Tiểu luận môn ngân hàng quốc tế thực trạng quản lý nợ nước ngoài ở việt nam - Pdf 34

ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
Khoa ngân hàng

Ngân hàng quốc tế

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NỢ NƯỚC
NGOÀI Ở VIỆT NAM
Giảng viên:
PGS.TS.Trương Quang Th
Thành viên nhóm:
Lê Tâm Thanh
Trương Nhân Nghĩa
Lê Thị Khá
Lê Mi Na
Đào Mỹ Loan
Nguyễn Thị Ngọc Thủy
Trần Thị Kim Xuyến


TP Hồ Chí Minh, tháng 03 năm 2016


LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, khi xu thế hội nhập đang trở thành xu thế chung và tất yếu đối với
tất cả các quốc gia. Và không một quốc gia nào muốn phát triển lại có thể đứng
ngoài cuộc của quá trình vận chuyển các luồng vốn quốc tế. Đặc biệt với các
nước kém phát triển thì hội nhập sẽ tạo cơ hội thuận lợi cho các nước, có thể tiếp
cận với công nghệ mới, tận dụng các nguồn vốn từ bên ngoài, nhưng đồng thời
cũng đặt ra cho các nước này những thách thức, khó khăn. Sử dụng vốn vay nước
ngoài hợp lý sẽ đem lại những hiệu quả hết sức to lớn, là sự chọn lựa tốt để rút
ngắn thời gian tích luỹ vốn, nhanh chóng phát triển kinh tế đất nước. Tuy nhiên,

trú đối với người không cư trú”
- Theo quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài (Ban hành kèm theo Nghị định
số 134/2005/NĐ-CPngày 01 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ) thì vaynước
ngoài được định nghĩa là các khoản vay do người cư trú ở một nước vay của
người không cư trú.
Hai định nghĩa trên là tương đồng về nghĩa. Trong phạm vi bài viết, nhóm chúng
tôi sử dụng định nghĩa của IMF tức là sử dụng cụm từ “nợ nước ngoài” trong bài
viết.
1.1.2. Phân loại nợ nước ngoài
Tuỳ theo mục đích, cách thức quản lý cũng như cách thức sử dụng, mỗi nước sẽ
phân loại nợ nước ngoài theo nhiều tiêu thức khác nhau, nhưng chủ yếu vẫn dựa
vào 4 tiêu thức cơ bản : thời hạn vay nợ, nguồn vay, chủ thể cho vay, tính chất
cho vay.
- Căn cứ vào thời hạn vay, nợ nước ngoài bao gồm : nợ ngắn hạn,nợ trung hạn
và nợ dài hạn.
+Nợ ngắn hạn: thời hạn vay nợ từ 1 năm trở xuống
+ Nợ trung hạn: thời hạn vay nợ thường từ 1 năm đến 5 năm
+ Nợ dài hạn: thời hạn vay nợ từ 5 năm trở lên
5


- Căn cứ vào nguồn vay, nợ nước ngoài bao gồm : nợ song phương và nợ đa
phương.
- Căn cứ vào chủ thể cho vay, nợ nước ngoài có thể phân thành : nợ Chính phủ
và nợ tư nhân.
+Nợ chính phủ: bao gồm các khoản nợ của nước ngoài của Chính Phủ và các
khoản nợ được Chính Phủ bảo lãnh
+ Nợ tư nhân: là các khoản vay do các doanh nghiệp,tổ chức kinh tế trực tiếp
vay của người cho vay nước ngoài theo phương thức tự vay và tự chịu trách
nhiệm về các khoản nợ đó.

dụng nợ nước ngoài.
- Vay nợ nước ngoài bù đắp cán cân thanh toán quốc tế: cán cân thanh toán quốc
tế có thể bị thâm hụt tạm thời và các khoản vay nợ nước ngoài thường được sử
dụng để bù đắp những thân hụt đó trong ngắn hạn.
1.1.3.2 Ảnh hưởng tiêu cực
Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực thì nợ nước ngoài cũng có không ít những
ảnh hưởng tiêu cực tới nền kinh tế.Đứng trên giác độ là nước đi vay thì nợ nước
ngoài có những ảnh hưởng tiêu cực như:
- Nợ nước ngoài đi kèm với các điều kiện,ràng buộc về mặt kinh tế cũng như
chính trị:đặc biệt là các khoản vay ODA do Chính phủ các nước phát triển cung
cấp cho các nước kém hơn thường đi kèm với các điều kiện ràng buộc về kinh tế
hay chính trị,quân sự..Một số ràng buộc về mặt kinh tế như: phải mua thiết bị
công nghệ hay thuê chuyên gia từ những quốc gia cung cấp viện trợ với mức giá
không hợp lí...từ đó tăng khả năng làm chủ của nước phát triển đối với các nước
đi vay.
- Nợ nước ngoài là gánh nặng cho người dân trong tương lai: các khoản vay
nước ngoài đáp ứng được nhu cầu về vốn nhằm phục vụ cho các hoạt động sản
7


xuất kinh doanh của các nước đi vay cũng như mua sắm trang thiết bị...tuy nhiên
nếu như không có chính sách,chiến lược sử dụng hợp lí thì nền kinh tế các nước
này sẽ trở nên tụt hậu,khoảng cách với các nước phát triển ngày càng xa hơn,trở
thành bãi rác công nghệ của các nước phát triển do phải nhập những công nghệ
lạc hậu làm kìm hãm sự phát triển của đất nước,trong khi các công nghệ tiên tiến
lại không phù hợp với năng lực sản xuất của quốc gia.Do đó dẫn đến khả năng trả
nợ trong tương lai là không thể và sẽ trở thành gánh nặng hoàn trả nợ cho người
dân.
Còn nếu đứng trên giác độ là nước cho vay thì sẽ chịu một số tác động:
Rủi ro thanh khoản: các nước cho vay cũng sẽ gặp phải những rủi ro về thanh

tiêu giám sát nợ nước ngoài bao gồm:
- Nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP: phản ánh tương quan giá trị dư nợ
nước ngoài của quốc gia so với thu nhập của toàn bộ nền kinh tế và được tính tại
thời điểm 31/12 hàng năm.
- Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài (gốc, lãi, phí) của quốc gia hàng năm so với kim
ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ:phản ánh khả năng hoàn trả nợ nước ngoài
từ nguồn thu xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ, qua đó phản ánh tính thanh khoản
của nợ nước ngoài và được tính tại thời điểm 31/12 hàng năm.
- Dự trữ ngoại hối nhà nước so với nợ nước ngoài ngắn hạn:phản ánh khả năng
sử dụng dự trữ ngoại hối nhà nước để trả các khoản nợ nước ngoài ngắn hạn và
được tính tại thời điểm 31/12 hàng năm.
1.2.4. Mục tiêu quản lí nợ nước ngoài
1.2.4.1 Mục tiêu giám sát nợ nước ngoài của quốc gia
9


- Đảm bảo mục tiêu an toàn nợ, duy trì một danh mục nợ hợp lý trong giới hạn an
toàn về nợ, đảm bảo sự bền vững nợ về mặt dài hạn, an ninh tài chính và tiền tệ
quốc gia.
- Xác định sớm các rủi ro tiềm ẩn đối với danh mục nợ và những tồn tại liên quan
trong công tác quản lý nợ trong mối tương quan với môi trường kinh tế trong và
ngoài nước.
- Làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách, mục tiêu, định hướng huy động,
sử dụng vốn vay và quản lý nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia trong từng
giai đoạn, phù hợp với các định hướng, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của
Nhà nước.
- Tăng cường minh bạch tài chính, tăng cường quản lý các nghĩa vụ dự phòng.
- Nâng cao hiệu quả công tác phân tích, dự báo tài chính, góp phần nâng cao
hiệu quả quản lý và hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô trong từng thời kỳ.
1.2.4.2 Nguyên tắc quản lí nợ nước ngoài

nước đi vay..
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ VIỆC QUẢN LÝ NỢ NƯỚC NGOÀI
Ở VIỆT NAM
2.1. Tình hình nợ nước ngoài của Việt Nam

11


2.1.1.

Các phương thức nợ chủ yếu của Việt Nam

Ngoài yếu tố tiết kiệm trong nước, các quốc gia đang phát triển xem vay nợ
để phát triển là con đường mà các nước này buộc phải đi khi cần một nguồn tiền
vốn tư bản lớn để mở rộng nền sản xuất, xây dựng và tổ chức các ngành quan
trọng làm đòn bẩy phát triển cho cả nền kinh tế.
Nợ nước ngoài ở nước ta chủ yếu xuất phát từ ba nguồn chủ yếu sau đây: (số
liệu cuối năm 2009)
- Nợ ODA (74,67% )
- Vay thương mại qua các hợp đồng song phương và đa phương (19,92%)
- Phát hành trái phiếu quốc tế (5,41%)
2.1.1.1 Nợ ODA
Trong các khoản nợ nước ngoài, nợ ODA là khoản nợ vay nước ngoài chủ yếu
của Chính phủ trong suốt một thời gian dài.
Từ sau mốc 1993 thì trong thời kỳ 1993 – 2010, tổng giá trị ODA cam kếtđạt
64,32288 tỷ USD, tổng vốn ODA ký kết đạt 46,31229 tỷ USD (72% tổng lượng
ODA cam kết), tổng vốn ODA giải ngân đạt 29,732 tỷ USD (64,1% tổng lượng
ODA ký kết). Lượng vốn ODA cam kết năm sau đều cao hơn năm trước, thể
hiện sự tin tưởng của các nhà tài trợ vào khả năng phát triển (và trả nợ)
của Việt Nam. Số liệu Bộ Kế hoạch - Đầu tư (KH-ĐT) cho thấy trong 5

thương mại thường có giá khá cao và chứa đựng nhiều rủi ro. Việc vay thương
mại của Chính phủ phải được cân nhắc hết sức thận trọng và chỉ quyết định
vay khi không còn cách nào khác. Loại hình vay này của nước ta chiếm tỉ trọng
khoảng 9,2 % tổng dư nợ nước ngoài (2009)
- Bảo lãnh Chính phủ đối với vay thương mại nước ngoài của các doanh nghiệp
và tổ chức tín dụng:
Bảo lãnh Chính phủ đối với các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khi
vay nước ngoài được thực hiện nhằm mục đích hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp
phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, trong khi nguồn lực có giới hạn. Các
doanh nghiệp vay nợ có bảo lãnh gồm các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp từ nước
ngoài (doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI) và các doanh
nghiệp nhà nước có quy mô lớn trong các ngành bưu chính viễn thông, dầu khí,
điện lực, xi măng, hàng không và dệt. Tính đến hết năm 2006, dư nợ được chính
phủ bảo lãnh khoảng 1031,18 triệu USD và đến hết năm 2010 là 4624,75 triệu
USD.
Trong cơ cấu nợ vay có bảo lãnh, nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng rất nhỏ
(khoảng 4,8%), chủ yếu là nợ trung và dài hạn. Nhìn chung nợ có bảo lãnh đáp
ứng được yêu cầu cho quá trình phát triển trung và dài hạn.

14


Năm 2010, tỷ lệ nợ Chính phủ bảo lãnh hiện chiếm 7% so với GDP, trong đó có
5% là vay trong nước, vay nước ngoài chiếm 2%.Tuy nhiên, nếu xét về cơ cấu dư
nợ với số tuyệt đối thì vay nước ngoài đang có xu hướng tăng, trong khi vay
trong nước đang có xu hướng giảm.
2.1.1.3. Phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế
Việc phát hành trái phiếu quốc tế có thể thực hiện qua 3 hình thức: Chính phủ
Việt Nam phát hành về cho vay lại, Chính phủ bảo lãnh cho doanh nghiệp phát
hành trái phiếu doanh nghiệp, doanh nghiệp tự trực tiếp phát hành.

hành khoảng 500 – 1 tỷ USD trình duyệt trong năm 2011. Tập đoàn Điện lực Việt
Nam (EVN), EVN có kế hoạch phát hành 5.000 tỷ đồng trái phiếu trong nước và 1
tỷ USD trái phiếu quốc tế năm 2011.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam còn khá nhỏ và chưa nhận được sự tín
nhiệm tốt trên thị trường TPQT, cho nên yếu tố quan trọng giúp các doanh nghiệp
VN có thể vay vốn thông qua phát hành TPQT là lãi suất cao.
2.2.1. Tình hình nợ nước ngoài của Việt Nam hiện nay
Nợ nước ngoài ở nước ta theo công bố từ 7 bản tin nợ nước ngoài của Bộ tài
chính thì càng ngày càng tăng dần về số lượng vay, trong giai đoạn 2006-2010,
tổng dư nợ của nước ta đã tăng từ 18,4 tỷ USD(2006) lên 43,8 tỷ USD(2010).
Nợ nước ngoài của Việt Nam trong năm 2010 là xấp xỉ 44 tỷ USD ứng với
42,2%GDP. Con số nợ nước ngoài đã tăng cả về tuyệt đối lẫn tương đối so với
năm 2009, khi tổng dư nợ nước ngoài là 27,92 tỷ USD, chiếm 39% GDP. Và con
số này cũng khác xa con số dự kiến trong Quyết định số: 527/QĐ-TTg về Tổng
số dư nợ cuối kỳ là 35,9 tỷ USD tương ứng 30,5%GDP. Hơn thế nữa mức nợ
cuối kỳ năm 2010 đã đạt 42,2%GDP cũng chỉ cách con số giới hạn nợ ở mức an
toàn so với GDP là 45% một con số tương đối nhỏ.
16


Hình 2.1. Tổng dư nợ nước ngoài và tổng dư nợ nước ngoài so với GDP của
Việt Nam thời kì 2006-2010.
Trong đó nợ nước ngoài của Chính phủ và do Chính phủ bảo lãnh luôn chiếm tỷ
trọng lớn và trong giai đoạn 2004-2010 thì luôn lớn hơn 73% và chưa vượt mức
87% trong tổng dư nợ. Đặc biệt, nợ nước ngoài khu vực tư nhân có xu hướng
chiếm tỷ trọng ngày càng cao hơn, trong thời kì 2004-2007 luôn có tỷ trọng nhỏ
hơn 20%, nhưng có xu hướng ngày càng tăng đỉnh điểm là năm 2010 chiếm
26,7% trong tổng dư nợ. Mặc dù, nợ nước ngoài ở khu vực công tuy không tăng
về giá trị tương đối so với GDP, nhưng về giá trị tuyệt đối thì đều tăng mạnh qua
các năm.

2009.
2006

2007

2008

2009

2010

TỔNG CỘNG

14,610.15

17,270.60

18,916.05

23,942.51

27,857.76

LÃI SUẤT CỐ

14,362.51

16,839.67

18,294.36


1,521.78

1,492.99

1,557.09

1,502.96

2,152.22

6% - 10%

1,157.42

1,130.07

925.49

919.04

1,890.69

LÃI SUẤT

247.64

430.93

621.68

Hệ số

Nợ / GNP Nợ

/

Xuất Dịch vụ nợ/ Chi phí trả lãi /

khẩu

Xuất khẩu

Xuất khẩu

Nợ quá nhiều

> 50%

> 275%

>30%

>20%

Nợ vừa phải

30-50%

165-275%


hướng dẫn việc vay và trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp… cụ thể:
+ Nghị định 58/CP (30/8/1993 ): lần đầu tiên các khái niệm liên quan đến vay
nợ nước ngoài được đề cập và làm rõ trong một văn bản pháp quy của Nhà nước.
Nghị định đã đánh dấu bước chuyển về chất trong nguyên tắc vay vốn nước ngoài
ở nước ta. Đó là việc chuyển từ phương thức vay theo kế khoạch phân bổ của
Nhà nước với sự tách biệt trong trách nhiệm giữa người đi vay với người sử
dụng, giữa bên sử dụng với bên trả nợ sang nguyên tắc tự vay, tự trả.
+ Các Nghị định 20/CP, 40/CP, 42/CP, 43/CP(1994) quy định một cách cụ thể
trách nhiệm của từng cơ quan quản lý Nhà nước trong vấn đề quản lý nợ, qua đó,
phát huy tính chuyên môn hoá cao trong hoạt động quản lý đối với từng bộ phận:
Thủ tướng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài chính,
NHNN, Bộ Kế hoạch và Đầu tư …
+ Ra đời của Quy chế “ Bảo lãnh và tái bảo hành vay vốn nước ngoài ” ban
hành kèm theo Quyết định số 263-QĐ/NH14(21-2-1994) của thống đốc NHNN,
Quyết định số 263-QĐ/NH14(19-9-1995),Thông tư 17-TC/TCĐN(5-3-1994) của
22


Bộ Tài Chính “ Hướng dẫn việc quản lý vốn vay nước ngoài của Chính Phủ ”,
Thông tư 07-TT-NH7(23-3-1994) của NHNN “ Hướng đẫn việc quản lý vay và
trả NNN của doanh nghiệp ”, Thông tư liên bộ số 09-TC/NH(30-5-1994)của
NHNN và Bộ Tài Chính “ Về việc quản lý và sử dụng vốn vay của các TCTD
quốc tế ”. Được sửa đổi trong Quyết định số 161-QĐ/NH (8-6-1996) của Thống
đốc NHNN.
+ Quyết định số 160-QĐ-NH7
+ Nghị định số 90/1998/NĐ- CP thay thế Nghị định 58- CP và thông tư
07/TT-NH7 (26-3-1994)cũng được thay thế bằng Thông tư 03/1999 –TTNHNN7 (12-8-1999), đồng thời ban hành bổ sung hai quyết định : 308/1999/QĐNHNN7 quy định các điều kiện vay nước ngoài, 26/2000/QĐ-NHNN7 quy định
việc xây dựng và điều hành kế hoạch tổng hạn mức vay thương mại hàng năm
các doanh nghiệp.
+ Tháng 4 năm 2009 quyết định số 527/QĐ-TTgvề việc phê duyệt “Chương

Chỉ tiêu
Tổng số dư nợ nước ngoài so với
GDP(%)

2006

2007

2008

2009

2010

31.4

32.5

29.8

39

42.2

Nợ nước ngoài khu vực công so GDP (%)
Nghĩa vụ trả nợ trung và dài hạn so với
xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ (%)

25.7



3.7

6380

10177

2808

290

187
24


Nghĩa vụ nợ dự phòng của Chính phủ so thu
ngân sách nhà nước (%)

4.5

4.6

4.7

4.3

5.8

Bảng 2.4: Dư nợ, rút vốn và trả nợ nước ngoài của Chính Phủ và được Chính phủ bảo lãnh
giai đoạn từ 2006- 2010


1,031.18

1,981.95

2,900.46

3,986.16

4,642.75

764.5
601.53

885.9
701.4

1,103.88
820.78

1,290.93
887.23

1,672.32
1,131.00

162.97

184.5


17,075.50
30,969.2

6

8,138.13

9

1

Nghĩa vụ trả
nợ
Tổng nợ trả

9

=> Nhận xét:
- Nghĩa vụ trả nợ của chính phủ và chính phủ bảo lãnh được thực hiện đầy đủ,
đó là các khoản chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nợ vay.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status