Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng agribank thành phố lào cai - Pdf 34

Khóa luận tốt nghiệp

Khoa : Tài chính ngân hàng

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Thành phố Lào Cai Tỉnh Lào
Cai.

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

1

SV : Phạm Thế Đôn

Lớp TC 17B


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa : Tài chính ngân hàng

Trong xu thế phát triển Công nghiệp hóa Hiện đại hóa và Toàn cầu hóa hiện
nay, mục tiêu phát triển kinh tế, củng cố cơ sở hạ tầng, nâng cao khả năng cạnh
tranh trong khu vực và trên Thế giới là mục tiêu hàng đầu của các nhà lãnh đạo Việt
Nam. Xuất phát từ mục tiêu đó, nhu cầu về vốn cho nền kinh tế ngày càng lớn và tín
dụng Ngân hàng trở thành một kênh cung ứng vốn hiệu quả cho nền kinh tế, là đòn
bẩy quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế nước ta.
Nghiệp vụ tín dụng Ngân hàng không chỉ có ý nghĩa với nền kinh tế mà nó còn


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa : Tài chính ngân hàng

Báo cáo nghiên cứu chủ yếu hoạt động tín dụng và chất lượng tín dụng tại
NHNo&PTNT-Chi nhánh Thành Phố Lào Cai Số liệu được sử dụng để nghiên cứu
là số liệu trong 3 năm 2012, 2014, 2014.
Thời gian tiến hành đề tài từ 09/02/2015 đến 30/04/2015.
Theo luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam thì hoạt động tín dụng bao gồm
nhiều hoạt động như chiết khấu, bảo lãnh, cho vay, cho thuê … tuy nhiên, do thời
gian và kinh nghiệm của cá nhân còn hạn hẹp nên trong bản báo cáo này em xin
phép chỉ đề cập đến chất lượng tín dụng ở góc độ cho vay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Báo cáo sử dụng tổng hợp phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
làm cơ sở lý luận và phương pháp luận. Sử dụng các phương pháp thống kê, phân
tích kinh tế, phân tích tổng hợp, logic, phương pháp lý luận phân tích hoạt động
kinh tế và xử lý hệ thống.
5. Kết cấu bài báo cáo
Kết cấu của bài báo cáo ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung báo cáo gồm có 3
phần chính:
ChươngI: Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại
Chương II: Tổng quan về NHNo&PTNT-Chi nhánh Thành Phố Lào Cai
Chương III: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại
NHNo&PTNT-Chi nhánh Thành Phố Lào Cai.

3

SV : Phạm Thế Đôn


thời hạn đó dựa vào quá trình luân chuyển vốn của đối tượng vay. Có nghĩa là thời
hạn cho vay phải phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay thì lúc đó
người vay mới có điều kiện để trả nợ. Nếu thời hạn cho vay nhỏ hơn chu kỳ luân
chuyển vốn của đối tượng vay thì khi đến hạn khách hàng chưa có nguồn để trả nợ
sẽ gây khó khăn cho khách hàng. Ngược lại, nếu thời hạn cho vay dài hơn chu kỳ
luân chuyển vốn sẽ tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng vốn không đúng mục đích
và không có nguồn thu để trả nợ, nhưng nếu có nguồn thu nhập khác ngoài nguồn
thu chính thì có thể thu nợ từ nguồn đó. Vì vậy, thời hạn cho vay có thể ngắn hơn
chu kỳ sản xuất kinh doanh. Việc xác định thời hạn cho vay không chỉ dựa vào chu

4

SV : Phạm Thế Đôn

Lớp TC 17B


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa : Tài chính ngân hàng

kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay mà còn phải dựa vào tính chất vốn của người
cho vay: nếu vốn của người cho vay ổn định thì thời gian cho vay có thể dài hơn và
ngược lại thì thời hạn cho vay phải ngắn hơn để đảm bảo khả năng thanh toán của
ngân hàng.
- Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị trên nguyên tắc phải
hoàn trả cả gốc và lãi . Đây là thuộc tính riêng có của tín dụng. Vì vốn cho vay của
ngân hàng là vốn huy động của những người tạm thời thừa nên sau một thời gian
nhất định, ngân hàng phải trả lại cho người ký thác. Mặt khác, ngân hàng cần phải
có nguồn để bù đắp chi phí hoạt động như khấu hao tài sản cố định, trả lương cán

Khoa : Tài chính ngân hàng

bản, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng (đường xá, cầu cống, trường học, bến bãi ,
sân bay…). Do có thời gian dài, quá trình thu hồi vốn lâu nên loại hình tín dụng này
thường có mức độ rủi ro khá cao, do khó lường hết được những biến động có thể
gặp phải.
b) Phân loại theo hình thức:
Gồm chiết khấu, cho vay, bảo lãnh, cho thuê:
Chiết khấu thương phiếu là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng
tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sở
hữu một thương phiếu chưa đến hạn. Thương phiếu được hình thành từ quá trình
mua bán chịu hàng hoá và dịch vụ giữa các khách hàng với nhau. Ngân hàng tuy
ứng tiền cho người bán, song thực chất là thay thế người mua trả tiền trước cho
người bán. Người bán (hay còn gọi là người thụ hưởng) có thể giữ thương phiếu
đến hạn để đòi tiền người mua (có thể là người phải trả) hoặc mang đến ngân hàng
để xin chiết khấu trước hạn. Đây được coi là một nghiệp vụ đơn giản, nó bắt nguồn
từ sự tín nhiệm giữa ngân hàng và những người ký tên trên thương phiếu. Thông
thường ngân hàng ký với khách hàng một hợp đồng chiết khấu do vậy độ an toàn
của thương phiếu là khá cao. Khi cần chiết khấu khách hàng chỉ cần gửi thương
phiếu lên ngân hàng xin chiết khấu, ngân hàng sẽ kiểm tra thương phiếu đó và thực
hiện chiết khấu. Ngoài ra, các ngân hàng thương mại có thể tái chiết khấu thương
phiếu tại ngân hàng Nhà nước để đáp ứng nhu cầu thanh khoản với chi phí thấp.
Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng
phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định.Nghiệp vụ này gồm có
các loại sau:
 Thấu chi, là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được
chi trội trên số dư tiền gửi của mình đến một giới hạn nhất định (gọi là hạn mức
thấu chi) và trong một khoảng thời gian nhất định.
 Cho vay trực tiếp từng lần, là hình thức cho vay khá phổ biến của ngân
hàng với khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để

Căn cứ vào tiêu thức này, người ta chia tín dụng thành 2 loại:
- Tín dụng vốn lưu động: Là loại tín dụng được sử dụng để hình thành vốn lưu động
của các tổ chức kinh tế, có nghĩa là cho vay bù đắp vốn lưu động thiếu hụt tạm thời.
Tín dụng vốn lưu động bao gồm: cho vay dự trữ hàng hóa, cho vay chi phí sản xuất,
cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới hình thức chiết khấu kỳ phiếu.
- Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng được sử dụng để hình thành tài sản cố định,
có nghĩa là đầu tư để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng
sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và công trình mới.
d/Mục đích sử dụng vốn
Căn cứ vào tiêu thức này, người ta chia tín dụng thành 2 loại:

7

SV : Phạm Thế Đôn

Lớp TC 17B


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa : Tài chính ngân hàng

- Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa: Là loại tín dụng cấp cho các nhà doanh
nghiệp, các chủ thể kinh doanh để tiến hành sản xuất và lưu thông hàng hóa.
- Tín dụng tiêu dùng: Là loại tín dụng cấp cho các cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng như: mua sắm nhà cửa, xe cộ, các loại hàng hóa bền chắc như tủ lạnh, điều
hòa, máy giặt …
e/Mức độ đảm bảo
Căn cứ vào tiêu thức này, người ta chia tín dụng thành các loại:
- Tín dụng có đảm bảo: Là hình thức cấp tín dụng có tài sản hoặc người bảo lãnh


ở nước ta hiện nay, nền kinh tế thị trường đang chuyển dịch theo hướng CNH HĐH, mở cửa thông thương với nhiều nước. Do vậy, nhu cầu đổi mới về công nghệ,
thiết bị để phù hợp với sự phát triển của xã hội càng cao thì nhu cầu về vốn lại càng
lớn, đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải làm tốt công tác huy động vốn và xây
dựng được những chiến lược kinh doanh hợp lý, phù hợp với xu thế phát triển của
các thành phần kinh tế, có như vậy mới đẩy mạnh đầu tư phát triển.
b/Tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc tổ chức điều hòa, lưu
thông tiền tệ
Hoạt động tín dụng ngân hàng gắn liền với thanh toán không dùng tiền mặt, góp
phần giảm bớt lượng tiền mặt trong lưu thông mà không có sự quản lý của Nhà
nước. Mặt khác, ngân hàng với chức năng trung gian tài chính đã huy động và tập
trung lượng vốn nhàn rỗi trong xã hội, nghĩa là đã rút ra khỏi lưu thông một bộ phận
tiền tệ không cần thiết, góp phần giảm lạm phát.
Với chức năng tạo tiền, các ngân hàng thương mại có khả năng mở rộng tiền gửi
làm tăng khối lượng tiền trong lưu thông. Vì vậy, Ngân hàng trung ương phải sử
dụng các công cụ, chính sách tiền tệ để thực hiện việc điều tiết hoạt động tín dụng
của các ngân hàng thương mại như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, hạn mức tín dụng …
c\Tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát
triển và các ngành kinh tế mũi nhọn
Hoạt động tín dụng ngân hàng mang lại lợi nhuận cao, song cũng chứa đựng nhiều
rủi ro. Một trong những biện pháp giảm thiểu rủi ro là ngân hàng chỉ thực hiện cấp
tín dụng vào một số đơn vị làm ăn có hiệu quả và có triển vọng trong sản xuất kinh
doanh.
Đối với nước ta hiện nay, một bộ phận lớn dân cư sống băng nghề nông, vì vậy,
trong giai đoạn trước mắt, hoạt động tín dụng cần tập trung vào phát triển nông
nghiệp để giải quyết những nhu cầu tối thiểu của xã hội, đồng thời tạo điều kiện
phát triển các ngành kinh tế khác.

9



1.2. Chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm
Mục đích của các ngân hàng thương mại nói chung là phải đảm bảo thoả mãn
các yêu cầu của khách hàng cả về chất lượng , giá cả , từ đó nâng cao thị phần cũng
như lượng khách hàng. Một vấn đề mà tất cả các ngân hàng thương mại luôn phải
quan tâm đó là từng bước nâng cao chất lượng tín dụng.

10

SV : Phạm Thế Đôn

Lớp TC 17B


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa : Tài chính ngân hàng

Chất lượng tín dụng về cơ bản đó là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng, phù
hợp với luật pháp hiện hành, sự phát triển kinh tế, xã hội và sự đảm bảo sự tồn tại,
phát triển của ngân hàng. Thực tế chất lượng tín dụng là một phạm trù rất rộng gồm
nhiều nội dung, trong đó có nội dung quan trọng nhất đó là thương số giữa tỷ lệ nợ
quá hạn tổng dư nợ, khi đó nếu thương số này càng thấp thì chất lượng tín dụng
được coi là tốt và ngược lại.
Vâỵ chất lượng tín dụng được hiểu theo đúng nghĩa là ngân hàng đáp ứng
được nhu cầu vay vốn của khách hàng, đồng thời khách hàng vay vốn phải hoàn trả
đúng hạn đầy đủ cả gốc và lãi cho ngân hàng. Đối với khách hàng vay vốn chất
lượng tín dụng thể hiện vốn vay được sử dụng có hiệu quả, trang trải được các chi
phí hoạt động và đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.

1.2.2.Các chỉ tiêu đánh giá chất kượng tín dụng của ngân hàng thương
mại.
Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu chủ yếu và tổng hợp, có vai trò quan trọng
trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của một ngân hàng. Một hệ thống chỉ tiêu
tốt và hoàn chỉnh sẽ giúp ngân hàng đánh giá được chất lượng tín dụng cũng như
đánh giá được tình hình hoạt động tín dụng chung của ngân hàng. Các ngân hàng
khác nhau sẽ có các cách đánh giá khác nhau nhưng về cơ bản phải đảm bảo một số
tiêu chí sau:
a.)Doanh số cho vay.
Đây là một chỉ tiêu phản ánh nên quy mô cấp tín dụng của ngân hàng đối với
nền kinh tế và cũng là chỉ tiêu có thể phản ánh một cách chính xác về hoạt động cho
vay của ngân hàng trong cả một thời kỳ. Nếu tốc độ tăng doanh số cho vay qua các
năm là cao điều này chứng tỏ hoạt động tín dụng của ngân hàng đang được mở rộng
và nó cũng nói lên rằng chất lượng tín dụng của ngân hàng cũng đang được nâng
lên . Qua đó cho ta thấy khả năng phát triển tín dụng của ngân hàng qua các năm.
Tuy nhiên, khi xem xét chỉ tiêu này, chúng ta cần đặt nó trong mối quan hệ chặt chẽ
với những chỉ tiêu khác, bởi nếu chỉ nhìn và doanh số cho vay và tốc độ tăng doanh
số cho vay qua các thời kỳ thì chưa thể phản ánh hết được thực chất về chất lượng
tín dụng của ngân hàng.
b.) Doanh số thu nợ tín dụng.
Phản ánh khối lượng nợ tín dụng mà ngân hàng đã thu hồi được từ khách hàng
vay vốn trong một thời kì nhất định.
c.) Dư nợ.
Phản ánh lượng vốn mà cá nhân, tổ chức vay còn nợ ngân hang tại một thời
điểm cụ thể, được tính bằng số dư cuối kỳ trên bản cân đối kế toán.
Tổng dư nợ cho vay cao và tăng trưởng phản ánh một phần chất lượng tín
dụng tốt và ngược lại tổng dư nợ tín dụng thấp, ngân hang không có khả năng mở
rộng hoạt động cho vay hay mở rộng thị phần,khả năng tiếp thị của ngân hang kém.
Tuy nhiên tổng dư nợ cao chưa hẳn đã phản ánh chất lượng của ngân hang cao vì


vốnvay
vayHH
Hiệu

Đây chỉ là chỉ tiêu phản ánh quy mô, khả năng tận dụng nguồn vốn trong cho
vay của các ngân hàng thương mại, nó cho ta biết trong một đồng vốn huy dộng
được thì bao nhiêu đồng được sử dụng trong cho vay. Hiệu suất sử dụng càng cao
thì hoạt động kinh doanh càng có hiệu quả và ngược lại.
e.)Vòng quay vốn tín dụng.
Chỉ tiêu này dùng để đánh giá khả năng tổ chức quản lý vốn tín dụng và chất
lượng cho vay trong việc đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng.
=

13

SV : Phạm Thế Đôn

Lớp TC 17B


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa : Tài chính ngân hàng

Vòng quay vốn tín dụng
Tổng doanh số thu nợ
Mức dư nợ bình quân

Hệ số này phản ánh tốc độ luân chuyển vốn của ngân hàng. Vòng quay vốn tín dụng
càng cao chứng tỏ nguồn vốn ngân hàng phát ra đã luân chuyển nhanh, tham gia

năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại càng được khẳng định và nâng cao.
Vì nguồn thu từ hoạt động tín dụng là nguồn thu chủ yếu để ngân hàng thương mại
tồn tại và phát triển
Mức sinh lời từ hoạt động cho vay
=
Tổng thu lãi cho vay – Chi phí hoạt động cho vay
Tổng dư nợ bình quân
g.) Mức sinh lời từ hoạt động cho vay.

Chỉ tiêu này càng cao phản ánh ngân hàng đã có những cách thức hợp lý để có hiệu
quả cao từ hoạt động cho vay, mà thu nhập của ngân hàng hiện nay chủ yếu từ hoạt
động cho vay. Vì vậy nâng cao chất lượng cho vay tạo điều kiện giúp ngân hàng
phát triển.
h.) Nợ quá hạn.
Nợ quá hạn là chỉ tiêu biểu thị quan hệ tín dụng ngân hàng không hoàn hảo
khi doanh nghiệp vay vốn không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng
thương mại đúng hạn và số tiền đó cũng không được ngân hàng thương mại gia hạn
nợ. Gia tăng nợ quá hạn là điều mà các ngân hàng thương mại không mong muốn vì
nợ quá hạn phát sinh sẽ làm gia tăng chi phí của ngân hàng như chi phí đòi nợ, chi
phí sử lý tài sản bảo đảm… Chỉ tiêu này thường được các ngân hàng xác định vào
một thời điểm nhất định thường là vào cuối tháng, cuối quý hoặc cuối năm.

15

SV : Phạm Thế Đôn

Lớp TC 17B


Khóa luận tốt nghiệp


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa : Tài chính ngân hàng

Tỷ lệ đầu tư rủi ro
=
Tổng dư nợ món vay có phát sinh nợ quá hạn
Tổng dư nợ

Chỉ tiêu tỷ lệ đầu tư rủi ro sẽ giúp các ngân hàng thương mại quản lý rủi ro tốt hơn
đối với các khoản cho vay vì chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn chỉ xem xét đến giá trị khoản
nợ quá hạn trong khi đó chỉ tiêu tỷ lệ đầu tư rủi ro cho ta biết các khoản vay mà
phát sinh nợ quá hạn. Như vậy các ngân hàng thương mại sẽ có chính sách dự
phòng hợp lý cho các khoản vay có khả năng rủi ro cao, tránh được tình trạng trong
cùng một lúc con số nợ quá hạn quá lớn và gây ra giảm tài sản của ngân hàng
thương mại.
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của ngân hàng
thương mại:
1.2.3.1. Các nhân tố chủ quan:
Đó là các nhân tố thuộc về ngân hàng
Ngân hàng là chủ thể đi vay để cho vay lại đối với nền kinh tế. Quy mô và
phạm vi hoạt động của ngân hàng tùy thuộc vào nguồn vốn tự có của mình, vào khả
năng huy động vốn, uy tín và trình độ quản lý, trình độ kỹ thuật nghiệp vụ… Cụ
thể:
- Chính sách tín dụng:

17

SV : Phạm Thế Đôn

Thẩm định dự án là giai đoạn khởi đầu có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm
bảo an toàn vốn vay. Ngân hàng sẽ tiến hành thẩm đinh về tư cách pháp nhân hoặc
thể nhân, đánh giá khả năng tính toán sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất hoặc khả
năng điều hành của chủ doanh nghiệp, tình hình tài chính và hiệu quả kinh tế của dự
án đầu tư, giá trị tài sản đảm bảo tiền vay.

18

SV : Phạm Thế Đôn

Lớp TC 17B


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa : Tài chính ngân hàng

Trên cơ sở thẩm định kỹ lưỡng đầy đủ các yếu tố trên, ngân hàng sẽ quyết
định cho vay hay không, nếu cho vay thì mức cho vay là bao nhiêu, điều này phụ
thuộc vào mức vốn của ngân hàng có tại thời điểm vay và giá trị tài sản đảm
bảo.Khi ngân hàng quyết định cấp tín dụng cho khách hàng là lúc cán bộ tín dụng
phải theo dõi, giám sát chặt chẽ quá trình sử dụng tiền vay của khách hàng, để qua
đó, ngân hàng phát hiện và xử lý kịp thời những khoản nợ có biểu hiện không lành
mạnh, sử dụng vốn vay sai mục đích.
Thu nợ là khâu cuối cùng đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vay cũng như chất
lượng tín dụng. Nếu một khoản vay của ngân hàng không thu được nợ đến hạn kịp
thời, đó là dấu hiệu phát triển không bình thường của hoạt động tín dụng.
Chất lượng tín dụng còn phụ thuộc vào việc có chấp hành đúng quy trình tín
dụng hay không, và việc thực hiện các khâu trong quy trình tín dụng cũng như sự
phối hợp nhịp nhàng giữa các giai đoạn như thế nào. Một khoản tín dụng không

hở trong quy định chỉ đạo hoạt động tín dụng và bổ sung kịp thời để xóa bỏ những
khe hở đó.
Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát cả về số lượng, chất lượng mới đủ
điều kiện để thực hiện tốt các hoạt động kinh doanh của mình. Ngân hàng với
phương châm “tự kiểm tra, tự sửa sai là tự cứu lấy mình”, cho nên thực hiện tốt
công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ sẽ góp phần làm tăng chất lượng và hiệu quả các
hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng.
- Thông tin tín dụng : Thông tin tín dụng là yếu tố không thể thiếu và rất
quan trọng trong quản lý tíndụng của ngân hàng. Đây là cơ sở để cán bộ tín dụng
thực hiện phân tích tình hình tài chính, uy tín, tính khả thi của phương án, dự án mà
doanh nghiệp xin vay vốn để đưa ra lựa chọn tín dụng tốt nhất. Đồng thời có biện
pháp theo dõi và sử lý nợ sao cho có hiệu quả nhất.
- Trang thiết bị phục vụ cho hoạt động tín dụng: Trang thiết bị góp phần
không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng. Nó là công cụ,
phương tiện thực hiện tổ chức quản lý ngân hàng, kiểm tra quá trình sử dụng vốn
vay và thực hiện nghiệp vụ giao dịch với khách hàng. Đặc biệt với sự phát triển
mạnh mẽ của công nghệ thông tin hiện nay, các trang thiết bị tin học đã giúp cho
ngân hàng cập nhật được thông tin nhanh chóng, kịp thời, chính xác. Trên cơ sở đó
đưa ra quyết định tín dụng đúng đắn, không bỏ lỡ thời cơ trong kinh doanh, giúp
cho quá trình quản lý tiền vay và thanh toán được thuận tiện, nhanh chóng và chính
xác.
1.2.3.2. Các nhân tố khách quan:
a.) Nhân tố thuộc về doanh nghiệp, khách hàng
- Vốn tự có của doanh nghiệp: Vốn tự có thể hiện khả năng tự chủ về tài chính
của doanh nghiệp, khả năng thanh toán và khả năng chống đỡ rủi ro của doanh

20

SV : Phạm Thế Đôn


dụng phụ thuộc vào việc quản lý chất lượng tín dụng của các ngân hàng.
Hiện nay, với chủ trương mở rộng quan hệ quốc tế trên nhiều lĩnh vực đã đem
lại cho nước ta có nhiều thuận lợi, trong đó có sự phát triển về lĩnh vực kinh tế.
Song việc đầu tư nước ngoài vào trong nước một cách ồ ạt sẽ làm mất cân bằng
cung cầu tiền tệ, gây ra lạm phát ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng tín dụng. Mặt

21

SV : Phạm Thế Đôn

Lớp TC 17B


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa : Tài chính ngân hàng

khác, chu kỳ phát triển kinh tế cũng tác động không nhỏ tới hoạt động tín dụng.
Thời kỳ nền kinh tế hưng thịnh, các doanh nghiệp đua nhau mở rộng sản xuất về
quy mô và chủng loại, vì vậy, nhu cầu về vốn lớn, rủi ro thị trường cao, nếu công
tác quản lý tín dụng ở các ngân hàng thương mại không tốt sẽ dẫn đến mở tín dụng
quá giới hạn cho phép và xảy ra tốc độ lạm phát cao, các ngân hàng thương mại sẽ
bị chịu thiệt thòi lớn do sự mất giá của đồng tiền, chất lượng tín dụng bị giảm sút.
Ngược lại, khi nền kinh tế suy giảm, hoạt động sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp bị ngừng trệ, nhu cầu đầu tư giảm, vốn tín dụng bị ứ đọng, khả năng
thu hồi các khoản vốn vay ngân hàng gặp nhiều khó khăn và như vậy, chất lượng tín
dụng không được đảm bảo.
Ngoài ra, chính sách kinh tế của nhà nước điều tiết để ưu tiên hay hạn chế sự
phát triển của một ngành, một lĩnh vực nào đó nhằm đảm bảo sự cân đối trong nền
kinh tế cũng ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng.

d). Môi trường pháp lý
Hoạt động của nền kinh tế nói chung và của ngành ngân hàng nói riêng, muốn
kinh doanh có hiệu quả, tồn tại và phát triển được cần phải có một hệ thống pháp
luật đồng bộ, thống nhất hỗ trợ tạo ra một hành lang pháp lý vững chắc, giúp cho
mọi hoạt động kinh doanh được thuận lợi và có hiệu quả. Trong điều kiện nước ta
hiện nay, hệ thống pháp luật chưa đồng bộ đã phần nào gây khó khăn cho hoạt
động kinh doanh ngân hàng, đặc biệt là trong lĩnh vực tín dụng.
e). Môi trường tự nhiên
Mặc dù mối quan hệ trong vay vốn giữa ngân hàng thương mại và doanh
nghiệp được thiết lập trên cơ sở lòng tin, sự ưu đãi và tuân thủ nghiêm túc của các
bên thì chất lượng cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp cũng có
thể giảm sút do những rủi ro bất khả kháng. Đó là rủi ro xảy ra do các hiện tượng tự
nhiên như hạn hán, lũ lụt, động đất, hỏa hoạn hay các thay đổi tầm vĩ mô như chính
sách kinh tế, hàng rào thuế quan… Những thay đổi này thường xuyên xảy ra, tác
động liên tục tới người vay Môi trường tự nhiên không thuận lợi là một trong những
nguyên nhân làm giảm chất lượng và hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp, ảnh hưởng
tới khả năng trả nợ của doanh nghiệp vay vốn, từ đó làm giảm chất lượng cho vay
của ngân hàng đối với doanh nghiệp.

23

SV : Phạm Thế Đôn

Lớp TC 17B


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa : Tài chính ngân hàng



SV : Phạm Thế Đôn

Lớp TC 17B


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa : Tài chính ngân hàng

bộ, với phương châm đưa đồng vốn Ngân hàng đến tay người dân nhanh chóng, kịp
thời.
Với 15 năm hoạt động NHNo&PTNT Thành Phố Lào Cai đã đạt được những
kết quả toàn diện trên nhiều mặt, nguồn vốn tăng trưởng và ổn định đáp ứng đầy đủ,
kịp thời nhu cầu vốn cho các thành phần kinh tế, NHNo&PTNT Thành Phố Lào Cai
đã xác định khách hàng chiến lược của mình là hộ sản xuất Nông - Lâm nghiệp,
kinh doanh cá thể và các Doanh nghiệp tư nhân và các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài. Hiện nay, cũng như bất kỳ một Ngân hàng thương mại nào,
NHNo&PTNT Thành Phố Lào Cai đặc biệt quan tâm đến 2 nghiệp vụ: Huy
động vốn và sử dụng vốn.
Được sự quan tâm giúp đỡ tạo điều kiện của Ngân hàng cấp trên và cấp uỷ
chính quyền địa phương, NHNo&PTNT Thành Phố Lào Cai đã huy động được một
lượng vốn khá lớn từng bước đáp ứng nhu cầu của các thành phần kinh tế, mở rộng
được thị trường, thu hút được nhiều khách hàng mới. Qui mô nguồn vốn tăng
trưởng năm sau cao hơn năm trước. Chi nhánh đã nâng cao phong cách phục vụ,
thực hiện nhiều hình thức huy động vốn khác nhau nên đã thu hút được một
khối lượng nguồn vốn đáng kể. Ngoài loại hình huy động truyền thống như tiết
kiệm có kỳ hạn, tiết kiệm không kỳ hạn, tiền gửi các tổ chức kinh tế, dân cư.
Ngân hàng còn mở các đợt huy động tiền gửi bằng phương pháp phát hành trái
phiếu, kỳ phiếu, tiết kiệm dự thưởng... Đồng thời để hấp dẫn người gửi tiền và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status