
- Đánh giá hiểu biết của người dân về môi trường.
- Nâng cao hiểu biết của người dân về vấn đề bảo vệ môi trường.
- Đề xuất các giải pháp bảo vệ và quản lý môi trường tại địa phương.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Nắm bắt được những thông tin về điều kiện tự nhiên của xã Vạn Thọ
cũng như sức ép của sự phát triển kinh tế và xã hội đối với môi trường.
- Cung cấp thông tin về các hiện tượng môi trường của xã, Các hậu quả
của ô nhiễm môi trường, tự hoạt động của sản xuất của người dân nông thôn, từ
đó giúp cho các nhà quản lý thấy thấy rõ tầm quan trọng và đề ra những giải
pháp khắc phục.
- Đề xuất các giải pháp giảm thiểu và phòng chống ô nhiễm môi
trường tại địa phương.
1.4. Yêu cầu của đề tài
- Đối tượng được lựa chọn phỏng vấn đại diện các tầng lớp, các lứa tuổi
làm việc ở nhiều ngành nghề khác nhau.
- Số liệu thu thập phải chính xác, khách quan, trung thực.
- Tiến hành điều tra theo bộ câu hỏi; bộ câu hỏi phải dễ hiểu đầy đủ
người, sinh vật (Luật bảo vệ môi trường, 2005)[2].
- Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách
kinh tế, kỹ thuật xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường số và
phát triển bền vũng kinh tế xã hội quốc gia (Lê Văn Khoa, 2000)[4].
- Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong
sạch,phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố
môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường;
khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng
sinh học (Phạm Ngọc Quế 2003)[8]
- Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm
2020 chính là “tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý hức và trách nhiệm BVMT
cho cộng đồng và đẩy mạnh xã hội hoá công tác BVMT” (Bộ Tài Nguyên và
Môi Trường, 2008)[1].
2.1.2. Cơ sở pháp lý
- Luật BVMT Việt Nam - ngày 29 tháng 11 năm 2005 của Quốc Hội
nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Quyết định số 104/2000/QĐ - TTg ngày 25/08/2000 của thủ tướng
chính phủ về việc phê duyệt chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh
nông thôn đến năm 2020.
- Quyết định số 51/2008/QĐ - BNN của bộ Nông Nghiệp và phát
triển nông thôn về ban hành bộ chỉ số theo dõi và đánh giá nước sạch và vệ
sinh môi trường nông thôn.
5
- Quyết định của Bộ trưởng Bộ Y Tế số 08/2005/QĐ - BYT ngày
11/03/2005 về việc ban hành tiêu chuẩn vệ sinh đối với các loại nhà tiêu.
- Nghị định số 149/2004/NĐ - CP ngày 27/07/2004 của chính phủ quy
định về việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước
6
động xấu tới cảnh quan môi trường; gây ô nhiễm môi trường không khí,
nước và đất; làm gia tăng người mắc bệnh có liên quan đến ô nhiễm; thậm
chí làm giảm tuổi thọ trung bình của người dân sống trong và bên cạnh làng
nghề.
Nhiều bộ, ngành, địa phương đã tích cực nghiên cứu, xây dựng,
chuyển giao và có biện pháp nhân rộng một số mô hình quản lý, xử lý chất
thải làng nghề, góp phần cải thiện môi trường tại một số địa phương như
công nghệ hầm biogas đối với chất thải ở các làng nghề chăn nuôi, giết mổ
gia súc; mô hình quản lý chất thải nguy hại làng nghề… Một số địa phương
đã triển khai quy hoạch tập trung các khu công nghiệp, cụm công nghiệp để
di dời các cơ sở gây ô nhiễm môi trường ra khỏi khu dân cư đối với làng
nghề dệt nhuộm, giấy tái chế,… hoặc quy hoạch quản lý theo hình thức phân
tán đối với từng hộ gia đình tại các làng nghề truyền thống ít ô nhiễm; công
tác xã hội hoá bảo vệ môi trường làng nghề (chủ yếu là thu gom chất thải
rắn) đã được hình thành và hoạt động có hiệu quả tại một số địa phương. Thủ
tướng Chính phủ cũng vừa ban hành Quy định số 577/QĐ-TTg ngày
11/4/2013 phê duyệt Đề án tổng thể bảo vệ môi trường làng nghề đến năm
2020 và định hướng đến năm 2030, trong đó xác định các trọng tâm ưu tiên
bảo vệ môi trường làng nghề giai đoạn 2013 - 2015 và 2016 - 2020 nhằm
từng bước xử lý các làng nghề hiện đang bị ô nhiễm môi trường và ngăn
chặn tình trạng phát sinh các làng nghề gây ô nhiễm môi trường mới. (Đình
Lâm, 2013)[6]
Tuy nhiên, nhìn chung tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề
vẫn đang gia tăng và trở thành một vấn đề môi trường cấp bách hiện nay, các
làng nghề gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng chậm được xử lý do thiếu
nguồn lực cũng như thiếu quy định về trách nhiệm cụ thể.
Ô nhiễm môi trường nông thôn ở Việt Nam đang ở mức báo động
Tình trạng ô nhiễm môi trường ở nhiều nông thôn đang ở mức báo
nghiệp như phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật… một cách tràn lan và
không có kiểm soát.
Nhìn chung, lượng phân bón hóa học ở nước ta sử dụng còn ở mức
trung bình cho 1ha gieo trồng, bình quân 80-90 kg/ha (cho lúa là 150180 kg/ha), so với Hà Lan 758 kg/ha, Trung Quốc 390 kg/ha. Tuy nhiên,
việc sử dụng này lại gây sức ép đến môi trường nông nghiệp và nông
thôn với 3 lý do: Sử dụng không đúng kỹ thuật nên hiệu lực phân bón
thấp: bón phân không cân đối, nặng về sử dụng phân đạm; chất lượng
phân bón không đảm bảo, các loại phân bón NPK, hữu cơ vi sinh, hữu cơ
khoáng do các cơ sở nhỏ lẻ sản xuất trôi nổi trên thị trường không đảm
8
bảo chất lượng đăng ký, nhãn mác, bao bì nhái, đóng gói không đúng
khối lượng đang là áp lực chính cho nông dân và môi trường đất rộng rãi,
len lỏi trong mọi hoạt động sản xuất và sinh hoạt thường nhật của người
dân nông thôn. Và quan trọng nhất, hiện trạng trên tác động xấu đến sức
khỏe cộng đồng nông thôn và hậu quả là lâu dài không những đối với thế
hệ hiện tại mà cả thế hệ mai sau (Lê Văn Khoa, 2004) [5].
Theo Phạm Ngọc Quế (2003) hiện tại số hộ ở nước ta chăn nuôi gia
súc gia cầm là rất phát triển nhưng phương thức chăn nuôi lạc hậu (thả rông,
làm chuồng dưới nhà sàn, phân để trong chuồng lâu không được xử lý hoặc
dọn rửa chuồng xả bừa bãi vào các nguồn nước…) đã làm cho môi trường
nông thôn ngày càng ô nhiễm. Ngoài lượng phân, còn có nước tiểu, thức ăn
thừa cũng chiếm một khối lượng đáng kể trong tổng số chất thải do chăn
nuôi đưa đến. Rõ ràng nếu lượng phân này không được xử lý tốt chắc chắn
sẽ tạo ra một sự ô nhiễm đáng kể đối với vệ sinh môi trường.
+ Nguyên nhân thứ hai gây ô nhiễm môi trường ở nông thôn là do chất
thải rắn từ các làng nghề và sinh hoạt của người dân. Hiện nay cả nước có
khoảng 1450 làng nghề, phân bố trên 58 tỉnh thành và đông đúc nhất ở đồng
đến việc sử dụng nguồn nước không an toàn và các điều kiện vệ sinh không
đảm bảo. Không được tiếp cận đầy đủ nước và vệ sinh còn gây ra những vấn
đề nghiêm trọng cho sức khỏe trẻ em (44% trẻ em nhiễm bệnh giun sán và
27% trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng). Với sự tăng, phát triển của các
ngành công nghiệp tại địa phương, các nguồn nước sẽ bị ô nhiễm nếu không
tuân thủ nghiêm ngặt pháp luật về bảo vệ môi trường (Bộ Tài nguyên và
Môi trường, 2008) [1].
Ô nhiễm môi trường không khí
Mặc dù đất nước chúng ta nền công nghiệp chưa phát triển nhưng ô
nhiễm không khí đã xảy ra ở nhiều nơi. Ở Hà Nội, tại khu vực nhà máy dệt
8-3, nhà máy cơ khí Mai Động. Khu công nghiệp Thượng Đình, khu công
nghiệp Văn Điển, nhà máy Rượu…không khí đều đã bị ô nhiễm nặng. Ở Hải
Phòng , ô nhiễm nặng ở khu nhà máy Xi măng, nhà máy Thủy Tinh và Sắt
tráng men…Ở Việt Trì, ô nhiễm nặng xung quanh nhà máy Supe phốtphát
Lâm Thao, nhà máy Giấy, nhà máy Dệt. Ở Ninh Bình và Phả Lại ô nhiễm
nặng do nhà máy Nhiệt điện, các nhà máy vật liệu xây dựng, lò vôi. Ở thành
phố Hồ Chí Minh và cụm công nghiệp Biên Hòa không khí cũng bị ô nhiễm
bởi nhiều nhà máy. Hầu như tất cả các nhà máy hóa chất đều gây ô nhiễm
không khí. Dân cư sống ở các vùng nói trên thường mắc các bệnh đường hô
hấp, da và mắt.
10
Hầu hết nhiên liệu sử dụng trong làng nghề là than, củi. Do đó lượng
bụi và các lượng khí CO, CO2, SO2, và NOx thải ra trong quá trình sản xuất
trong làng nghề khá cao. Theo kết quả điều tra tại các làng nghề sản xuất
gạch đỏ (Khai Tái - Hà Tây), vôi (Xuân Quan - Hưng Yên) hàng năm sử
dụng khoảng 6000 tấn than, 100 tấn củi nhóm lò đã sinh ra nhiều loại bụi
như CO, CO2, SO2, NOx và nhiều loại thải khác gây nguy hại tới sức khỏe
tốt trong lĩnh vực vệ sinh môi trường. Đa số hộ chưa có nhà vệ sinh đạt tiêu
chuẩn, nhất là vùng bị ngập lụt, vùng ven biển nơi có mật độ ngư dân cao
(Phạm Ngọc Quế, 2003) [8].
Ô nhiễm môi trường đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm
bẩn môi trường đất bởi các chất ô nhiễm. Chất ô nhiễm sau khi thấm vào đất sẽ
lưu lại trong đó. Hiện tượng này khác xa với hiện tượng ô nhiễm nước sông, ở
đây chỉ cần chất ô nhiễm ngừng xâm nhập thì khả năng tự vận động của không
khí và nước sẽ nhanh chóng tống khứ chất ô nhiễm ra khỏi chúng. Ðất không có
khả năng này, nếu thành phần chất ô nhiễm quá nhiều, con người muốn khử ô
nhiễm cho đất sẽ gặp rất nhiều khó khăn và tốn nhiều công sức.
2.2.2 Tình hình Môi Trường ở tỉnh Tuyên Quang
Môi Trường nước thải
Hiện nay trên địa bàn Tuyên Quang chưa có nhiều các công trình xử lý
nước thải hoàn chỉnh. Hầu hết các loại nước thải thường được thu gom thông
qua hệ thống các đường ống cống, xử lý sơ bộ bằng hệ thống các hố ga, hồ
lắng sau đó xả trực tiếp vào hệ thống sông suối, ao hồ.Các nguồn phát sinh
nước thải chính ở Tuyên Quang chủ yếu là nước thải sinh hoạt, tuyển quặng,
sản xuất công nghiệp, chăn nuôi và nước thải bệnh viện...
Hiện tại các nhà máy nước ở Tuyên Quang và các công trình nước tự
chảy đang cung cấp 191.620m3/ngđ phục vụ nhu cầu sản xuất và nhu cầu
sinh hoạt của địa phương (trong đó nước mặt là 72.289m3/ngđ, nước
ngầm là 119.331m3/ngđ), tương đương 69.941.300m3/năm. Ngoài ra, các
công trình nước cấp còn cung cấp được 1.069.000m3/năm cho sản xuất
công nghiệp. Nếu tính tổng lượng nước thải sau sử dụng bằng 80% tổng
lượng nước cấp thì hằng năm trên địa bàn Tuyên Quang có tối thiểu
56.808.240 m3/năm, tương đương 155.639 m3/ngđ nước thải chưa được xử
lý triệt để thải vào môi trường.
Theo tiêu chuẩn về nhu cầu sử dụng nước hiện nay là
100l/người/ngày, thì tổng lượng nước được sử dụng hằng ngày phục vụ nhu
cầu ăn uống, sinh hoạt của nhân dân tỉnh Tuyên Quang là 74.495,2m3/ngày,
sức khoẻ của người dân. Song trong những năm tới các dự án lớn đầu tư tại
tỉnh sẽ đi vào hoạt động như: Nhà máy xi măng Tân Quang, nhà máy phôi
thép Hằng Nguyên, Nhà máy giấy An Hoà và nhiều dự án đầu tư tại các cụm
công nghiệp cũng hoàn thành đi vào hoạt động. Hoạt động của các nhà máy
này sẽ thải ra lượng khí thải không nhỏ vào môi trường. Bàn Thị Mỳ
(2012),[7]
Các nguồn phát sinh bụi, khí thải tuy không nhiều nhưng lại ảnh
hưởng trực tiếp đến người dân và người lao động trực tiếp. Khu vực có
13
nguồn bụi và khí thải cao là nhà máy xi măng, nhà máy đường, một số khu
khai thác mỏ, nghiền quặng và đá xây dựng, lò nung gạch ngói,… Mặc dù
trong quá trình hoạt động, các nhà máy đều đã xây dựng báo cáo ĐTM, đề ra
các biện pháp khắc phục, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, song thực tế các
biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường đề ra thường không được thực hiện
triệt để. Vì vậy vấn đề ô nhiễm môi trường do khói, bụi công nghiệp vẫn còn
xảy ra ở một số khu dân cư gần các cơ sở công nghiệp, các công trường khai
thác và các phương tiện giao thông gây ra. Tiếng ồn cao nhất ở các điểm đo
giao động 53,5 - 87,5 dBA, trung bình là 72,7 dBA. Nơi có tiếng ồn vượt quá
TCCP là trong các xưởng nghiền chế biến quặng, nghiền đá....
Hiện trạng môi trường đất
Sử dụng phân bón hóa học trong canh tác, s ản xuất nông nghiệp
Canh tác nông nghiệp được xem là thế mạnh của tỉnh Tuyên Quang, đặc biệt
để gia tăng mùa v ụ canh tác, từ đó gia tăng lượng phân bón nhằm cung ứng
dưỡng chất cho cho cây trồng cũng như bù lại dinh dưỡng cho đất. Tuy nhiên, việc
bón phân không đúng liều lượng, kỹ thuật và hiện tượng bón quá mức một số
nguyên tố sẽ gây nên mất cân bằng dinh dưỡng trong đất.
Phân đạm và phân lân là hai loại phân bón thiết yếu cho cây trồng.
cơ hội phát tán các chất độc hại vào môi trường. Việc sử dụng các hoá chất
độc hại trong khâu tuyển quặng, nhất là trong hoạt động khai thác và tuyển
vàng (sử dụng thủy ngân, xianua) là nguy cơ đe doạ nghiêm trọng tới môi
trường đất.
2.2.3.Hiện trạng Môi Trường tỉnh Vĩnh Phúc
Môi trường không khí
Môi trường không khí tại hai khu đô thị lớn nhất của tỉnh Vĩnh
Phúc là thị xã Vĩnh Yên và Phúc Yên đang bị ô nhiễm nặng và mức độ
ô nhiễm ngày càng tăng theo thời gian. Tại Phúc Yên, hàm lượng bụi
vượt 4,0 ÷ 4,8 lần so với TCVN 5937 - 1995, tiếng ồn luôn vượt 1,02 ÷
1,09 lần so với TCVN 5949 - 1998.
Tại khu công nghiệp Hương Canh và thị trấn Hương Canh nồng độ bụi
vượt từ 7,1 đến 8,1 lần so với TCVN 5937-1995. Các khu vực nông thôn
(tại thị trấn) và làng nghề cũng đang bị ô nhiễm bụi ở mức độ trung bình
(vượt 1,15 ÷ 1,7 lần TCVN 5937 - 1995); tiếng ồn vượt 1,03 lần TCVN 5949
- 1998 và có xu hướng ngày càng tăng theo thời gian. Môi trường không khí
bị ô nhiễm là do một số nguyên nhân sau: Hầu hết các cơ sở sản xuất không
lắp đặt hệ thống xử lý khí thải, xả trực tiếp ra môi trường xung quanh; Sự
xuống cấp của cơ sở hạ tầng giao thông trong khi số lượng các phương tiện
15
tham gia giao thông gia tăng và Cả tỉnh Vĩnh Phúc như là một đại công
trường xây dựng do quá trình đô thị hoá nhanh. (Nguyễn Kiên Dũng)[3]
Môi trường nước
Phần lớn các hồ thuộc tỉnh Vĩnh Phúc trong đó có Đầm Vạc và hồ Đại
Lải phải tiếp nhận nhiều nguồn thải: sinh hoạt, công nghiệp và y tế. Các
nguồn thải này đã gây nên sự quá tải đối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị
5944-1995 và TCBYT-02.. (Nguyễn Kiên Dũng)[3]
Môi trường đất
Kết quả phân tích cho thấy: Dư lượng thuốc BVTV trong đất trên địa
bàn tỉnh Vĩnh Phúc nói chung đều vượt quá mức cho phép từ 10 - 15%;
trong đó huyện Mê Linh vượt trên 18%, Yên Lạc, Vĩnh Tường vượt trên
20%. TBVTV họ Clo là loại thuốc khó phân hủy, tồn tại rất lâu trong môi
trường đất nhưng đã phát hiện có trong 10 mẫu, chiếm 23,03%.
Tình trạng ô nhiễm môi trường đất do dư lượng thuốc bảo vệ thực vật
đang gia tăng nhanh chóng, làm ảnh hưởng đến sức khoẻ người dân và môi
trường trước mắt cũng như lâu dài.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ô nhiễm môi trường đất là do thuốc
BVTV và phân bón hoá học sử dụng không đúng quy cách, bao bì, vỏ chai
17
vứt bừa bãi trên đồng ruộng; trong khi đó phân chuồng từ chăn nuôi lại xả
trực tiếp ra môi trường (điển hình là xã Đồng Cương, huyện Yên Lạc), nhiều
nơi còn sử dụng nước thải không qua xử lý để tưới.. (Nguyễn Kiên Dũng)[3]
2.3. Hiện trạng Môi Trường Tỉnh Thái Nguyên
Môi trường đất:
Chất lượng môi trường đất được quan trắc tại 9 khu vực bị ảnh hưởng
từ các hoạt động sản xuất công, nông nghiệp gồm: đất chè (xã Tân Cương TP Thái Nguyên), đất rau (Phường Túc Duyên - TP Thái Nguyên), đất lúa
(xã Bản Ngoại - Đại Từ), đất chè (xã Tức Tranh - Phú Lương), đất cạnh suối
tiếp nhận nước thải công ty gang thép Thái Nguyên (phường Cam Giá), đất
ruộng cạnh suối Văn Dương tiếp nhận nước khu công nghiệp Sông Công (xã
Hồng Tiến - Phổ Yên), đất ruộng Nam Hòa, huyện Đồng Hỷ, đất lúa xã
Tràng Xá, huyện Võ Nhai, đất lúa Bảo Linh, huyện Định Hóa.
Theo kết quả quan trắc, cả 4 vị trí quan trắc đất bị ô nhiễm một trong
số các kim loại nặng như Pb, Cd, As và Zn. Cụ thể: Đất lấy tại ven suối Cam
Môi trường nước:
Nước mặt:
Kết quả quan trắc đợt 1/2013 cho thấy nước sông Cầu khu vực phía
thượng nguồn tương đối tốt. Tuy nhiên, nước bị ô nhiễm hữu cơ cục bộ khu
vực chảy qua địa bàn thành phố Thái Nguyên và khu vực chảy qua địa ban
huyện Phổ Yên; Ô nhiễm Pb, Hg khu vực phía nam thành phố Thái Nguyên.
Chất lượng nước sông Công từ khu vực phía thượng nguồn đến khu
vực thị xã Sông Công tương đối tốt, đảm bảo cho sử dụng mục đích sinh
hoạt nhưng phải áp dụng công nghệ xử lý phù hợp. Chất lượng nước giảm
khu vực từ sau điểm hợp lưu suối tiếp nhận nước thải bãi rác Nam Sơn đến
khu vực cầu Đa Phúc, nước bị ô nhiễm nhẹ chất hữu cơ và tổng chất răn lơ
lửng.
Vùng phụ lưu sông Công. Các phụ lưu bị ô nhiễm gồm: suối Na Mao
bị ô nhiễm NO2-; suối Nông bị ô nhiễm nhẹ TSS; suối La Cấm bị ô nhiễm
Cd, Hg, amoni, coliform; suối Đăc Sơn bị ô nhiễm amoni. Các phụ lưu khác
có chất lượng tương đối tốt và đạt mức A2 của QCVN 08:2008/BTNMT
nước mặt sông Rong tại khu vực thị trấn Đình Cả bị ô nhiễm nhẹ hợp chất
hữu cơ. Chất lượng nước không đảm bảo sử dụng mục đích sinh hoạt nhưng
vẫn đảm bảo sử dụng mục đích tưới tiêu thủy lợi.
Nước ngầm:
Có 1/9 điểm quan trắc nước ngầm bị ô nhiễm amoni, coliform và độ
cứng qua các đợt quan trắc được lấy tại nhà bà Hoàng Thị Kim Phượng, phố
Giang Khánh, Giang Tiên, huyện Phú Lương. Trong đợt quan trắc 1/2013,
19
nước ngầm tại điểm này bị ô nhiễm amoni, coliform và Mn theo QCVN
09:2008/BTNMT. Các vị trí quan trắc nước ngầm khác trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên không bị ô nhiễm theo QCVN 09:2008/BTNMT. (Phạm Lê Vân)[9]