CD_ Nâng cao chất lượng cho vay đối với DNXL tại NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Hà Nội - Pdf 34

Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Lê Thanh Tâm

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN NGÂN HÀNG – TÀI CHÍNH
------------

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đề tài:
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP XÂY LẮP TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ
PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH HÀ NỘI

Giáo viên hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
Mã sinh viên
Lớp

: TS. LÊ THANH TÂM
: LÊ THỊ VIỆT HÀ
: CQ520938
: TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 52C

HÀ NỘI, 12/2013


Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Lê Thanh Tâm

MỤC LỤC
PHỤ LỤC

Khách hàng doanh nghiệp

KHCN

Khách hàng cá nhân

KHTH

Kế hoạch tổng hợp

NV Thẻ

Nghiệp vụ Thẻ

NHTM

Ngân hàng thương mại

NHNN

Ngân hàng Nhà nước

P

Phòng

PGD

Phòng giao dịch


Thương mại cổ phần

TCTD

Tổ chức tín dụng

XDCB

Xây dựng cơ bản


Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Lê Thanh Tâm

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bước vào năm 2013, nền kinh tế Việt Nam vẫn đang ở trong giai đoạn khủng
hoảng với lượng hàng tồn kho lớn dẫn đến tình trạng vỡ nợ và phá sản hàng loạt của
các doanh nghiệp1. Điều này gây ra những trở ngại rất lớn cho kinh tế - xã hội nói
chung và sự phát triển của hệ thống ngân hàng nói riêng. Có thể nói trong giai đoạn
hiện nay, đa số các ngân hàng đang ở trong tình trạng “trường” vốn, áp lực kinh
doanh đang đặt nặng vào đầu ra, chính là hoạt động cho vay. Thu nhập của các
Ngân hàng thương mại đến chủ yếu từ cho vay nên trong bối cảnh khó khăn của nền
kinh tế thì để đảm bảo mức doanh lợi kì vọng, các ngân hàng phải tiếp tục nâng cao
chất lượng cho vay.
BIDV Hà Nội là chi nhánh lâu đời nhất của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt Nam. Qua chặng đường 55 năm xây dựng và trưởng thành, BIDV Hà Nội luôn
là một trong những chi nhánh hàng đầu của hệ thống, hoạt động an toàn hiệu quả và
đóng góp những đóng góp không nhỏ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước.

BIDV Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu: Đứng trên giác độ ngân hàng để tập trung nghiên cứu
chất lượng cho vay đối với các doanh nghiệp xây lắp tại BIDV Hà Nội trong giai
đoạn 2010-2012
4. Phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề sử dụng phương pháp thống kê kinh tế, tổng hợp so sánh một
cách logic để làm sáng tỏ các vấn đề đặt ra nhằm tìm ra các giải pháp nâng cao chất
lượng cho vay đối với các doanh nghiệp xây lắp.
5. Kết cấu của Chuyên đề
Ngoài lời mở đầu và kết luận, Chuyên đề được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp xây lắp của ngân hàng
thương mại.
Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp xây lắp tại
BIDV Hà Nội
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp xây lắp tại
BIDV Hà Nội

2


Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Lê Thanh Tâm

CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.1. Hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp xây lắp của Ngân hàng thương
mại
1.1.1. Doanh nghiệp xây lắp
1.1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp xây lắp

* Về các hoạt động cơ bản của doanh nghiệp xây lắp
- Xây dựng
+ Xây dưng các công trình công nghiệp, công cộng và dân dụng: các nhà
máy ( cơ khí, điện, điện tử viễn thông, hóa chất, hóa dầu….), văn phòng, các khu
nhà ở, khách sạn, chung cư, văn phòng, trường học, bệnh viện, trung tâm văn hóa,
trung tâm thương mại…
+ Xây dựng các công trình hạ tầng kĩ thuật: Các công trình giao thông, sân
bay, đê đập, các khu công nghiệp, khu chế xuất, hệ thống cấp thoát nước, xử lí nước
thải, san lấp mặt bằng
+ Xây dựng các công trình điện, hệ thống kiểm tra đo đếm, viễn thông như
nhà máy phát điện, đường dây, trạm biến áp, các hệ thống truyền tải và phân phối,
các hệ thống thiết bị kiểm tra, các công trình và hệ thống thông tin, viễn thông.
- Lắp đặt:
+ Lắp đặt các thiết bị công nghệ, khung nhà công nghiệp, xưởng sản xuất.
+ Lắp đặt các thiết bị tự động, thiết bị điện,…
- Chế tạo
+ Thiết bị phục vụ cho các ngày công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ như:
Dệt may, nhiệt điện, thủy điện, xi măng, dầu khí,...
+ Thiết bị xây dựng, thiết bị bê tông, thiết bị gạch, thiết bị băng tải, gầu tải,..
+ Kết cấu thép, khu nhà công nghiệp, đầm chịu lực, giàn không gian,..
- Tư vấn thiết kế: tư vấn, lập báo cáo nghiên cứu tiền thi, quản lí dự án, khảo
sát địa chất, thiết kế kĩ thuật, thiết kế chi tiết, lập dự toán, giám sát kĩ thuật công
trình, kiểm tra chất lượng các công trình công nghiệp và dân dụng, thiết kế công
trình điện.
* Về sản phẩm
- Sản phẩm xây lắp có quy mô lớn, kết cấu phức tạp nên việc tổ chức sản
xuất, hạch toán, vận hành và quản lí sản phẩm đòi hỏi phải rất chi tiết, cụ thể, tuân
thủ theo quy trình nhất định.
- Sản phẩm xây lắp có thời gian thi công dài, phụ thuộc vào quy mô và tính
kỹ thuật của từng công trình.

mục công trình thi công dở dang. Ngoài ra, khi công trình hoàn thành, công tác
nghiệm thu, quyết toán và thanh toán còn phải phụ thuộc vào chủ đầu tư. Vì vậy,
các doanh nghiệp xây lắp thường xuyên bị chiếm dụng vốn trong thời gian dài nên
tốc độ quay vòng vốn lưu động thường rất thấp, nhu cầu vốn lưu động cho thi công
lớn. Trong khi đó vốn chủ hữu chiếm tỷ lệ nhỏ trên tổng nguồn vốn nên để đủ vốn
hoạt động, các doanh nghiệp xây lắp phải huy động vốn bên ngoài mà chủ yếu là
vốn vay ngân hàng.
- Nhu cầu vốn lưu động thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nhu cầu vốn
cho hoạt động sản xuất kinh doanh:

5


Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Lê Thanh Tâm
Do tính chất hoạt động của doanh nghiệp xây lắp nên cơ cấu vốn có đặc thù
riêng khác với các ngành khác, đó là nhu cầu vốn lưu động cho hoạt động sản xuất
kinh doanh chiếm tỷ trọng lớn nhất. Ngân hàng thường cho vay các doanh nghiệp
xây lắp chủ yếu để tài trợ vốn lưu động phục vụ thi công các công trình. Đối với
nhu cầu đầu tư mới, thay thế và cải tiến máy móc thiết bị, nâng cao năng lực sản
xuất, ngân hàng chỉ tham gia tài trợ một phần, phần còn lại các doanh nghiệp phải
bỏ vốn tự có của mình.
- Khả năng tự chủ về tài chính thấp:
Thực tế hiện nay, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp xây lắp thường chỉ
chiếm khoảng 5-15% trong tổng nguồn vốn, chủ yếu là máy móc thiết bị đã qua sử
dụng và khối lượng hao mòn khá lớn, còn lại là vốn vay ngân hàng và vốn chiếm
dụng khác. Gánh nặng về chi phí lãi vay lớn gây áp lực đến hiệu quả kinh doanh và
tình hình tài chính của doanh nghiệp. Lợi nhuận đạt được không cao nên khả năng
bổ sung vốn chủ sở hữu và đầu tư nâng cao năng lực sản xuất thi công thường bị
hạn chế. Trong khi đó, sản lượng thi công tăng lên cùng với yêu cầu cao về chất

cơ sở hạ tầng ngày càng hiện đại hơn tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành sản xuất
kinh doanh khác phát triển. Bên cạnh đó, sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư,
nguồn nhân lực dồi dào,nguồn nguyên nhiên liệu trong nước, thị trường tiêu thụ
tiềm năng sẽ tạo điều kiện khai thác tối đa nguồn lực đất nước.
Thứ hai, doanh nghiệp xây lắp thu hút lao động, giảm tỉ lệ thất nghiệp trong
xã hội
Các doanh nghiệp xây lắp có sự đa dạng về ngành nghề hoạt động, có phạm
vi ảnh hưởng lớn về cả không gian và thời gian, có công trình trải rộng, cả ở thành
thị lẫn nông thôn. Do đó, việc sử dụng kỹ thuật sản xuất cần tương đối nhiều lao
động. Mỗi bộ phận sản xuất, kinh doanh yêu cầu trình độ lao động khác nhau nên
doanh nghiệp xây lắp là nơi tạo việc làm nhanh và dễ dàng hơn so với các ngành
nghề khác. Hiện nay, các doanh nghiệp xây lắp đang tạo được việc làm cho một bộ
phận lớn lao động, góp phần giải quyết các vấn đề kinh tế-xã hội.
Thứ ba, doanh nghiệp xây lắp đóng góp nguồn thu quan trọng cho Ngân sách
Nhà nước
Hoạt động của doanh nghiệp xây lắp sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp hoạt động
trong các lĩnh vực khác phát triển, làm tăng hiệu quả đầu tư của nền kinh tế, thúc
đẩy quá trình tái sản xuất mở rộng, tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển,
sản phẩm hàng hóa sản xuất ra ngày càng đa đang dạng, phong phú đáp ứng nhu
cầu của người dân, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nhờ đó làm tăng đáng kể
nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước từ thuế và các dịch vụ xã hội.
1.1.2. Cho vay đối với doanh nghiệp xây lắp của ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Khái niệm về cho vay của ngân hàng thương mại
Theo Điều 4 khoản 16 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 của nước ta:
“ Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết
giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một

7



nghiệp xây lắp với vai trò nhà thầu thi công cần vay vốn lưu động để thanh toán các
chi phí phát sinh cho nhà cung cấp đầu vào.
Thứ hai, việc cho vay phải căn cứ trên cơ sở Hợp đồng giao nhận thầu xây
lắp đã được ký kết giữa Bên nhận thầu và Bên giao thầu. Bên giao thầu có thể chính
là chủ đầu tư hoặc là người được chủ đầu tư ủy quyền. Bên cạnh đó, để xác định

8


Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Lê Thanh Tâm
doanh số cho vay đối với mỗi công trình cần dựa vào các yếu tố: Giá trị hợp đồng
xây lắp công trình, vốn tự có và huy động khác tham gia vào công trình là bao
nhiêu? Số tiền ứng chủ đầu tư trước tiền là bao nhiêu? Lợi nhuận định mức của
công trình là bao nhiêu?... từ đó xác định doanh số cho vay đối với mỗi công trình.
Xuất phát từ đặc điểm này, để đảm bảo chất lượng khoản vay và quản lý
được rủi ro trong cho vay thì các ngân hàng thường phải thực hiện cho vay theo
từng công trình, đánh giá hiệu quả kinh doanh, khả năng trả nợ của từng công trình
để đưa ra quyết định cho vay hay không.
Thứ ba, thời gian cho vay vốn lưu động đối với DNXL thường kéo dài hơn
so với thời gian cho vay các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khác như doanh
nghiệp thương mại, sản xuất kinh doanh hàng hóa tiêu dùng. Vì đặc điểm của ngành
xây lắp là thời gian thi công, nghiệm thu, thanh toán và quyết toán của công trình
thường kéo dài, vòng quay vốn lưu động của các doanh nghiệp xây lắp thường lớn
hơn vòng quay vốn lưu động của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khác.
Thứ tư, nguồn trả nợ vay ngân hàng của DNXL là nguồn vốn thanh toán giá
trị khối lượng hoàn thành công trình nên trước khi cho vay ngân hàng phải xác định
rõ nguồn vốn thanh toán của từng công trình về điều kiện thanh toán, thời gian
thanh toán cũng như cơ cấu nguồn vốn thanh toán. Sau khi cho vay phải liên tục
theo dõi chặt chẽ tiến độ thi công, kiểm soát dòng tiền thanh toán để thu hồi nợ vay.

Mục đích cho vay vốn là để DNXL sửa chữa, khôi phục, mua sắm tài sản cố định,
xây dựng trụ sở, kho tàng loại nhỏ với thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Cho vay dài hạn: là các khoản vay có thời hạn trên 5 năm. Mục đích của
cho vay dài hạn là sử dụng vốn vay để đầu tư những công trình có quy mô lớn, mua
sắm tài sản cố định lớn với thời gian thu hồi vốn lâu hơn.
* Căn cứ vào phương thức cho vay
- Cho vay theo hạn mức: Cho vay theo hạn mức tín dụng là hình thức cho
vay thường áp dụng đối với khách hàng có quan hệ lâu năm và có uy tín cao với
ngân hàng. Hạn mức tín dụng được khách hàng và ngân hàng thỏa thuận trên cơ sở
nhận định như phân tích tình hình tài chính, nhu cầu vốn của khách hàng đối với
ngân hàng... Thông thường khách hàng sử dụng hình thức cho vay theo hạn mức tín
dụng sẽ chủ động hơn trong thanh toán. Khi cần vốn khách hàng chỉ cần trình bày
phương án sản xuất kinh doanh cùng các chứng từ chứng minh hợp lệ thì ngân hàng
sẽ cho vay trong hạn mức đã cấp.
- Cho vay theo món: Đây là hình thức phổ biến đối với khách hàng không có
nhu cầu vay vốn thường xuyên hoặc không có đủ điều kiện để được cấp hạn mức tín
dụng. Mỗi lần vay thì khách hàng phải làm thủ tục và hồ sơ xin vay riêng. Ngân
hàng cũng xem xét từng món vay riêng, tiến hành thẩm định và cho vay riêng biệt.
Với hình thức cho vay này, ngân hàng có thể kiểm soát dễ dàng từng món vay riêng
biệt, dễ phát hiện ra sai phạm hơn so với cho vay theo hạn mức.
- Cho vay thấu chi : Ngân hàng cho phép người vay được chi trội trên số dư

10


Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Lê Thanh Tâm
tiền gửi thanh toán của mình một giới hạn nhất đinh (hạn mức thấu chi) trong
khoảng thời gian xác định.
Để được thấu chi khách hàng phải làm đơn xin ngân hàng cấp hạn mức thấu

11


Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Lê Thanh Tâm
1.2. Chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp xây lắp của NHTM
1.2.1. Khái niệm chất lượng cho vay đối với doanh nghiêp xây lắp
Trước khi tìm hiểu về chất lượng cho vay thì chúng ta phải tiếp cận khái niệm
thế nào là chất lượng.
Theo điều 3.1.1 của tiêu chuẩn ISO 9000:2005 định nghĩa chất lượng là: “Mức
độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp có đặc tính vốn có” . Hay nói cách khác
chất lượng là khái niệm đặc trưng cho khả năng thoả mãn nhu cầu. Vì vậy, sản
phẩm hay dịch vụ nào không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì bị coi là
kém chất lượng cho dù trình độ công nghệ sản xuất ra có hiện đại đến đâu đi nữa.
Đánh giá chất lượng cao hay thấp phải đứng trên quan điểm người tiêu dùng. Cùng
một mục đích sử dụng như nhau, sản phẩm nào thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cao hơn
thì có chất lượng cao hơn.
Chất lượng cho vay là phạm trù khó lượng hóa và khá phức tạp, vì vậy có nhiều
quan niệm về chất lượng cho vay như sau:
Quan niệm thứ nhất, theo Giáo trình Quản trị NHTM-GS.TS Nguyễn Văn Tiến
2012 thì chất lượng cho vay là một phạm trù phản ánh mức độ rủi ro và sinh lời
trong bảng tổng hợp cho vay của một tổ chức tín dụng.
Quan niệm thứ hai, theo Quản trị ngân hàng thương mại - GS.TS Lê Văn Tư
2005 thì chất lượng cho vay là một thuật ngữ phản ánh mức độ an toàn của khoản
vay đồng thời đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng trong từng thời kì.
Quan niệm thứ ba, theo quan điểm của vi.wikipedia.org thì có thể hiểu đơn

giản chất lượng tín dụng là một phạm trù được dùng để phản ánh mức độ rủi ro
trong bảng tổng hợp cho vay của một tổ chức tín dụng.
Từ ba quan niệm về chất lượng cho vay như trên ta có thể khái quát và suy rộng

lượng là khoản vay đáp ứng được về quy mô, kì hạn vay, phù hợp với yêu cầu của
khách hàng đồng thời có chi phí vốn (lãi suất cho vay) là thấp hơn so với những
nguồn khác mà doanh nghiệp có thể huy động được từ thị trường. Ngoài ra, đối với
những doanh nghiệp đã đặt mối quan hệ lâu dài với ngân hàng, họ còn mong muốn
được hưởng mức lãi suất ưu đã khi trở thành khách hàng thân thiết của ngân hàng.
Bên cạnh đó, một khoản vay được coi là chất lượng không chỉ mang lại lợi nhuận
tức thời mà còn phải mang lại lợi nhuận trong dài hạn cho ngân hàng. Chính vì vậy,
mức độ hài lòng của DNXL về các khoản vay cũng như tác động của vốn vay đến
việc thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp sẽ đánh giá một phần chất lượng cho
vay.
Trong nhiều trường hợp, khả năng sinh lời cao và mức độ an toàn của khoản vay
không biến động cùng chiều. Vì vậy, để đảm bảo chất lượng cho vay ngân hàng cần
phải cân bằng lợi nhuận thu được và rủi ro dự kiến sẽ xảy ra.
1.2.2. Sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp
xây lắp của NHTM
Nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ làm tăng tính cạnh tranh trên thi
trường để giúp doanh nghiệp có thể đứng vững, mở rộng quy mô là điều hết sức cần
thiết.
Ngân hàng thương mại-một loại hình doanh nghiệp đặc biệt chuyên kinh

13


Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Lê Thanh Tâm
doanh tiền tệ, là đầu mối cung cấp vốn chủ yếu cho các DNXL thì nâng cao chất
lượng cho vay nói chung và nâng cao chất lượng cho vay đối với DNXL nói riêng
có ý nghĩa quan trọng với Ngân hàng, doanh nghiệp và cả với nền kinh tế.
- Đối với ngân hàng:
Nâng cao chất lượng cho vay trước hết ngân hàng phải nâng cao chất lượng


Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Lê Thanh Tâm
2.2.3.1. Dựa trên các chỉ tiêu phản ánh quy mô, tốc độ tăng trưởng và cơ cấu dư nợ
cho vay đối với DNXL
• Về quy mô và tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay đối với DNXL
Chỉ tiêu tổng dư nợ cho vay DNXL: phản ánh quy mô cho vay đối với
DNXL, là con số tuyệt đối nói lên quy mô của hoạt động này tại ngân hàng.
Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay DNXL lại thể hiện khả
năng mở rộng quy mô và các hình thức cho vay qua các thời kỳ. Tốc độ tăng trưởng
dư nợ cho vay DNXL được tính theo công thức:
Tốc độ tăng trưởng
dư nợ cho vay DNXL

=

Dư nợ kỳ n – Dư nợ kỳ (n-1)
Dư nợ kỳ (n-1)

x 100%

Nếu tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay DNXL cao cho thấy ngân hàng đã
tạo được uy tín đối với các DNXL, đã và đang mở rộng thị phần trong ngành
XDCB và có khả năng tiếp thị khách hàng DNXL tốt hơn. Tuy nhiên tăng trưởng
cho vay đối với DNXL phải phù hợp với khả năng về vốn, quản lý rủi ro cũng như
các nguồn lực về con người, công nghệ của ngân hàng. Việc tăng trưởng dư nợ cho
vay đối với DNXL vượt quá khả năng của ngân hàng sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro và việc
ngân hàng không đủ điều kiện nguồn lực để kiểm soát chặt chẽ các khoản vay sẽ
ảnh hưởng xấu đến chất lượng hoạt động cho vay.
• Về cơ cấu dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp xây lắp

• Nợ quá hạn và nợ xấu của DNXL
+Nợ quá hạn
Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 và Quyết định số
18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 : “Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc
toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn”. Một khoản vay không trả đầy đủ, đúng hạn
như thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng thì trở thành nợ quá hạn.
Tỷ lệ nợ quá hạn là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả
cho vay của ngân hàng, phản ánh những rủi ro trong hoạt động cho vay mà ngân
hàng phải đối mặt. Tỷ lệ này được xác định qua công thức sau :
Tỷ lệ nợ quá hạn cho vay
DNXL

=

Dư nợ quá hạn cho vay DNXL
Tổng dư nợ cho vay DNXL

Chỉ tiêu nợ quá hạn cho biết trong tổng dư nợ cho vay doanh nghiệp xây lắp
của ngân hàng có bao nhiêu % là nợ quá hạn.
Các khoản nợ quá hạn phát sinh có thể do những nguyên nhân như trình độ
quản lý của khách hàng yếu kém, công nghệ sản xuất lạc hậu hay do sự thay đổi
trong chính sách của Nhà nước, sự thay đổi nguồn nguyên vật liệu đầu vào …
Nguyên nhân các khoản nợ quá hạn cũng khác nhau, có khoản nợ do khách hàng
gặp khó khăn tạm thời, chậm thanh toán nhưng cũng có khách hàng đình trệ sản
suất, thua lỗ nặng nề, không có khả năng trả nợ hay có khách hàng cố tình chây ỳ
không có ý thức trả nợ cho ngân hàng.
Nếu ngân hàng có nhiều khoản nợ, tỷ lệ nợ quá hạn cao, ngân hàng sẽ gặp
nhiều khó khăn, tình trạng kéo dài sẽ ảnh hưởng đến sự tồn tại của ngân hàng. Tỷ lệ
nợ quá hạn cao, tính an toàn của khoản vay thấp, ngân hàng đứng trước nguy cơ
mất vốn và có thể dẫn đến mất khả năng thanh toán. Tỷ lệ nợ quá hạn thấp cho thấy

hàng chưa chú trọng đúng mức tới các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng cho
vay.
-Nợ xấu
Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 : “Nợ xấu (NPL)
là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5”và “ Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ giữa nợ xấu so với tổng
nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5”.
Đồng thời theo Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 sửa đổi,
bổ sung Điều 6 Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN về phân loại nợ vào các nhóm
như sau:
1. Tổ chức tín dụng thực hiện phân loại nợ theo năm (05) nhóm như sau:
a) Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi
đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn;
- Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả
năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn

17


Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Lê Thanh Tâm
còn lại;
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 1 theo quy định tại Khoản 2 Điều
này.
b) Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;
- Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là
doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về
khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu);
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Khoản 3 Điều

hạn hoặc đã quá hạn;
- Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý;
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại Khoản 3 Điều
này.
2. Tổ chức tín dụng có thể phân loại lại các khoản nợ vào nhóm nợ có rủi ro
thấp hơn trong các trường hợp sau đây:
a) Đối với các khoản nợ quá hạn, tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ
có rủi ro thấp hơn (kể cả nhóm 1) khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:
- Khách hàng trả đầy đủ phần nợ gốc và lãi bị quá hạn (kể cả lãi áp dụng đối
với nợ gốc quá hạn) và nợ gốc và lãi của các kỳ hạn trả nợ tiếp theo trong thời gian
tối thiểu sáu (06) tháng đối với khoản nợ trung và dài hạn, ba (03) tháng đối với các
khoản nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn;
- Có tài liệu, hồ sơ chứng minh các nguyên nhân làm khoản nợ bị quá hạn đã
được xử lý, khắc phục;
- Tổ chức tín dụng có đủ cơ sở (thông tin, tài liệu kèm theo) đánh giá là
khách hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại.
b) Đối với các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ, tổ chức tín dụng phân loại
lại vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn (kể cả nhóm 1) khi đáp ứng đầy đủ các điều
kiện sau đây:
- Khách hàng trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại
trong thời gian tối thiểu sáu (06) tháng đối với các khoản nợ trung và dài hạn, ba
(03) tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và
lãi theo thời hạn được cơ cấu lại;
- Có tài liệu, hồ sơ chứng minh các nguyên nhân làm khoản nợ phải cơ cấu
lại thời hạn trả nợ đã được xử lý, khắc phục;
- Tổ chức tín dụng có đủ cơ sở (thông tin, tài liệu kèm theo) để đánh giá là
khách hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn đã được cơ cấu lại
còn lại.
3. Tổ chức tín dụng phải chuyển khoản nợ vào nhóm có rủi ro cao hơn trong
các trường hợp sau đây:

toán, tỷ lệ nợ trên vốn và dòng tiền) hoặc khả năng trả nợ của khách hàng bị suy
giảm liên tục hoặc có biến động lớn theo chiều hướng suy giảm;
- Khách hàng không cung cấp đầy đủ, kịp thời và trung thực các thông tin tài
chính theo yêu cầu của tổ chức tín dụng để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng.
Tỷ lệ nợ xấu cho biết cụ thể về chất lượng cho vay dựa trên cơ sở khả năng
thu hồi của các khoản nợ. Một ngân hàng có dư nợ xấu cao thì chất lượng cho vay
được đánh giá là thấp bởi điều này đồng nghĩa với khả năng mất vốn cao của ngân
hàng. Chất lượng cho vay DNXL cao phải đồng nghĩa với nợ xấu thấp và nợ nhóm
2 ở mức độ chấp nhận được vì nợ nhóm 2 tuy chưa được coi là nợ xấu nhưng luôn

20


Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Lê Thanh Tâm
có nguy có phát sinh thêm nợ xấu . Các ngân hàng luôn tìm mọi biện pháp để giảm
bớt tỷ lệ nợ nhóm 2.
• Tỷ lệ dư nợ cho vay đối với DNXL có tài sản bảo đảm
Tỷ lệ dư nợ cho vay
DNXL có tài sản bảo đảm

=

Dư nợ cho vay DNXL có tài sản bảo đảm
Tổng dư nợ DNXL

Tỷ lệ này càng cao càng tốt. Tài sản bảo đảm của các DNXL chủ yếu là máy
móc thiết bị thi công, phương tiện vận tải, giá trị nhà xưởng, khối lượng xây dựng
cơ bản hoàn thành… Tài sản bảo đảm không phải là căn cứ duy nhất để ngân hàng
xem xét cho vay. Tuy nhiên , đây là một trong những công cụ để nâng cao trách nhiệm

Nhóm 5: 100%

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status