Cỏc trung tõm ti chớnh v ngõn hng hi ngoi
Lụứi Giụựi Thieọu
- Trang 1 -
Trong nhng nm gn õy, nhu cu tỡm hiu tng tn v cỏc hot
ng ca cỏc trung tõm ti chớnh hi ngoi OFCs ó ngy cng
nhn c s quan tõm v nhỡn nhn nhiu hn. Bi vỡ cỏc trung
tõm ny ó chim mt t l ỏng k trong hot ng chu chuyn ti
chớnh ton cu. S tn ti ca cỏc trung tõm ti chớnh hi ngoi ó
tỏc ng n hot ng ca cỏc Qu ti chớnh theo nhiu cỏch. u
tiờn, hiu rừ v cỏc hot ng din ra trong OFCs cú th úng gúp
rt ln trong vic giỏm sỏt h thng ti chớnh bng cỏch ci thin
kh nng xỏc nh v i phú vi cỏc ri ro bao quanh trong giai
on u. Th hai, OFCs thng c s dng khụng ch bi cỏc
nc cụng nghip ln, m cũn bi cỏc nn kinh t mi ni vi h
thng ti chớnh cú l d b tn thng hn so vi nhiu nc khỏc
trong vic o chiu cỏc dũng vn, hu ht h thng ti chớnh ca
cỏc nc ny u nhanh chúng tớch ly n ngn hn, khụng t
phũng nga trong vic tip xỳc vi cỏc bin ng tin t cng nh
trong vic chn lc t do húa ti khon vn. Cui cựng, hiu rừ cỏc
hot ng ca OFCs cú ý ngha cho hot ng ca cỏc Qu ti
chớnh trong vic thỳc y vic qun tr tt hn vỡ hot ng ca nú
thng khú kim soỏt v cú th lm gim tớnh minh bch, k c
thụng qua vic khai thỏc cỏc cu trỳc quyn s hu phc tp v cỏc
mi quan h gia cỏc khu vc phỏp lý khỏc nhau cú liờn quan n
nú. Vỡ l ú m i vi Qu Tin T Quc T - IMF thỡ mt nh
ngha rừ rng v nhng gỡ to nờn OFCs s t ra hu ớch c bit l
trong bi cnh cn cú mt s ỏnh giỏ li v hot ng ca cỏc
trung tõm ny.
Giảng viên hướng dẫn: PGS. TS Trương Thị Hồng Nhóm 8 – Ngân hàng Đêm 4
1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CÁC TRUNG TÂM TÀI CHÍNH HẢI NGOẠI
hàng ở nước ngoài có nhiều loại tài khoản hơn và cách kiểm soát chúng cũng đa dạng
hơn.
Các trung tâm tài chính offshore - Offshore Financial Centers, gọi tắt là OFCs đầu tiên
xuất hiện vào đầu thế kỷ 20 theo sáng kiến của một loạt các quốc gia nhỏ, nhưng hướng
tới sự phát triển trên cơ sở nền tảng của việc kinh doanh đa quốc gia. Đó là những điểm
tích trữ và trung chuyển trong việc dịch chuyển tư bản trên toàn cầu. Chính phủ của các
quốc gia này ganh đua nhau đến mức tối đa trong việc cung cấp những ưu đãi về thuế,
đơn giản hoá những thủ tục trong việc báo cáo tài chính và giữ bí mật về thành phần cổ
đông của các công ty offshore. Những dịch vụ này trở nên hấp dẫn đến mức, hiện nay có
thể nói về việc hình thành cộng đồng thương mại thế giới về nền tiểu văn hoá offshore.
Đến cuối những năm 1960, các giao dịch offshore tăng lên và dần chiếm ưu thế, dạng
trung tâm tài chính truyền thống bị thay thế nhanh chóng. Với việc quốc tế hoá một cách
triệt để các giao dịch tín dụng, các trung tâm tài chính chỉ cung cấp các nguồn vốn dư
thừa cho nhu cầu trong nước không còn nữa. Cạnh tranh diễn ra mạnh mẽ và các trung
tâm tài chính mới xuất hiện thay thế dần các trung tâm tài chính truyền thống. Các khu
vực nhỏ và trước đây chưa được biết tới dần trở thành các trung tâm ngân hàng quan
trọng như Nassau của Bahamashay Singapore, Luxemburg, Hong Kong. Thậm chí, một
vài thành phố ở Trung Đông như Kuwait và Bahrein đã nổi tiếng với tham vọng trở thành
các trung tâm tài chính quốc tế.
Hiện tại, dịch vụ ngân hàng ở nước ngoài đã trở thành một ngành lớn trên toàn thế giới
với dòng vốn luân chuyển mỗi ngày lên đến 2 nghìn tỷ USD. Đó là một khoảng cách rất
xa so với vài thập kỷ trước, khi số trung tâm tài chính ở nước ngoài còn rất hạn chế và
thường được bao bọc trong lớp màn bí ẩn của tiền từ kinh doanh ma túy và các hoạt động
phi pháp.
1.2. Khái niệm về tài chính hải ngoại và các trung tâm tài chính hải ngoại:
Tài chính hải ngoại là việc cung cấp các dịch vụ tài chính của các ngân hàng và các đại lý
khác đến những người không cư trú. Những dịch vụ này bao gồm việc vay và cho vay
đến những người không cư trú. Điều này có thể mang hình thức cho vay cho các doanh
- Trang 3 -
Giảng viên hướng dẫn: PGS. TS Trương Thị Hồng Nhóm 8 – Ngân hàng Đêm 4
- OFCs có thể được định nghĩa theo loại hình thứ ba chủ yếu là nhỏ hơn nhiều so
với hai loại hình trên, và cung cấp các dịch vụ chuyên môn cũng hạn chế hơn.
- Trang 4 -
Các trung tâm tài chính và ngân hàng hải ngoại
OFCs như được định nghĩa trong loại hình thứ ba này, nhưng đến một phạm vi nào đó
cũng tốt như hai loại hình còn lại, thường là miễn toàn bộ hoặc một phần các định chế tài
chính từ một loạt các quy định đối với các định chế tài chính trong nước.Ví dụ, tiền gửi
có thể không phải dự trữ bắt buộc, các giao dịch ngân hàng có thể được miễn thuế hoặc
được đối xử theo chế độ tài chính ưu đãi, và có thể được tự do kiểm soát lãi suất và ngoại
tệ. Các ngân hàng hải ngoại có thể chỉ chịu một hình thức giám sát các quy định ít chặt
chẽ hơn, và yêu cầu công bố thông tin có thể không bị áp dụng một cách chặt chẽ.
1.3. Đặc điểm của các trung tâm tài chính hải ngoại:
- Là nơi tập trung một số lượng lớn các định chế tài chính, có các định chế tài chính
phát triển trong đó có các ngân hàng mạnh về vốn, uy tín cao.
- Là nơi tập trung các chuyên gia tài chính giỏi, có trình độ để phát triển được
những kỹ năng nghiệp vụ.
- Có khối lượng giao dịch tài chính chiếm tỷ trọng chi phối trong toàn hệ thống tài
chính - ngân hàng.
- Các điều kiện về vị trí địa lý thuận lợi, mức độ phát triển về kinh tế, hạ tầng kỹ
thuật, công nghệ hơn hẳn so với các khu vực khác.
- Định hướng của kinh doanh đối với người không cư trú là chủ yếu. Trung tâm tài
chính hải ngoại hoạt động chủ yếu phục vụ cho đối tượng khách hàng vay và gửi
tiền không phải là người cư trú. Sự hấp dẫn chính của các trung tâm tài chính hải
ngoại (đối với ngân hàng cũng như người tham gia) là việc cho phép các luồng
vốn nước ngoài nhập cảnh tự do bằng cách áp dụng cơ chế thuế và các quy định có
liên quan một cách linh hoạt.
- Môi trường pháp lý thuận lợi. Động lực hàng đầu của hoạt động trung tâm tài
chính hải ngoại là việc tránh né các luật lệ. Chính phủ các nước, để thu hút ngoại
tệ và đầu tư nước ngoài, thường không chế tài các hoạt động ngân hàng mà họ
nghĩ là không ảnh hưởng đến thị trường địa phương của họ. Do vậy, tại các trung
hàng hải ngoại để xử lý các hoạt động giao dịch ngoại hối của mình hoặc để tạo
thuận lợi về mặt tài chính của một công ty liên doanh quốc tế. Một ngân hàng sở
tại thành lập một công ty con thuộc sở hữu hoàn toàn trong một OFC để cung cấp
các dịch vụ quản lý quỹ hải ngoại, ví dụ tích hợp đầy đủ lưu ký toàn cầu, kế toán
quỹ, quản lý quỹ, và dịch vụ đại lý chuyển nhượng. Chủ sở hữu của một ngân
hàng sở tại được quy định thành lập một ngân hàng “song song” trong một OFC.
Các điểm thu hút của một OFC có thể bao gồm không đánh thuế vốn, không khấu
- Trang 6 -
Các trung tâm tài chính và ngân hàng hải ngoại
trừ thuế đối với cổ tức hoặc tiền lãi, không đánh thuế chuyển nhượng, không đánh
thuế công ty, không đánh thuế lãi vốn giữ lại, không kiểm soát ngoại hối, quy định
và giám sát ở mức thấp, các yêu cầu báo cáo ít nghiêm ngặt, và các hạn chế giao
dịch cũng ít nghiêm ngặt hơn.
- Các tổ chức hải ngoại hoặc các tổ chức kinh doanh quốc tế - IBCs. IBCs là loại
hình trách nhiệm hữu hạn được đăng ký trong một OFC. Chúng có thể được sử
dụng để sở hữu và vận hành doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu, trái phiếu, hoặc
huy động vốn theo những cách khác. Chúng có thể được sử dụng để tạo ra các cấu
trúc tài chính phức tạp. IBCs có thể được thiết lập với một giám đốc duy nhất.
Trong một số trường hợp, các cổ đông của một nước chủ nhà của OFC có thể hoạt
động như một giám đốc ứng cử để che giấu danh tính của các giám đốc công ty
thực sự. Trong một vài OFCs, cổ phiếu vô danh có thể được sử dụng. Trong các
OFCs khác, cổ phiếu đã đăng ký được sử dụng, nhưng không ban hành rộng rãi
việc đăng ký của các cổ đông được duy trì. Trong nhiều OFCs, chi phí của việc
thiết lập IBCs là tối thiểu và chúng thường được miễn tất cả các loại thuế. IBCs là
loại hình phổ biến để quản lý các quỹ đầu tư.
- Công ty bảo hiểm. Một công ty thương mại thành lập một công ty bảo hiểm chịu
chi phối trong một OFC để quản lý rủi ro và giảm thiểu tối đa thuế. Một công ty
bảo hiểm sở tại thành lập một công ty con trong một OFC để tái bảo hiểm rủi ro
nhất định bảo hiểm bởi công ty mẹ và giảm thiểu các yêu cầu về vốn và dự trữ
tổng thể. Một công ty tái bảo hiểm sở tại kết hợp với một công ty con trong một
ký ở các nước có luật thuế thu nhập doanh nghiệp dễ dãi và mức thuế thấp, thậm
chí bằng không nếu nguồn thu nhập chính ở bên ngoài lãnh thổ nước đó. Những
thiên đường thuế này điển hình là Thụy Sĩ, Monaco, Liechtenstein, Luxembourg,
và những hòn đão cựu thuộc địa như Quần đảo Cayman, Quần đảo Bristish Virgin.
Nhiều quỹ đầu tư hoạt động ở Việt Nam cũng được đăng ký tại các thiên đường
thuế này.
- Chuyển giá. Bên cạnh việc đăng ký ở các thiên đường thuế, các công ty đa quốc
gia còn có một hình thức kinh doanh chênh lệch khác rất phổ biến là chuyển giá,
nghĩa là khai thác lỗ ở các vùng lãnh thổ có thuế thu nhập doanh nghiệp cao và
dồn lợi nhuận vào các chi nhánh ở các thiên đường thuế. Hiện nay đa số các nước
đều coi chuyển giá là bất hợp pháp, nhưng rất khó để kiểm soát
- Trang 8 -
Các trung tâm tài chính và ngân hàng hải ngoại
- Trốn thuế và rửa tiền. Ngoài ra còn có các cá nhân và doanh nghiệp dựa vào tính
bí mật thông tin ngân hàng để tránh kê khai tài sản và thu nhập cho cơ quan thuế
có liên quan. Dòng tiền chuyển động thu được từ các giao dịch bất hợp pháp còn
thu được từ các bí mật thông tin tối đa từ thuế và điều tra tội phạm.
- Quản lý và bảo vệ tài sản. Các cá nhân giàu có và các doanh nghiệp trong các
nước có nền kinh tế yếu kém và hệ thống ngân hàng mong manh có thể muốn giữ
tài sản ở nước ngoài để bảo vệ chúng chống lại sự sụp đổ của đồng tiền trong nước
và các ngân hàng trong nước, và nằm ngoài tầm kiểm soát hiện tại hoặc tiềm tàng.
Nếu các cá nhân này cũng tìm cách bí mật, thì một tài khoản trong một OFC
thường là loại hình để lựa chọn. Trong một vài trường hợp, sự bảo mật này là rất
quan trọng. Ngoài ra, nhiều cá nhân phải đối mặt với trách nhiệm vô hạn trong các
khu vực pháp lý của họ trong việc tìm cách cơ cấu lại quyền sở hữu tài sản của họ
thông qua các quỹ tín thác hải ngoại để bảo vệ các tài sản từ các vụ kiện tại nước
sở tại.
Như vậy, OFCs có thể được sử dụng cho các lý do chính đáng, tận dụng các lợi thế: (1)
giảm thuế phải khai và kết quả là tăng lợi nhuận sau thuế, (2) khuôn khổ quy định đảm
bảo an toàn thuế đơn giản và giảm mức thuế ngầm, (3) tối thiểu các thủ tục thành lập
(OG) (FSF)
Cyprus (OG)
(FSF)
Lebanon (J)
(OG) (FSF)
Aruba (J) (OG) (FSF)
Seychelles (FSF) Japan
1
Dublin, Ireland
(FSF)
Bahamas (J) (OG) (FSF)
Tangier Labuan, Malaysia (FSF) Gibraltar (OG)
(FSF)
Barbados (J) (OG) (FSF)
Macao, SAR (FSF) Guernsey (OG)
(FSF)
Belize (FSF)
Marianas Isle of Man (OG)
(FSF)
Bermuda (J) (OG) (FSF)
Marshall Islands (FSF) Jersey (OG) (FSF)
British Virgin Islands
Netherlands Antilles (J)
(OG) (FSF)
Thailand
3
Netherlands
Panama (J) (OG) (FSF)
Vanuatu (J) (OG) (FSF) Switzerland (FSF)
Puerto Rico
Western Samoa (FSF)
St. Kitts and Nevis (FSF)
St. Lucia (FSF)
St. Vincent and
Grenadines (FSF)
- Trang 10 -
Các trung tâm tài chính và ngân hàng hải ngoại
Turks and Caicos Islands
(FSF)
United States
4
Bảng 2. Các thông tin cơ bản về OFCs được đánh giá theo
Diễn đàn ổn định tài chính
Trung tâm tài
chính hải ngoại
Thành
viên IMF
Hiệp hội lịch sử
với thành viên
IMF
Dân số
(Triệu
người)
Số ngân hàng
được cấp phép
(Triệu) Cơ quan giám sát
- Trang 11 -
Giảng viên hướng dẫn: PGS. TS Trương Thị Hồng Nhóm 8 – Ngân hàng Đêm 4
Group I
1 Dublin (Ireland) Yes n/a n.a. 54 Central Bank of Ireland
2 Guernsey No U.K. Crown
Dependency
0.07 77 Guernsey Financial
Services Commission
3 Hong Kong, SAR No Part of China 6.85 454 Hong Kong Monetary
Authority
4 Isle of Man No U.K. Crown
Dependency
0.07 67 Financial Supervisory
(Malaysia)
Yes n/a n.a. n.a. Labuan Offshore
Financial Services
Auth.
7 Macao, SAR No Part of China 0.44 n.a. Mon. and Foreign Exch.
Auth. of Macao
8 Malta Yes n/a 0.38 20 Central Bank of
Malta/Fin. Services
Centre
9 Monaco No France 0.03 n.a. n.a.
Group III
1 Anguilla No U.K. Overseas
Territory
0.01 6 Directorate of Financial
Services, MOF
2 Antigua &
Barbuda
Yes U.K. independ.
since '81
0.07 55 MOF and Sup. of
Banking and Trust
Corps.
3 Aruba No Part of the
Netherlands
0.07 6 Central Bank of Aruba
- Trang 12 -
Các trung tâm tài chính và ngân hàng hải ngoại
4 Bahamas Yes U.K. independ.
since '73
0.3 418 Central Bank of the
Trustee
0.01 n.a. n.a.
16 Netherlands
Antilles
No Part of the
Netherlands
0.2 56 Bank van de
Netherlandse Antillen
17 Niue No In Free Assoc.
with N.Z.
0.002 n.a. n.a.
18 Panama Yes n/a 2.76 97 Superint.cy of Banks of
the Rep. of Panama
19 Samoa Yes n/a 0.17 n.a. n.a.
20 Seychelles Yes n/a 0.08 6 Central Bank of
Seychelles
21 St. Kitts and
Nevis
Yes n/a 0.04 n.a. MOF, ECCB
22 St. Lucia Yes n/a 0.15 7 Fin. Serv. Sup. Dept. of
MOF, ECCB
23 St. Vincent and
Grenadines
Yes n/a 0.11 17 MOF, ECCB
24 Turks and Caicos No U.K. Overseas
Territory
0.02 n.a. Financial Services
Commission
25 Vanuatu Yes n/a 0.18 7 Vanuatu Financial
Services Commission
Đối với một quốc đảo nhỏ cách 600 dặm ngoài khơi từ các lục địa Bắc Mỹ, Bermuda -
chủ yếu thông qua các doanh nghiệp quốc tế và định chế tài chính của mình - đã thừa
hưởng những lợi thế kinh tế từ vị trí địa lý của đất nước ở các điểm giao nhau giữa Bắc
Mỹ, châu Âu và vùng biển Caribbean để cung cấp cho các giải pháp thúc đẩy thị trường
với tốc độ của hoạt động kinh doanh hiện đại.
- Trang 14 -
Các trung tâm tài chính và ngân hàng hải ngoại
2.1.2 Vai trò:
Nền kinh tế hiện đại của Bermuda được dựa chủ yếu vào kinh doanh quốc tế và du lịch.
Bảo hiểm và tái bảo hiểm quốc tế là thành phần chiếm ưu thế của hoạt động kinh doanh
quốc tế. Khối lượng của các dòng tiền bảo hiểm lên đến 116 tỷ USD và quy mô của tổng
tài sản hơn 440 tỷ USD trong năm 2006 đã đưa vị trí của Bermuda như là một trong
những thị trường bảo hiểm hàng đầu thế giới.
Là một thị trường thế giới về bảo hiểm và tái bảo hiểm, Bermuda ủng hộ ổn định tài
chính toàn cầu thông qua sự lan truyền hiệu quả và đa dạng hóa rủi ro bảo hiểm và cung
cấp các giải pháp định hướng thị trường với tốc độ của hoạt động kinh doanh hiện đại.
Bermuda đã không được điều chỉnh cơ sở thuế để thu hút vốn di động từ các quốc gia
khác. Bermuda có truyền thống mạnh mẽ của KYC trong văn hóa kinh doanh của mình.
Khuôn khổ thể chế và pháp lý cho việc giám sát và theo dõi các dịch vụ tài chính dựa trên
các tiêu chuẩn quốc tế được công nhận được thành lập bởi các cơ quan xây dựng tiêu
chuẩn cho mục đích tăng cường tính minh bạch và ổn định tài chính.
Bermuda bao hàm hợp tác quốc tế và được coi như là một thể chế hợp tác, minh bạch và
có trách nhiệm
2.1.3 Lợi thế so sánh:
Sự phát triển của kinh doanh quốc tế tại Bermuda, đặc biệt là các dịch vụ tài chính, cả hai
tình cờ và ngẫu nhiên. Không có các chiến dịch tiếp thị, không soạn lại luật, không có thu
nhập đặc biệt được tạo ra hoặc bộ luật thuế thu nhập doanh nghiệp được thiết kế để thu
hút các công ty tại nước sở tại để thiết lập thị trường quốc tế của Bermuda. Thay vào đó,
các doanh nghiệp phát triển đầu tiên. Một khi nó đã bắt rễ, chính phủ tìm cách – trải qua
một khởi đầu thời kỳ khoảng thời gian sáu mươi năm từ 1947 - để đảm bảo có một khuôn
4 ngân hàng hoạt động tại Bermuda, thế nhưng nó đã đạt được những tiến bộ đáng kể
trong việc cung cấp dịch vụ cho quỹ tín thác, quỹ tương hỗ và quản lý tài sản. Vào cuối
năm 2007, đã có khoảng 1.300 Quỹ tài chính đặt tại Bermuda kết hợp với một giá trị tài
sản ròng là 249 tỷ USD.
2.2 Trung tâm tài chính hải ngoại Hong Kong:
2.2.1 Bối cảnh kinh tế:
Theo cuộc điều tra của tổ chức Heritage Foundation và tờ báo Wall Street Journal tại Mỹ,
Hong Kong được chọn là nền kinh tế tự do nhất thế giới năm 2007 và đây cũng là
năm thứ 13 liên tiếp Hong Kong đứng đầu danh sách xếp hạng. Bản điều tra được
tiến hành với 157 nền kinh tế trên thế giới, dựa trên 50 tiêu chí độc lập về kinh tế
- Trang 16 -
Các trung tâm tài chính và ngân hàng hải ngoại
được chia thành 10 nhóm như mức độ tự do về thương mại và đầu tư, mức độ can
thiệp chính quyền vào kinh tế, thu chi ngân sách, chính sách tiền tệ, các quy định về
lương và giá cả, quyền tác giả
Còn theo báo cáo của Viện Cato Institute- một trung tâm nghiên cứu chính sách phi lợi
nhuận, có trụ sở chính ở Washington D.C, luôn cổ vũ cho tự do thương mại, cắt giảm
thuế và giảm thiểu sự tham gia của Nhà nước- thì Hong Kong luôn là nền kinh tế tự do
nhất. Báo cáo trên được lập bắt đầu từ năm 1996 cùng với sự hợp tác của viện
Fraser Institute of Canada và 50 tổ chức nghiên cứu chính sách khác trên khắp thế
giới, dựa trên 42 tiêu chí như tự do kinh doanh, tự do thương mại, tự do tài khóa, tự
do tiền tệ…
2.2.2 Vai trò:
Hong Kong là một cửa ngõ ra vào tối quan trọng của Trung Quốc đại lục và thế giới bên
ngoài. Từ đầu những năm 1990, thị trường vốn Hong Kong đã trở thành nơi cung cấp vốn
lớn cho Trung Quốc đại lục, chiếm tới hơn 80% vốn nước ngoài mà các doanh nghiệp
Trung Quốc huy động được. Hiện nay, với sự bùng nổ của Trung Quốc, Hong Kong càng
đóng vai trò quan trọng đối với nhà đầu tư nước ngoài khi muốn tiếp cận và đầu tư vào
thị trường Trung Quốc.
Hong Kong với vị trí ở trung tâm Châu Á, Hong Kong có mối quan hệ giao dịch và kinh
tháng 3 năm 1998, ảnh hưởng từ thị trường bất động sản ở Hong Kong gây tác động tới
53% thị trường bất động sản tại Australia, 40% thị trường Nhật Bản, 45% thị trường Hoa
Kỳ.
2.2.3 Lợi thế so sánh:
Hong Kong luôn khẳng định lợi thế về pháp luật chặt chẽ, rõ ràng và mở cho các hoạt
động tài chính; kinh nghiệm tài chính, quản lý chính quyền. Độ mở của thị trường tài
chính rất cao khi không có sự quản lý ngoại hối, có một cơ chế tự do với ngân hàng nước
ngoài và quyền sở hữu tài sản. Hong Kong duy trì sự cân bằng giữa vốn trong nước và
vốn nước ngoài trên sức hút được tạo ra dựa trên tính công khai, minh bạch của thị
trường cũng như việc quản lý tốt các rủi ro.
Trung tâm tài chính này có một chính sách cởi mở với chủ thể nước ngoài, dòng thông tin
tự do và hiệu quả, các ngân hàng và môi giới tài chính tại Hong Kong sẵn sàng cạnh
- Trang 18 -
Các trung tâm tài chính và ngân hàng hải ngoại
tranh hiệu quả với bất kỳ đối thủ của Hong Kong ở bất kỳ nơi nào. Lợi thế của hòn đảo
này còn là phổ biến tiếng Anh vốn là ngôn ngữ toàn cầu và quan hệ gần gũi với thị
trường toàn cầu. Thị trường tài chính hoà hợp được với những đổi mới trên thị trường
vốn toàn cầu. Vì thế, thành phố được coi là thành phố thế giới.
Hong Kong còn đáp ứng nhu cầu nhân lực cấp cao, thạo tiếng Anh cho giới đầu tư nước
ngoài. Lợi thế này tương tự như London - nơi đã vượt qua những tên tuổi lớn ở châu Âu,
đặc biệt là vượt qua thành phố tài chính số 1 của Đức - Frankfurt, để trở thành trung tâm
tài chính số 1 châu Âu nhờ vào nhân lực cấp cao thông thạo tiếng Anh.
Hệ thống thuế ở Hong Kong rất đơn giản, rõ ràng và công bằng, thuế suất thấp. Chính
quyền Hong Kong vừa công bố quyết định thuế suất chuẩn đối với cá nhân là 15% và
thuế thu nhập doanh nghiệp là 16%.
Chính quyền Hong Kong chỉ đánh thuế các thu nhập và tiền lương có nguồn gốc trên lãnh
thổ Hong Kong. Thu nhập và lợi nhuận từ các nguồn ngoài Hong Kong của người cư trú
tại Hong Kong không có nghĩa vụ đóng thuế. Không có thuế lãi vốn và thuế trên cổ tức,
thuế trên lãi hoặc tiền bản quyền. Thuế tính trên các hàng hoá gần như bằng 0. Quy định
về thành lập doanh nghiệp dễ dàng, dịch vụ vận tải và ngân hàng nhanh chóng thuận lợi,
Hong Kong luôn đứng đầu trong danh sách các cảng có số lượng hàng hoá bốc dỡ lớn
nhất thế giới nên hàng đến và đi rất thuận tiện. Hong Kong còn là cảng hàng không lớn
của quốc tế và khu vực, mỗi tuần có khoảng 4.900 chuyến bay chở khách cùng 700
chuyến bay chở hàng định kỳ từ Hong Kong đi 139 thành phố trên thế giới
Khuynh hướng quốc tế hoá của ngành dịch vụ tài chính Hong Kong là rất rõ ràng. Ngành
dịch vụ luôn chiếm hơn 90% GDP. Bên cạnh thuế suất thấp, Hong Kong có thế mạnh của
một trung tâm vận tải và chuyển tải quốc tế đứng đầu thế giới với các sân bay và hải cảng
luôn đứng đầu trong danh sách các cảng có số lượng hàng hoá bốc dỡ lớn nhất thế giới
nên hàng đến và đi rất thuận tiện.
3. NGÂN HÀNG ĐẠI LÝ VÀ CÁC TRUNG TÂM GIAO DỊCH CHÍNH
3.1. Ngân hàng đại lý:
3.1.1 Khái niệm ngân hàng đại lý:
Một ngân hàng đại lý, được hiểu như ngân hàng đóng vai trò ngân hàng đại lý, là một
ngân hàng địa phương tại một nơi nào đó cung cấp dịch vụ cho ngân hàng khác.
Như vậy, ngân hàng đại lý là ngân hàng đóng vai trò đại lý cho một ngân hàng khác ở
nước ngoài và thay mặt cho ngân hàng này thực hiện một số dịch vụ ngân hàng như đã
- Trang 20 -
Các trung tâm tài chính và ngân hàng hải ngoại
thỏa thuận. Ngân hàng đại lý giữ chức năng cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho các
khách hàng mà nó nhận làm đại lý.
Một ngân hàng có thể đóng vai trò ngân hàng đại lý cho nhiều ngân hàng, hoặc có thể có
nhiều đại lý tại các ngân hàng khác. Các giao dịch thanh toán quốc tế được thực hiện chủ
yếu bằng chuyển khoản qua ngân hàng, bù trừ lẫn nhau trên các tài khoản mở tại các
ngân hàng.
3.1.2 Đặc điểm ngân hàng đại lý:
- Khách hàng của ngân hàng đại lý là các ngân hàng thương mại hoặc các định chế
tài chính trung gian. Mối quan hệ giữa ngân hàng thương mai và các ngân hàng
đại lý của mình là quan hệ đối tác trên cơ sở đôi bên cùng có lợi. Thông qua một
thỏa ước ngân hàng đã ký kết có quy định rõ về các trách nhiệm và quyền hạn,
ngân hàng đại lý sẽ tiến hành cung cấp các dịch vụ theo yêu cầu. Đối tượng phục
ngân hàng thường thông qua một ngân hàng có trụ sở tại địa điểm kinh doanh làm
đại lý về một nghiệp vụ nào đó và ngân hàng đại lý được hưởng hoa hồng như đại
lý thanh toán, đại lý chuyển tiền, sec du lịch. Đây là một trong các loại kênh phân
phối có xu thế phát triển cùng với xu thế toàn cầu hóa thị trường tài chính quốc tế.
Đồng thời, đây cũng là bước đệm để ngân hàng thăm dò và tìm hiểu văn hóa địa
phương cũng như các quy định pháp lý trước khi chính thức thâm nhập thị trường
ngoài nước.
3.1.3 Các loại tài khoản sử dụng trong hoạt động ngân hàng đại lý:
• Tài khoản Nostro:
Tài khoản Nostro (Nostro theo tiếng Latin là "của chúng tôi") là tài khoản tiền gửi không
kỳ hạn "của chúng tôi" mở tại ngân hàng đại lý (chúng tôi là chủ tài khoản, còn ngân
hàng đại lý là người giữ tài khoản cho chúng tôi).
Tài khoản Nostro có số dư bằng ngoại tệ nên sẽ linh hoạt trong việc thanh toán do không
phải mất thời gian và chi phí để chuyển đổi đồng tiền.
Trên phương diện Việt Nam, tài khoản Nostro là tài khoản tiền gửi giao dịch vốn của các
ngân hàng thương mại Việt Nam mở và duy trì tại các ngân hàng nước ngoài.
• Tài khoản Vostro:
- Trang 22 -
Các trung tâm tài chính và ngân hàng hải ngoại
Tài khoản Vostro (hay còn gọi là tài khoản Loro – theo tiếng Latin là "của các bạn") là tài
khoản tiền gửi không kỳ hạn "của quý vị" mở tại ngân hàng chúng tôi (quý vị là chủ tài
khoản, ngân hàng chúng tôi là người giữ tài khoản cho quý vị). Tài khoản Vostro có số
dư bằng nội tệ.
Trên thực tế, thuật ngữ Nostro và Vostro thường dễ gây nhầm lẫn và thường gọi chung là
tài khoản Nostro khi muốn nói về tài khoản một ngân hàng khác mở tại ngân hàng đang
xem xét.
Tài khoản Nostro hay tài khoản Vostro có thể được duy trì bằng một ngoại tệ tự do
chuyển đổi được sử dụng phổ biến trong thanh toán quốc tế. Điều này là phổ biến đối với
các nước có đồng tiền chưa được tự do chuyển đổi phải dùng ngoại tệ mạnh trong thanh
toán quốc tế.
một tổ chức tín dụng làm đầu mối, phối hợp các bên tài trợ khác để thực hiện, nhằm nâng
cao năng lực và hiệu quả trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp và
của các tổ chức tín dụng.
Các tổ chức tham gia thường là các ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm, ngân hàng
đầu tư và các tổ chức tài chính khác.
Trong quan hệ đại lý giữa các ngân hàng, nghiệp vụ cho vay hợp vốn được tiến hành
trong các trường hợp sau:
- Nhu cầu vốn vay hoặc bảo lãnh của chủ đầu tư vượt quá giới hạn tối đa cho phép
cho vay của một tổ chức tín dụng.
- Các ngân hàng muốn phân tán rủi ro trong kinh doanh.
- Khả năng nguồn vốn của một tổ chức tín dụng không đáp ứng được nhu cầu vốn
của dự án.
Cho vay hợp vốn phần lớn được sử dụng trong những tổ chức cho vay rất lớn, việc liên
kết với nhau cho phép một tổ chức có thể cung cấp một khoản vay lớn mà vẫn đảm bảo
và kiểm soát được nguồn tín dụng cho vay và chia sẻ rủi ro giữa các ngân hàng, bởi vì số
tiền đó là của nhiều ngân hàng gộp lại.
• Tài trợ ngoại thương:
Tín dụng ngân hàng quốc tế thường do các ngân hàng thương mại cung cấp nhằm tài trợ
cho hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và hoạt động đầu tư nước ngoài. Loại hình này
được thực hiện dưới các hình thức phổ biến sau:
Tài trợ xuất khẩu
Bao gồm các dịch vụ cơ bản
- Trang 24 -
Các trung tâm tài chính và ngân hàng hải ngoại
- Bao thanh toán quốc tế: Là nghiệp vụ bao thanh toán dựa trên hợp đồng xuất khẩu
hàng hóa mà khách hàng và con nợ là những doanh nghiệp ở các nước khác nhau
mà ngân hàng của hai bên có quan hệ đại lý. Vai trò của đơn vị bao thanh toán là
thu tiền nợ nước ngoài bằng việc tiếp cận với nhà xuất khẩu tại đất nước của mình
và truy đòi lại nhà nhập khẩu hoặc ngân hàng của nhà nhập khẩu.
- Chiết khấu bộ chứng từ theo phương thức tín dụng chứng từ: Để đáp ứng nhu cầu