MỤC LỤC
PHẦN I. LÝ THUYẾT VỀ THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI VÀ THỊ TRƯỜNG VÀNG 1
I. THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI 1
1. Tổng quan về thị trường ngoại hối 2
1.1. Khái niệm ngoại hối 2
1.2. Khái niệm thị trường ngoại hối- (the foreign exchange Market- FOREX hay FX) 3
1.3 Những thành viên tham gia thị trường ngoại hối 3
1.3.1. Nhóm khách hàng mua bán lẻ (Retail Clients) 3
1.3.2. Các ngân hàng thương mại (Commercial banks) 4
1.3.3. Các nhà môi giới ngoại hối (Foreign exchange brokers) 4
1.3.4. Các ngân hàng Trung ương (Central banks) 4
2. Đặc điểm của thị trường ngoại hối 5
3. Chức năng của thị trường ngoại hối 6
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường vàng 17
3.3. Biến động giá dầu và biến động thị trường chứng khoán 20
PHẦN II : THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI, THỊ TRƯỜNG VÀNG TẠI VIỆT
NAM 21
1.Về cung cầu ngoại tệ và tỷ giá hối đoái 21
2.2. Những hạn chế của Thị trường ngoại hối Việt Nam 32
PHẦN I. LÝ THUYẾT VỀ THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI VÀ THỊ TRƯỜNG
VÀNG
I. THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI
1. Tổng quan về thị trường ngoại hối
1.1. Khái niệm ngoại hối
Ngoại hối (The foreign exchange) bao gồm các phương tiện thanh toán được
sử dụng trong thanh toán quốc tế.
1
Ngày nay, các phương tiện thanh toán quốc tế được thể hiện bằng các tài sản
tài chính (financial assets). Đối với một quốc gia, ngoại hối bao gồm:
- Ngoại tệ: Là đồng tiền nước ngoài (bao gồm cả đồng tiền chung của các
nước khác và quyền rút vốn đặc biệt SDR). Ngoại tệ có thể là tiền kim loại, tiền giấy,
khẩu Anh bằng đồng bảng Anh… Với lý do này, để thanh toán tiền hàng, nhà nhập
khẩu Mỹ phải mua các ngoại tệ thích hợp, tức bán nội tệ trên thị trường. Nghĩa là,
một trong hai bên (mua hoặc bán) phải liên quan đến mua bán ngoại tệ.
Giống như thương mại, du lịch, đầu tư, quan hệ tín dụng và các quan hệ tài
chính quốc tế khác đều làm phát sinh nhu cầu mua bán (chuyển đổi) các đông tiền
khác nhau trên thị trường. Hoạt động mua bán các đồng tiền khác nhau được diễn ra
trên thị trường, và thị trường này được gọi là thị trường ngoại hối. Một cách tổng
quát: Thị trường ngoại hối là nơi diễn ra việc mua bán, bán các đồng tiền khác nhau.
Trong thực tế, do hoạt động mua bán tiền tệ xảy ra chủ yếu giữa các ngân
hàng (chiếm khoảng 85% tổng doanh số giao dịch), chính vì vậy, theo nghĩa hẹp
(nghĩa thực tế) thì thị trường ngoại hối là nơi mua bán ngoại tệ giữa các ngân hàng,
tức thị trường Interbank.
1.3 Những thành viên tham gia thị trường ngoại hối
1.3.1. Nhóm khách hàng mua bán lẻ (Retail Clients)
Nhóm khách hàng mua bán lẻ bao gồm các công ty nội địa và đa quốc gia,
những nhà đầu tư quốc tế và tất cả những ai có nhu cầu mua bán ngoại hối nhằm hai
mục đích:
- Chuyển đổi ngoại tệ.
- Phòng ngừa rủi ro tỷ giá
Như vậy, nhóm khách hang mua bán lẻ có nhu cầu mua bán ngoại tệ để phục
vụ cho mục đích hoạt động của chính mình chứ không nhằm mục đích kinh doanh
ngoại hối (kiếm lãi khi tỷ giá thay đổi)
1.3.2. Các ngân hàng thương mại (Commercial banks)
Các ngân hàng thương mại tiến hành giao dịch ngoại hối nhằm hai mục đích:
3
- Cung cấp dịch vụ cho khách hàng bằng cách mua hộ và bán hộ cho nhóm
khách hàng mua bán lẻ. Vì là mua hộ nên ngân hàng không phải bỏ vốn, không chịu
rủi ro tỷ giá và không làm thay đổi kết cấu bảng cân đối tài sản nội bảng. Thông qua
dịch vụ mua bán hộ, ngân hàng thu một khoản phí phổ biến ở dạng chênh lệch tỷ giá
mua bán.
động tỷ giá nhằm gia tăng giá trị dự trữ ngoại hối của mình.
- NHTW còn là đại lý trong việc mua hộ, bán hộ ngoại tệ cho chính phủ.
2. Đặc điểm của thị trường ngoại hối
- Forex không nhất thiết phải tập trung tại vị trí địa lý hữu hình nhất định, mà
là bất cứ đâu diễn ra hoạt động mua bán các đông tiền khác nhau, do đó, nó còn được
gọi là thị trường không gian.
- Đây là thị trường toàn cầu hay thị trường không ngủ. Do sự chênh lệch về
múi giờ giữa các khu vực trên thế giới nên các giao dịch diễn ra suốt ngày đêm.
- Trung tâm của thị trường ngoại hối là thị trường liên ngân hàng với các
thành viên chủ yếu là các NHTM, các nhà môi giới ngoại hối và các ngân hàng TW.
Doanh số giao dịch trên Interbank chiếm tới 85% tổng doanh số giao dịch ngoại hối
toàn cầu.
- Các nhóm Thành viên tham gia thị trường duy trì quan hệ với nhau liên tục
thông qua điện thoại, mạng vi tính, telex, fax. Do thông tin được truyền đi rất nhanh
và hiệu quả, cho nên tuy các thành viên tham gia thị trưởng ở rất xa nhau nhưng họ
vẫn có cảm giác là đang cùng hoạt động dưới một mái nhà chung.
- Do thị trường có tính toàn cầu, thông tin cân xứng, khối lương giao dịch cực
lớn, công nghệ hoàn hảo, hàng hóa (ngoại tệ) đồng chất (không có rủi ro về hàng
hóa), dẫn đến chi phí giao dịch rất thấp và hoạt động của thị trường trở nên hiệu quả.
Điều này được thể hiện ở chỗ các tỷ giá niêm yết trên các thị trường hầu như là
thống nhất với nhau, nghĩa là mức chênh lệch tỷ giá giữa các thị trường là không
đáng kể.
- Đồng tiền được sử dụng nhiều nhất trong giao dịch là USD, chiếm 41,5%
trong tổng số các đồng tiền tham gia (điều này cũng có nghĩa là có tới 83% các giao
5
dịch trên FOREX là có mặt của USD). Như vậy, USD đóng vai trò là đồng tiền trung
gian trong trao đổi trên FOREX, các giao dịch mua bán hầu hết phải qua USD.
- Đây là thị trường rất nhạy cảm với các sự kiện chính trị, kinh tế, xã hội, tâm
lý… nhất là với các chính sách tiền tệ của các nước phát triển.
- Doanh số mua bán ròng toàn cầu, tại thời điểm năm 2000 ước tính vào
và làm chậm sự phát triển của thị trường phái sinh. Ngược lại, tỷ giá biến động dẫn
đến làm thay đổi lợi nhuận của các chủ thể có giao dịch liên quan đến ngoại tệ và làm
tăng nhu cầu bảo hiểm rủi ro tỷ giá. Cũng như tạo cơ hội cho nhà đầu cơ tham gia
mua bán tiền tệ để tìm kiếm lợi nhuận thông qua sự kỳ vọng về biến động của tỷ giá.
Một TTNH được điều hành và hoạt động bằng những biện pháp hành chính, áp đặt tỷ
giá theo ý muốn chủ quan của nhà điều hành tách rời với giá thị trường sẽ vi phạm
qui luật giá trị và qui luật cung cầu. Khi đó tỷ giá chính thức chỉ mang tính danh
nghĩa, giao dịch trên hệ thống ngân hàng sẽ bị thu hẹp lại, tạo cơ hội cho thị trường
không chính thức hoạt động. TTNH sẽ triệt tiêu sự cạnh tranh giữa các chủ thể tham
gia thị trường bằng những chính sách ưu tiên cho chủ thể kinh tế nhà nước hơn các
chủ thể kinh tế khác, khi đó sẽ dẫn tới những hành vi tiêu cực trong kinh doanh hạn
chế sự phát triển của thị trường.
Tôn trọng qui luật khách quan của thị trường sẽ tạo điều kiện cho thị trường vận hành
đúng với chức năng vốn có của nó; Vấn đề đặt ra cho những nhà quản lý là hãy lập
và điều hành chính sách phù hợp với cơ chế thị trường để thông qua qui luật thị
trường đạt được các mục tiêu kinh tế, xã hội đã đề ra.
4.2. Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế
Xu hướng phát triển kinh tế của các quốc gia hiện nay là hướng tới hội nhập kinh tế,
là mở cửa nền kinh tế và tùy thuộc vào mỗi quốc gia mà có mức độ mở cửa khác
nhau. Điều này nói lên rằng các quốc gia không thể tự thỏa mãn nhu cầu của chính
mình, mà phải tiến hành chuyên môn hóa sản xuất xuất khẩu những hàng hóa và dịch
vụ có lợi thế so sánh và nhập khẩu những hàng hóa và dịch vụ không có lợi thế so
sánh. Như vậy, khi quá trình toàn cầu hoá càng phát triển, mức độ mở cửa của các
nền kinh tế càng lớn thì chu chuyển hàng hóa và dịch vụ giữa các quốc gia sẽ càng
tăng, hoạt động thương mại quốc tế sẽ ngày càng phát triển. Và một khi còn tồn tại
các đồng tiền khác nhau giữa các quốc gia, giữa các khu vực thì dẫn đến nhu cầu trao
7
đổi tiền tệ càng nhiều để đáp ứng với đà phát triển của thương mại và dịch vụ quốc tế
từ đó tác động đến hoạt động của TTNH.
Bên cạnh chu chuyển hàng hóa và dịch vụ phát triển, toàn cầu hóa còn đưa đến việc
nhau sẽ làm cho mức tăng trưởng kinh tế, lãi suất, tỷ giá và tỷ lệ lạm phát … của các
quốc gia sẽ chịu ảnh hưởng lẫn nhau và nếu đó là những sự kiện như khủng hoảng
kinh tế, tài chính của khu vực sẽ làm suy giảm hoạt động sản xuất kinh doanh của các
quốc gia, giảm kim ngạch xuất nhập khẩu, tác động đến doanh số giao dịch trên
TTNH sẽ sụt giảm.
Bên cạnh đó, còn có tác động của các yếu tố: sự phát triển công nghệ thông tin, qui
mô ngày càng lớn của các giao dịch tài chính và những rào cản về tài chính thương
mại bị bãi bỏ theo yêu cầu của hội nhập, đã dẫn đến sự tăng tốc độ chu chuyển các
luồng vốn và trao đổi thương mại, hình thành nên một mạng lưới tài chính toàn cầu
với sự gắn bó và phụ thuộc lẫn nhau giữa các trung tâm tài chính. Những tin tức thị
trường mau chóng lan truyền giữa các châu lục và tạo ra phản ứng dây chuyền trong
việc ra quyết định của các nhà đầu tư, đầu cơ trên toàn cầu cũng như dễ dàng gây ra
hiệu ứng “domino” trên toàn cầu khi một thị trường tài chính của khu vực nào bị
khủng hoảng.
4.3. Chính sách quản lý ngoại hối của quốc gia
TTNH của mỗi quốc gia là nơi mà các chính sách kinh tế, tiền tệ được thực hiện,
những chính sách này sẽ tác động đến hoạt động và phát triển của TTNH mà trực tiếp
là chính sách quản lý ngoại hối. Quản lý ngoại hối hay còn được gọi là kiểm soát
ngoại hối, là một hệ thống những qui định pháp lý mà trong đó có những hạn chế
trong trao đổi, vay, mượn, những khoản thu và chi trong cán cân thanh toán của một
quốc gia. Đối với những mục tiêu đầu tư quốc tế quản lý ngoại hối nhằm kiểm soát,
quản lý các luồng vốn di chuyển vào và ra khỏi quốc gia
Vì thế, chính sách quản lý ngoại hối bao gồm: chính sách tỷ giá, chính sách kết hối,
chính sách lưu thông, kinh doanh và thanh toán ngoại hối vv Xây dựng và thực hiện
chính sách quản lý ngoại hối là nhằm đạt mục tiêu ổn định TTNH, tạo sự cân bằng
trong cán cân thanh toán quốc tế, ổn định giá trị tiền tệ, bảo tồn nguồn vốn trong
nước và thu hút đầu tư nước ngoài tạo điều kiện ổn định và phát triển kinh tế.
4.3.1. Chính sách tỷ giá
9
Chính sách tỷ giá là những chủ trương biện pháp của chính phủ thông qua cơ chế
10
nghĩa là NHTW có thể mua hay bán một đồng tiền nhất định để phục vụ cho mục
đích hoạt động của mình chứ không nhằm mục đích can thiệp lên tỷ giá hay để cố
định lên tỷ giá. Trên thực tế tuy tuyên bố áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi nhưng chính
phủ không hoàn toàn thờ ơ trước sự biến động thất thường của tỷ giá, nên cũng có
can thiệp để giảm sự biến động của tỷ giá, tuy nhiên can thiệp của chính phủ là tùy ý
không đặt ra bất cứ mục tiêu bắt buộc nào phải đạt được.
Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết: là chế độ tỷ giá, theo đó NHTW tiến hành can thiệp
tích cực trên TTNH nhằm duy trì tỷ giá biến động trong một vùng nhất định. NHTW
không cam kết duy trì một mức tỷ giá cố định nào, nhưng cam kết can thiệp để tỷ giá
chỉ biến động trong một giới hạn. Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết là sự kết hợp giữa
chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn và chế độ tỷ giá hối đoái cố định.
Trong thực tế hầu như ít có một quốc gia nào áp dụng chế độ tỷ giá cố định hoặc thả
nổi thuần tuý mà thay vào đó là một chính sách tỷ giá kết hợp giữa thả nổi và cố định
với những đặc trưng đa dạng phù hợp với đặc điểm của từng quốc gia.
(2) Xác định hệ thống các công cụ tác động đến tỷ giá.
Chế độ tỷ giá là công cụ của chính sách kinh tế cuả chính phủ vì vậy chế độ tỷ giá
phụ thuộc vào ý chí chủ quan của chính phủ, mỗi quốc gia sẽ có nguyên tắc xác định
tỷ giá và cơ chế điều hành tỷ giá khác nhau và chính từ đó hình thành các chính sách
tỷ giá khác nhau. Nội dung chính của chính sách tỷ giá chính là chế độ tỷ giá và hệ
thống các công cụ can thiệp. Tuỳ thuộc vào từng thời kỳ xác định chiến lược phát
triển kinh tế, dự trữ ngoại hối, đặc thù về hoàn cảnh lịch sử của mỗi quốc gia mà có
sự lựa chọn những chính sách tỷ giá khác nhau.
Các quốc gia hiện nay có thể lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái nằm trong dãy từ mô
hình chế độ tỷ giá cố định đến chế độ tỷ giá linh hoạt thuần tuý, giữa các mô hình đó
đó là những mô hình chế độ tỷ giá không thuần tuý là cố định hay linh hoạt.
Theo phân loại của IMF, trên thế giới gồm có các chế độ tỷ giá: chế độ tỷ giá không
có đồng tiền pháp định riêng, chế độ chuẩn tiền tệ, chế độ tỷ giá neo đậu (cố định)
thông thường, chế độ tỷ giá neo đậu (cố định) với biên độ dao động rộng … Trên cơ
sở xác định chế độ tỷ giá, chính phủ sẽ xác định việc điều hành chính sách tỷ giá
Là những biện pháp nhằm quản lý cầu ngoại tệ, để đảm bảo khả năng thanh toán tiền
hàng nhập khẩu, thường có những biện pháp như hạn chế nhập khẩu những hàng hóa
xa xỉ, ưu tiên cho hàng hóa là máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất, áp dụng những
qui định về các chứng từ bắt buộc phải xuất trình khi thanh toán và qui trách nhiệm
kiểm tra chứng từ, xuất trình chứng từ chứng minh nguồn gốc hợp pháp, hợp lệ của
12
khoản tiền thanh toán, nhằm quản lý chặc chẽ việc sử dụng ngoại tệ và đáp ứng
những yêu cầu của các qui định trong công ước chống rửa tiền mà hiện nay hầu hết
các quốc gia trên thế giới đều có tham gia.
Chính sách kiều hối
Kiều hối là ngoại tệ do người không cư trú chuyển về cho người cư trú trong nước.
Đây là nguồn cung ứng ngoại tệ cho quốc gia mà không có những rủi ro hay phải trả
lãi như những nguồn vốn vay của nước ngoài. Vì thế các quốc gia thường tạo mọi
điều kiện dễ dàng cho hoạt động kiều hối, từ việc sử dụng mức phí hấp dẫn đến rút
ngắn thời gian nhận tiền, cho phép nhận ngoại tệ mặt hay mở tài khoản tiết kiệm
bằng ngoại tệ vv…Tuy nhiên mỗi quốc gia sẽ có những biện pháp để quản lý nguồn
ngoại tệ này, nhằm hạn chế tình trạng đola hóa và nâng cao hiệu quả nguồn ngoại tệ
này.
Chính sách mua, chuyển, mang ngoại tệ ra nước ngoài
Ban hành những qui định về việc được mua, chuyển ngoại tệ, hay những qui định cụ
thể về số lượng ngoại tệ mặt được phép mang theo khi xuất ngoại hay khi nhập cảnh.
Trong nước có hạn chế hay thả nổi việc thanh toán, cất giữ, định giá bằng ngoại tệ
của người cư trú.
Mở tài khoản ngoại tệ tại nước ngoài
Ngoại tệ của người cư trú nằm trong tài khoản ở nước ngoài có thể được xem là
khoản đầu tư ra nước ngoài, vì thế đối tượng này cũng phải được quản lý bằng những
qui định về việc mở tài khoản ngoại tệ ở nước ngoài, về mục đích và cách sử dụng tài
khoản của người cư trú là cá nhân hay các tổ chức. Tóm lại, quản lý ngoại hối trên tài
khoản vãng lai có thể được áp dụng theo những chính sách thắt chặt hay tự do.
Áp dụng những chính sách quản lý ngoại hối thắt chặt như nhà nước độc quyền trong
lợi nhuận cao. Các doanh nghiệp được phép đầu tư và sở hữu những công ty khác,
các luồng vốn được tự do lưu chuyển từ nơi có tỷ suất sinh lợi thấp sang nơi có tỷ
suất sinh lợi cao.
Tự do hóa GDV sẽ mang lại những lợi ích sau:
- Hình thành sự bình đẳng trong hoạt động đầu tư tài chính, các luồng vốn luân
chuyển linh hoạt và hiệu quả, tạo điều kiện tiếp cận các luồng vốn quốc tế, tăng vốn
đầu tư trong nước, phát triển thị trường tài chính;
-Nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn vốn, giúp các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn
trong và ngoài nước với chi phí thấp, nâng cao tính tự chủ của nhà đầu tư;
-Việc mở cửa thị trường tín dụng làm tăng tính linh hoạt của các doanh nghiệp trước
những biến động về hàng hóa và lợi nhuận.
Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi, tự do hóa GDV cũng tạo ra sự đa dạng hóa các
rủi ro phát sinh. Nếu chính sách vĩ mô không đủ mạnh và quản lý tài chính yếu kém,
việc gia tăng luồng vốn vào quá mức sẽ gây ra những rủi ro đáng kể đối với nền kinh
tế.
14
Những rủi ro do quá trình tự do hóa GDV mang lại:
-Tự do hóa GDV tác động mạnh đến hệ thống ngân hàng, cả chính sách tiền tệ của
NHTW và hoạt động kinh doanh của các TCTD, các tập đoàn và ngân hàng lớn ngày
càng có ảnh hưởng mạnh đến chính sách của các quốc gia. Quá trình tự do hóa GDV
ảnh hưởng đến các NHTM – thành viên trực tiếp tham gia các GDV quốc tế và thông
qua hoạt động của những khu vực khác trong nền kinh tế, gây khó khăn về quản lý tài
sản, nhất là trong việc điều chỉnh tỉ giá, lãi suất, phòng ngừa rủi ro nhằm cân bằng lợi
ích giữa việc nắm giữ ngoại tệ và nội tệ cũng như cơ cấu tiền gửi và cho vay.
-Trong quá trình tự do hóa GDV, các luồng vốn vào ngày càng tăng mạnh. Khi luồng
vốn vào quá mức có thể dẫn đến tăng trưởng kinh tế quá nóng, nếu tiền cung ứng
tăng quá mức so với tăng trưởng GDP thực tế sẽ làm tăng tổng phương tiện thanh
toán (M2), gây áp lực lạm phát và biến động về tỉ giá hối đoái, làm tăng thâm hụt cán
cân vãng lai, nhất là khi sản xuất trong nước phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu,
tiềm ẩn rủi ro cán cân thanh toán và tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng.
giá trị và phương tiện tích trữ
Vàng là dự trữ quốc gia: mức dự trữ vàng của toàn thế giới gần đây lên tới 130.000
tấn. Các quốc gia, ngân hàng và quỹ đầu tư trên toàn thế giới tăng cường giữ vàng
trong danh mục đầu tư của mình để tránh nguy cơ giảm giá trị tài sản do lạm phát và
phá giá tiền tệ trong điều kiện suy thoái kinh tế toàn cầu như hiện nay
I.2. Thị trường vàng
Thị trường vàng là nơi giao dịch và mua bán vàng. SJC, AAA là những loại vàng
được giao dịch chủ yếu trên thị trường. Bên cạnh đó, thị trường Việt Nam cũng có
giao dịch vàng nguyên liệu nhưng không nhiều.
Chủ thể tham gia thị trường: bao gồm các ngân hàng thương mại cổ phần, doanh
nghiệp kinh doanh vàng (những chủ thể đóng vai trò tạo lập giá trên thị trường), nhà
đầu tư, cá nhân
Các hình thức kinh doanh vàng
- Kinh doanh vàng trên tài khoản: là nghiệp vụ mua bán vàng ghi sổ chứ không thực
hiện việc giao nhận vàng. Hình thức kinh doanh này chủ yếu phục vụ cho nhu cầu
đầu cơ và thường giao dịch qua internet hoặc hệ thống giao dịch chuyên dụng
- Kinh doanh vật chất: là nghiệp vụ mua bán vàng SJC, AAA và là hình thức kinh
doanh phổ biến nhất trên thị trường Việt Nam hiện nay. Phục vụ nhu cầu thanh toán,
nhu cầu đầu tư và nhu cầu tích trữ của người dân
- Kinh doanh vàng nguyên liệu: là hình thức kinh doanh vàng hạt và chủ yếu phục vụ
cho nhu cầu của các ngân hàng, doanh nghiệp kinh doanh vàng, nữ trang. Giao dịch
sôi động khi nguồn cung SJC trên thị trường không đáp ứng nhu cầu trong nước, do
đó nhà đầu tư chuyển sang nắm giữ vàng nguyên liệu
- Kinh doanh vàng qua trung tâm giao dịch vàng
2. Đặc điểm thị trường vàng
16
Trong thị trường này, giá cả luôn biến động lên xuống và nhà đầu tư có thể kiếm lời
cả khi giá lên hay xuống. Trong một thời gian ngắn bạn có thể kiếm lợi nhuận lớn
nếu phân tích và nhận định đúng xu hướng thị trường Ngoài tính chất sôi động của
thị trường, điều làm cho thị trường vàng đem lại lợi nhuận lớn chính là ở đòn bẩy tài
này càng đẩy giá àng lên cao hơn, tạo điều kiện cho đầu cơ và buôn lậu vàng, khiến
tình hình giá vàng trong nước càng khó kiểm soát.
Biến động về cầu vàng: Việt Nam là nước tiêu thụ vàng nhiều thứ 8 trên thế giới.
Tổng nhu cầu vàng cả năm 2011 của Việt Nam tăng 23% từ mức 81,4 tấn trong năm
2010 lên mức 100,3 tấn năm 2011. Trong khi nhu cầu vàng nữ trang của Việt Nam
năm 2011 giảm 9% còn 13 tấn, nhu cầu đầu tư vào vàng miếng đã tăng 30% lên 87,3
tấn. Nhu cầu vàng trên thị trường vàng việt Nam bao gồm: nhu cầu trang sức, nhu
cầu tích lũy, nhu cầu sản xuất và nhu cầu đầu tư. Nhưng cũng như trên thị trường thế
giới, nhu cầu đầu tư vàng trên thị trường có tác động mạnh đến giá vàng
Khi giá vàng trong nước biến động, thấp hơn giá vàng thế giới, người dân không
nhận được đầy đủ thông tin, do vậy giá vàng vừa lên đã bán theo số đông, trong khi
doanh nghiệp xuất khẩu thấy chênh lệch hấp dẫn là lập tức gom vàng xuất khẩu.
Theo tâm lý chung, khi giá vàng chỉ diễn tiến theo chiều lên, những người bán trước
đây sẽ cảm thấy bị thua lỗ vì đã bán vàng ở mức giá thấp hơn hiện tại, dẫn đến hành
vi mua vàng. Trong khi đó, thị trường trong nước lại khan hàng do đã xuất khẩu quá
nhiều, nên giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới, kích thích hoạt động nhập
lậu, tạo ra vòng luẩn quản và làm giá vàng trong nước biến động, khó kiểm soát.
3.2. Chính sách tài chính – tiền tệ của các Quốc gia
Tình hình kinh tế của các cường quốc, đặc biệt lầ Mỹ và cac nước châu Âu có ảnh
hưởng lớn đến giá vàng thế giới. Các nước ngày có nền kinh tế tị trường và một nền
tài chính phát triển mạnh, khi nền kinh tế của cấc nước này biến động, sẽ ảnh hưởng
đến kinh tế của các quốc gia khác do sự bùng nổ của kinh tế toàn cầu. Những năm
gần đây, giá vàng thế giới biến động sát với diễn biến của thỏa thuận nâng trần nợ
công Mỹ và cuộc khủng hoảng nơ công tại châu Âu
Chính sách tiền tệ
Theo công thức quy đổi giá vàng, tỷ giá USD?VND tác động cùng chiều lên giá vàng
trong nước. Tuy nhiên, trên thực tế, tác động của tỷ gía USD/ VND lên giá vàng thực
tế được giao dịch trên thị trường vàng Việt Nam lại rất phức tạp, góp phần làm giá
vàng trong nước và giá vàng thế giới quy đổi có sự chênh lệch. Vì tỷ giá USD/ VND
vừa là công cụ, vừa là kết quả của chính sách tiền tệ, tác động trực tiếp lên kỳ vòng
vàng” và lượng vàng hao hụt trong quá trình gia công sẽ lớn hơn. Mặt khác, công tác
kiểm soát hàng hóa xuất lậu cũng cần được nâng cao vì khi giá trong nước thấp hơn
thế giới, nếu không được xất qua đường chính ngạch, vàng sẽ chảy ra ngoài qua
đường tiểu ngạch hoặc thậm chí xuất lậu, làm thất thu thuế của nhà nước và không
kiểm soát được nguồn ngoại tệ.
19
Cấm sàn giao dịch vàng và kinh doanh vàng trên tài khoản
Sàn giao dịch vàng đầu tiên tại Việt Nam là Sàn giao dịch vàng ACB, được hình
thành vào ngày 25/5/2007 với tên gọi là Trung tâm giao dịch vàng Sài Gòn – trực
thuộc NHTM cổ phần Á Châu gồm 9 thành viên là các Ngân hàng thương mại và
doanh nghiệp kinh doanh vàng có quy mô vốn lớn, có kinh nghiệm hoạt động kinh
doanh vàng
Tuy nhiên, theo nhận định của cơ quan quản lý nhà nước, hoạt động kinh doanh sàn
vàng là loạt hình kinh doanh chênh lệch giá mà ngay cả trên thế giới cũng đánh giá là
loại hình kinh doanh tiềm ẩn rủi ro rất cao cho cả nhà đầu tư và cho chính các đơn vị
kinh doanh sàn vàng. Đây không phải là hoạt động sản xuất kinh doanh để tạo ra giá
trị gia tăng cho nền kinh tế; mà ngược lại một khối lượng vốn lớn được rút ra từ hoạt
động sản xuất kinh doanh để phục vụ cho các giao dịch kinh doanh vàng. Mặt khác,
qua rà soát của Ngân hàng Nhà nước, việc thành lập và hoạt động của sàn giao dịch
vàng chưa có cơ sở pháp lý, và hoạt động của sàn vàng tiềm ẩn yếu tố bất ổn kinh tế
xã hội.
Hoạt động của sàn giao dịch vàng chính thức bị cấm từ này 30/3/2010 những phải
khẳng định nhu cầu phát triển thị trường này của các nhà đầu tư là rất lớn và việc
cấm hoạt động của sàn vàng là do chưa có cơ chế quản lý hiệu quả và hàng lang pháp
lý rõ ràng.
3.3. Biến động giá dầu và biến động thị trường chứng khoán
Giá dầu (tác động cùng chiều): giá dầu thế giới phụ thuộc nhiều về cung và cầu. Khu
vực khai thác và xuất khẩu dầu mỏ lớn nhất thế giới là vùng Trung Đông mà các
nước khu cực này thường dự trữ tài sản dưới dạng vàng, do đó chính nguồn cung dầu
mỏ và nguồn cung về vàng của khu vực Trung Đông quá lớn đã ảnh hưởng đến giá cả
Do tác động từ diễn biến phức tạp của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, thị
trường ngoại hối trong năm 2008 ở Việt Nam đã có nhiều biến động trái chiều. Cán
cân cung – cầu ngoại tệ thay đổi liên tục tại các thời điểm khác nhau trong năm.
Trong năm 2008, đồng Việt Nam chịu sức ép mất giá. Do đó, đã xuất hiện hiện tượng
một số NHTM buộc doanh nghiệp thực hiện mua bán qua ngoại tệ thứ ba hoặc thu
phí để đẩy tỷ giá USD/VND lên cao ngoài biên độ được phép, nhiều cá nhân có nhu
21
cầu ngoại tệ để chuyển ra nước ngoài cho các mục đích hợp pháp (học tập, công tác,
du lịch, chữa bệnh, ) gặp khó khăn trong việc tiếp cận với nguồn ngoại tệ. Gần về
cuối năm, tỷ giá niêm yết VND/USD của các NHTM thường ở mức trần được phép.
Sự biến động của tỷ giá khiến cán cân thương mại của Việt Nam biến động, ảnh
hưởng đến xuất khẩu và tình trạng nhập siêu.
Giải thích cho sự biến động này có các nguyên nhân như sau. Trên thế giới,
bất ổn kinh tế Mỹ dẫn đến làm USD liên tục mất giá trên thị trường quốc tế, FED liên
tục cắt giảm lãi suất. Điều này làm giảm sức hấp dẫn của đồng USD. Khi đó ở trong
nước, dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài có chiều hướng tăng trở lại. Tỷ giá hối
đoái được điều tiết trở lại do các biện pháp đồng bộ chống lạm phát, hạn chế nhập
siêu của Chính phủ cũng như các biện pháp bình ổn thị trường ngoại hối của NHNN
đã phát huy tác dụng; thâm hụt cán cân vãng lai sau khi tăng mạnh trong các tháng
đầu năm đã giảm. Nhưng đến cuối năm tỷ giá hối đoái lại tăng trở lại là do lúc này
chênh lệch lãi suất giữa VND với USD thu hẹp khi lãi suất huy động VND giảm
nhanh, dẫn đến xu hướng chuyển từ nắm giữ VND sang USD, hơn nữa sự chênh lệch
giá vàng trong nước và quốc tế tăng mạnh (khoảng 1,2 triệu đồng/lượng) đã làm tăng
nhu cầu mua ngoại tệ để nhập lậu vàng.
Nhằm ổn định tâm lý thị trường, NHNN đã thực hiện bán ngoại tệ hỗ trợ cho
các NHTM, hỗ trợ thanh khoản cho thị trường, giảm bớt tình trạng mất cân đối cung
cầu ngoại tệ trên thị trường. Bên cạnh đó, tỷ giá BQLNH đã được điều chỉnh theo
hướng phản ánh sát hơn cung cầu ngoại tệ. Việc điều hành tỷ giá linh hoạt đã góp
phần giảm bớt áp lực sử dụng ngoại tệ can thiệp thị trường. Ngoài ra, để kiềm chế
lạm phát và giảm áp lực lên tỷ giá, NHNN đã điều chỉnh tăng mạnh các mức lãi suất
khẩu tăng mạnh, nhất là nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng, do đó làm tăng cầu ngoại
tệ; ngoài ra, vẫn còn có nhiều nhà đầu tư có tâm lý găm giữ ngoại tệ, bên cạnh đó lãi
suất VND tương đối thấp để kích thích kinh tế trong khi kỳ vọng lạm phát ở mức cao
khiến cho lợi ích của việc nắm giữ VNĐ giảm.
Trước tình hình trên, dưới sự chỉ đạo của Thường trực Chính phủ, NHNN đã áp
dụng các biện pháp đồng bộ để ổn định thị trường ngoại tệ, cụ thể: NHNN đã điều
chỉnh tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng; Can thiệp trên thị trường ngoại tệ ở mức
hợp lý để tạo thanh khoản; Quy định mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng đô la Mỹ của tổ
chức kinh tế tại tổ chức tín dụng là 1%/năm. Sau khi NHNN triển khai các biện pháp nêu
trên, thị trường ngoại tệ đã có chuyển biến tích cực. Tuy vậy, từ giữa năm 2010, cung
23
cầu về ngoại tệ có dấu hiệu mất cân đối trở lại do nhập siêu chưa có dấu hiệu suy
giảm và tín dụng ngoại tệ tăng cao, ngoài ra còn do tác động tâm lý của một số bài
báo về thị trường ngoại tệ được đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng. Trước
diễn biến này, NHNN đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ thực hiện điều chỉnh tỷ giá
VND/USD lần thứ hai trong năm 2010. Sau khi NHNN điều chỉnh tỷ giá, thanh
khoản trên thị trường đã được cải thiện hơn, tỷ giá trên thị trường tự do dao động
quanh mức tỷ giá trần của các NHTM là 19.500 đồng/USD, NHNN chỉ phải bán can
thiệp ngoại tệ với số lượng hạn chế. Từ cuối tháng 10, thị trường ngoại tệ có biểu
hiện căng thẳng trở lại. Để bình ổn thị trường ngoại tệ, NHNN đã triển khai các biện
pháp cụ thể như: ban hành chỉ thị số 04/CT-NHNN chỉ đạo các đơn vị thuộc NHNN
và các Tổ chức tín dụng thực hiện các giải pháp tiền tệ, tín dụng và ngân hàng góp
phần ổn định giá cả và kinh tế vĩ mô trong các tháng cuối năm; cho nhập khẩu vàng
để bình ổn giá vàng trong nước; thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thường trực Chính phủ
tại cuộc họp ngày 03/11/2010, NHNN đã ban hành các quyết định điều chỉnh tăng
1% đối với các mức lãi suất bằng đồng Việt Nam và thực hiện bán can thiệp chọn lọc
cho một số mặt hàng thiết yếu (xăng dầu, phân bón, thuốc chữa bệnh, thuốc trừ sâu),
các dự án được Chính phủ bảo đảm cân đối ngoại tệ và các nhu cầu đột xuất, cấp
bách khác.
Năm 2011
kịp thời công bố thông tin về thị trường vàng, thị trường ngoại hối và các chính sách
của NHNN, đặc biệt là các nội dung mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng tại Nghị định 95/NĐ-CP; Can thiệp, bình ổn thị
trường thông qua việc cấp phép cho các công ty kinh doanh vàng và một số NHTM
được nhập khẩu vàng và bán một phần số vàng huy động, giữ hộ tồn quỹ để can thiệp
thị trường vàng, bán hỗ trợ ngoại tệ để nhập khẩu xăng dầu, điện và các nhu cầu đột
xuất cấp bách khác theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Nghị quyết 11/NQ-CP
và (iii) Thực hiện giải pháp trọng tâm là điều hành tỷ giá BQLNH linh hoạt nhưng
theo hướng tương đối ổn định, mức tăng tối đa không quá 1% trong các tháng cuối
năm, đồng thời điều hành thị trường ngoại tệ liên ngân hàng linh hoạt thông qua việc
chỉ đạo tăng cường bán ngoại tệ ra thị trường tại tỷ giá trần và can thiệp hỗ trợ trạng
thái với liều lượng hợp lý. Ngoài ra, chính sách tiền tệ vẫn được điều hành tương đối
chặt chẽ trong suốt giai đoạn này.
25