nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp xây lắp tại ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển việt nam – chi nhánh hà nội - Pdf 23

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

NGUYỄN THỊ DIỆU LINH
N¢NG CAO CHÊT L¦îNG CHO VAY NG¾N H¹N §èI VíI
DOANH NGHIÖP X¢Y L¾P T¹I NG¢N HµNG THƯƠNG M IẠ
C PH N §ÇU T¦ Vµ PH¸T TRIÓN VIÖT NAMỔ Ầ
CHI NH¸NH Hµ NéI
Chuyên ngành : Kinh tế tài chính - Ngân hàng
Mã số : 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ KIM NHUNG
HÀ NỘI - 2012
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học,
độc lập của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có
nguồn gốc rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Diệu Linh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 4
TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG CHO
VAY NGẮN HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP XÂY LẮP 4
1.1. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG, NGUYÊN TẮC CHO
VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1.1. Tổng quan về ngân hàng thương mại 4
1.1.2. Hoạt động và nguyên tắc cho vay của Ngân hàng thương mại 6
1.2. DOANH NGHIỆP XÂY LẮP VÀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGẮN HẠN

56
2.2.2. Thực trạng cho vay ngắn hạn đối với các doanh nghiệp xây lắp tại BIDV
Hà Nội 63
2.2.3. Phân tích chất lượng cho vay ngắn hạn đối với các DNXL tại BIDV Hà
Nội 68
2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP XÂY LẮP TẠI BIDV HÀ NỘI 76
2.3.1. Những kết quả đạt được 77
2.3.2. Những hạn chế tồn tại và nguyên nhân 78
CHƯƠNG 3 86
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY NGẮN HẠN 86
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XÂY LẮP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
86
CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH HÀ
NỘI 86
3.1. ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG BIDV HÀ NỘI
TRONG THỜI GIAN TỚI 86
3.1.1. Định hướng chung của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát
triển Việt Nam giai đoạn 2011-2015 86
3.1.2. Định hướng hoạt động năm 2012 tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu
tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hà Nội 88
3.2. CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY NGẮN HẠN
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 89
3.2.1. Hoàn thiện chiến lược nâng cao chất lượng cho vay nói chung và cho vay
ngắn hạn đối với doanh nghiệp xây lắp nói riêng 89
3.2.2. Xây dựng chiến lược Marketing 93
3.2.3. Hoàn thiện quy trình, chính sách cho vay đối với doanh nghiệp xây lắp. .95
3.2.4. Hoàn thiện hệ thống định hạng tín dụng đối với khách hàng vay vốn 96
3.2.5. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong
hoạt động cho vay ngắn hạn 100

VLXD Vật liệu xây dựng
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ
Sơ đồ, bảng biểu:
LỜI CAM ĐOAN 3
Sơ đồ 2.1: Mô hình hoạt động tại BIDV Hà Nội 48
Bảng 2.1: Kết quả kinh doanh của BIDV Hà Nội giai đoạn 2009 - 2011 50
2.1.3.1. Về lợi nhuận trước thuế 50
Bảng 2.2: Tình hình huy động vốn của BIDV Hà Nội giai đoạn 2009 - 2011
52
2.1.3.1. Tình hình sử dụng vốn 54
Bảng 2.3: Tình hình sử dụng vốn của BIDV Hà Nội giai đoạn 2009 - 2011. 55
Bảng 2.4: Tình hình dư nợ cho vay đối với DNXL tại BIDV Hà Nội 64
giai đoạn 2009 - 2011 64
Bảng 2.5: Cơ cấu dư nợ cho vay ngắn hạn phục vụ thi công xây lắp 65
Bảng 2.6: Doanh số cho vay ngắn hạn đối với DNXL 66
giai đoạn 2009 - 2011 66
Bảng 2.7: Doanh số thu nợ ngắn hạn đối với DNXL giai đoạn 2009 - 2011. 67
Bảng 2.8: Tỷ lệ dư nợ cho vay ngắn hạn đối với DNXL có TSĐB 69
giai đoạn 2009 - 2011 69
Bảng 2.9: Tỷ lệ nợ ngắn hạn quá hạn của DNXL giai đoạn 2009-2011 71
Bảng 2.10: Tỷ lệ TLDP cụ thể đối với từng nhóm nợ 74
Bảng 2.11: Tỷ trọng thu nhập từ hoạt động cho vay đối với DNXL 76
giai đoạn 2009-2011 76
Bảng 3.1: Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ 97
Biểu đồ:
Biểu đồ 2.1: Lợi nhuận trước thuế tại BIDV Hà Nội giai đoạn 2009 - 2011.51
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu huy động vốn của BIDV Hà Nội theo khách hàng 53
giai đoạn 2009 - 2011 53
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu sử dụng vốn tại BIDV Hà Nội theo kỳ hạn 55

Việt Nam trong lĩnh vực cho vay đầu tư xây dựng cơ bản, xây lắp các công trình
phục vụ kiến thiết đất nước. Bằng nguồn vốn cho vay, BIDV Hà Nội đã giúp cho
các doanh nghiệp là các Chủ đầu tư và các Nhà thầu thi công xây dựng nhiều
công trình trọng điểm quốc gia góp phần phát triển kinh tế đất nước đồng thời
phân loại, lựa chọn các doanh nghiệp có năng lực thi công, khả năng thích nghi
và đáp ứng tốt những điều kiện phát triển trong nền kinh tế hội nhập, cạnh tranh
để hỗ trợ, song hành cùng với các doanh nghiệp tồn tại và phát triển vững chắc.
Hiện nay, theo định hướng của hệ thống, BIDV Hà Nội đã và đang hướng
tới là một Chi nhánh Ngân hàng kinh doanh đa năng, tổng hợp, đa dạng các loại
hình cung cấp dịch vụ đồng thời không ngừng mở rộng thị phần, mở rộng đối
tượng khách hàng. Tuy nhiên, với hơn nửa thế kỷ lịch sử hình thành và phát
triển, nhóm khách hàng truyền thống chủ yếu hiện nay của BIDV Hà Nội vẫn là
1
các khách hàng hoạt động trong lĩnh vực thi công xây lắp. Các loại hình dịch vụ
chủ yếu mà BIDV Hà Nội cung cấp cho nhóm đối tượng khách hàng này là: Cho
vay bổ sung vốn lưu động ngắn hạn, cho vay đầu tư tài sản, cấp bảo lãnh, các
dịch vụ thanh toán trong và ngoài nước… trong đó sản phẩm dịch vụ chiếm tỷ
trọng lớn và mang lại thu nhập cao cho BIDV Hà Nội là cho vay bổ sung vốn
lưu động ngắn hạn. Mặt khác, trong giai đoạn hiện nay, các doanh nghiệp xây
lắp đang đứng trước những khó khăn, thử thách, đặc biệt là thiếu vốn, thiếu thiết
bị thi công… nên ảnh hưởng lớn đến khả năng thi công và đảm bảo tiến độ công
trình đúng theo yêu cầu đặt ra, do vậy làm ảnh hưởng lớn đến khả năng trả nợ
cho Ngân hàng, dẫn đến ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
Xuất phát từ thực tiễn trên, học viên đã lựa chọn đề tài: “Nâng cao chất
lượng cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp xây lắp tại Ngân hàng thương
mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội” để làm đề
tài cho luận văn thạc sĩ của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu những lý luận chủ yếu liên quan đến hoạt động của các ngân
hàng thương mại (NHTM) nói chung và hoạt động cho vay ngắn hạn đối với các

TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG CHO
VAY NGẮN HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP XÂY LẮP
1.1. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG, NGUYÊN TẮC
CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Tổng quan về ngân hàng thương mại
1.1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại (NHTM) là một trong các tổ chức tài chính quan trọng
nhất của nền kinh tế, là công cụ thực hiện các chính sách kinh tế, chính sách tiền tệ
của Chính phủ nhằm ổn định và phát triển kinh tế vĩ mô của mỗi quốc gia.
Ngân hàng là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết nền kinh tế.
Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hội
đều gửi tiền tại ngân hàng. Ngân hàng đóng vai trò là người thủ quỹ cho toàn xã
hội. Ngân hàng là tổ chức cho vay chủ yếu đối với các doanh nghiệp, cá nhân, hộ
gia đình và một phần đối với Nhà nước. Khi doanh nghiệp và người tiêu dùng
phải thanh toán cho các khoản mua hàng hoá và dịch vụ, họ thường sử dụng séc,
uỷ nhiệm chi, thẻ tín dụng hay tài khoản điện tử… Và khi họ cần thông tin tài
chính hay lập kế hoạch tài chính, họ thường đến các ngân hàng để được tư vấn.
Các khoản tín dụng của ngân hàng cho Chính phủ là nguồn tài chính quan trọng
để đầu tư phát triển.
Theo Luật Các tổ chức tín dụng được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm
2010: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các
hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng 2010. Theo
tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng
thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã”.
1.1.1.2. Chức năng và hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
Là trung gian tài chính: Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với
4
hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai

là việc NHTM tham gia kinh doanh ngoại tệ trên thị trường hối đoái với tư cách
kinh doanh cho khách hàng (ngân hàng hưởng phí dịch vụ) và kinh doanh cho
chính bản thân ngân hàng. NHTM tiến hành mua bán ngoại tệ trên thị trường
giao ngay hay thực hiện các giao dịch mua bán kỳ hạn các loại ngoại tệ và hưởng
phí dịch vụ.
Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán:Ngân hàng
thực hiện việc cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán theo yêu
cầu của cá nhân và doanh nghiệp.
Ngoài ra, ngân hàng còn thực hiện cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn,
cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán, cung cấp dịch vụ bảo hiểm, dịch
vụ đại lý
1.1.2. Hoạt động và nguyên tắc cho vay của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Khái niệm hoạt động cho vay, nguyên tắc cho vay của NHTM
• Khái niệm
Theo Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc
NHNN về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng,
hoạt động cho vay được hiểu là một hình thức cấp tín dụng, theo đó, tổ chức tín dụng
giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian
nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
• Nguyên tắc
Hoạt động cho vay trước tiên phải được đặt trên quan hệ tín nhiệm, do đó
doanh nghiệp muốn vay vốn được từ ngân hàng thì phải tạo được uy tín, niềm tin
đối với ngân hàng trên cơ sở đáp ứng đầy đủ các điều kiện vay vốn của ngân
hàng. Ngân hàng cho doanh nghiệp vay cần đảm bảo 3 nguyên tắc:
- Doanh nghiệp phải sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong
hợp đồng vay vốn:
Việc sử dụng vốn vay vào mục đích gì được ngân hàng và doanh nghiệp
thỏa thuận và ghi trong hợp đồng vay vốn. Doanh nghiệp phải cam kết sử dụng vốn
vay đúng mục đích thỏa thuận nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn vay và khả
năng thu hồi nợ sau này. Do vậy, về phía ngân hàng, trước khi cho vay cần tìm hiểu

Cho vay dài hạn: là các khoản vay có thời hạn từ trên 5 năm.
7
• Căn cứ theo hình thức tài trợ vốn vay: Có cho vay Thấu chi, Cho
vay trực tiếp từng lần, Cho vay theo hạn mức, Cho vay luân chuyển, Cho vay trả
góp, Cho vay gián tiếp.
• Căn cứ theo TSĐB vốn vay: gồm có Cho vay có TSĐB, Cho vay
không có TSĐB
1.1.2.3. Hoạt động cho vay ngắn hạn của NHTM
Hoạt động cho vay ngắn hạn của các NHTM nhằm tài trợ cho tài sản lưu
động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn của Nhà nước, doanh nghiệp, hộ sản
xuất và nguồn vốn này tham gia vào hầu hết các khâu trong hoạt động tạo ra sản
phẩm phục vụ nhu cầu của con người từ khâu sản suất đến khâu lưu thông, tiêu
thụ sản phẩm.
Đối tượng, mục đích cho vay ngắn hạn của các NHTM cũng rất đa dạng,
phong phú:
- Cho Nhà nước vay để tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
- Cho vay đối với các tổ chức tài chính khác như các ngân hàng, các công ty
tài chính, quỹ tín dụng… nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản.
- Cho vay đối với doanh nghiệp nhằm tài trợ, bổ sung nhu cầu vốn lưu động
cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Các NHTM căn cứ quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, quy chế cho
vay của NHNN để xây dựng chính sách cấp tín dụng phù hợp với định hướng
kinh doanh của hệ thống trong từng thời kỳ. Tuy nhiên hiên nay, để được vay
vốn, trừ trường hợp Nhà nước hoặc cơ quan Nhà nước, các tổ chức tài chính có
uy tín, còn lại các doanh nghiệp, các công ty và hộ sản xuất đều phải có phương
án sản xuất kinh doanh khả thi và TSĐB nợ vay theo quy định của Ngân hàng.
Ngân hàng thực hiện phân tích toàn diện về khách hàng vay vốn, xác định hiệu
quả sử dụng vốn vay, rủi ro, khả năng và nguồn trả nợ Ngân hàng và các vấn đề
liên quan khác.
Một số trường hợp ngân hàng không phân tích được phương án vay (do

đó, sản phẩm xây lắp cũng có đặc điểm riêng, khác với sản phẩm hàng hóa của
ngành sản xuất vật chất khác ở chỗ mỗi sản phẩm đều có yêu cầu riêng về công
nghệ, về quy phạm, về tiện nghi, về mỹ quan và sự an toàn. Những đặc điểm riêng
9
của ngành và đặc điểm của sản phẩm xây lắp sẽ chi phối công tác tổ chức quản lý,
điều hành. Việc nghiên cứu nắm rõ các đặc điểm này, giúp ngân hàng đưa ra
những quyết định chính xác, nắm rõ được những rủi ro và đề ra những phương án
khắc phục rủi ro, nhằm tiến hành cho vay, bảo lãnh có hiệu quả.
Trong xây dựng người ta thường phân biệt giữa một bên là Chủ đầu tư
(bên A) và Doanh nghiệp thi công xây lắp - thường được gọi là các Nhà thầu
(bên B). Các doanh nghiệp thi công xây lắp là các đơn vị ký hợp đồng thi công
xây lắp trực tiếp với Chủ đầu tư hoặc nhận lại một phần việc thi công xây lắp
công trình từ các Nhà thầu chính (còn gọi các doanh nghiệp này là các Nhà thầu
phụ), chịu trách nhiệm trong vấn đề xây dựng các công trình theo thiết kế của
Chủ đầu tư. Hiện nay, hầu hết các công trình, hạng mục công trình sử dụng
nguồn vốn ngân sách, Chủ đầu tư là các doanh nghiệp Nhà nước đều được thực
hiện tổ chức đấu thầu hoặc chỉ định thầu theo quy chế đấu thầu của Chính phủ
nhằm chọn được các nhà thầu có đầy đủ tư cách pháp nhân, năng lực thi công
thực sự với chất lượng đảm bảo và giá cả hợp lý.
• Đặc điểm về sản xuất kinh doanh:
Các hoạt động sản xuất chính của Doanh nghiệp xây lắp (DNXL) là:

Chế tạo các sản phẩm thuộc các loại hình:
- Các loại thiết bị phục vụ cho các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp
nhẹ như: Dệt may, nhiệt điện, thuỷ điện, xi măng, dầu khí……
- Thiết bị xây dựng, thiết bị bê tông, thiết bị gạch, thiết bị băng tải, gầu tải,
vít tải, thiết bị lọc bụi tĩnh điện, lọc bụi túi…
- Kết cấu thép, khung nhà công nghiệp, đầm chịu lực, giàn không gian.
- Thiết bị phi tiêu chuẩn, đường ống công nghiệp.
- Các loại bình bể, silo chứa.

quản lý phù hợp với đặc điểm của đơn vị mình.
- Đối với các doanh nghiệp là các tập đoàn, các Tổng công ty: Cơ cấu tổ chức
được xây dựng theo mô hình Công ty mẹ- Công ty con, công ty liên doanh, liên kết…
hoạt động kinh doanh theo định hướng, kế hoạch của Công ty mẹ.
- Đối với các Công ty cổ phần, các công ty cổ phần có quy mô vốn, tài sản
tương đối lớn: Thực hiện cơ cấu tổ chức theo mô hình Công ty mẹ- Công ty con
kết hợp với việc thành lập các Chi nhánh, văn phòng đại diện, các xí nghiệp hạch
toán phụ thuộc, các nhà máy, trung tâm… Số lượng, quy mô và loại hình tổ chức
được hình thành, sắp xếp phù hợp với quy mô hoạt động, sản xuất kinh doanh
11
của từng doanh nghiệp.
- Đối với các DNXL có quy mô vừa và nhỏ: Mô hình tổ chức quản lý sẽ
được bố trí xắp xếp gọn nhẹ, đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh.
• Đặc điểm của sản phẩm xây lắp:
Thứ nhất, sản phẩm xây lắp có tính đơn chiếc, riêng lẻ.
Mỗi một sản phẩm xây lắp đều được thiết kế riêng theo mục đích sử dụng
riêng. Mỗi công trình đều có yêu cầu riêng về kỹ thuật, về quy phạm, về tiện
nghi, về mỹ quan, về an toàn… Do đó, khối lượng, chất lượng và chi phí xây
dựng của mỗi công trình đều khác nhau.
Từ đặc điểm này cho thấy sản phẩm xây lắp có thể giống nhau về hình
thức, song về kết cấu, chất lượng thì không giống nhau hoàn toàn nếu xây dựng
ở những địa điểm khác nhau. Nên mặc dù có thể sản xuất hàng loạt theo mẫu
thiết kế thống nhất nhưng chi phí xây dựng không thống nhất. Mỗi công trình, dự
án đầu tư đều bị chi phối bởi các điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, hoàn cảnh
khách quan… nên chi phí xây dựng cũng khác nhau. Do đó, trong xây dựng luôn
đòi hỏi phải có dự toán cụ thể cho từng công trình, từng hạng mục công trình và
dự toán chi tiết theo thiết kế tổ chức thi công, dự án gắn liền với việc chấp hành
nghiêm chỉnh quy trình, quy phạm kỹ thuật. Quá trình sản xuất xây lắp phải so
sánh với dự toán, lấy dự toán làm thước đo, đồng thời để giảm bớt rủi ro phải
mua bảo hiểm cho công trình xây lắp.

sản xuất dài. Do đó, vốn đầu tư bỏ vào để xây dựng dễ bị ứ đọng, gây lãng phí,
hoặc ngược lại nếu thiếu vốn sẽ làm công tác thi công bị gián đoạn, kéo dài thời
gian xây dựng. Từ đặc điểm này yêu cầu trong công tác quản lý phải có kế hoạch
thi công rõ ràng, hợp lý, có biện pháp kỹ thuật thi công tốt để rút ngắn thời gian
xây dựng, tiết kiệm chi phí, hạ thành sản phẩm. Trên góc độ tài chính đòi hỏi phải
có giải pháp quản lý chi phí và quản lý công tác thanh toán vốn đầu tư giữa Chủ
đầu tư với Nhà thầu, giữa Chủ đầu tư với cơ quan cấp vốn đầu tư xây dựng …
Thứ tư, sản phẩm xây lắp có thời gian sử dụng lâu dài, chất lượng của sản
phẩm có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả hoạt động của các ngành khác.
Sản phẩm của các ngành sản xuất vật chất khác thường có thời gian sử
dụng ngắn. Sản phẩm của ngành xây lắp là các công trình xây dựng mang tính
13
chất là tài sản cố định nên có thời gian sử dụng rất lâu dài và tham gia vào nhiều
chu kỳ sản xuất, sử dụng nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu. Từ
đặc điểm này đòi hỏi chất lượng công trình phải tốt. Muốn vậy phải chú trọng
nâng cao chất lượng công tác quản lý kinh tế và chất lượng xây dựng ở tất cả các
khâu công tác: điều tra, khảo sát, lập dự án đầu tư, nghiệm thu, quyết toán vốn
đầu tư dự án hoàn thành và chế độ bảo hành công trình.
Do đặc điểm thời gian sử dụng dài, tuổi thọ cao, nên sai lầm trong xây dựng
sẽ gây tổn thất lớn cả về giá trị và chất lượng công trình, từ đó gây ra những hậu
quả trong ngắn hạn và dài hạn. Do đó, trong quá trình thực hiện phải giám sát chặt
chẽ mọi hoạt động và các chi phí phát sinh ở từng giai đoạn xây dựng và giám sát
chất lượng công trình. Đó là công việc thường xuyên, hàng ngày để đảm bảo nguồn
vốn được sử dụng đúng mục đích và chất lượng công trình được đảm bảo.
Thứ năm, đối tượng hạch toán chi phí cụ thể của DNXL là các hạng mục
công trình, các giai đọn của hạng mục hay nhóm hạng mục. Điều này khiến cho
việc lập dự toán chi phí và tính giá thành phải tiến hành thường xuyên và chia theo
từng hạng mục công trình hay theo giai đoạn của từng hạng mục công trình. Trong
khi đó, một đặc điểm cốt yếu của các sản phẩm xây lắp là phải bỏ nhiều chi phí
trong thời gian kéo dài khiến chu kỳ sản xuất có độ dài lớn hơn hẳn so với các chu

đi lại. Nhà máy được xây dựng xong phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh của
các ngành sản xuất khác. Do vậy, sản phẩm của ngành xây lắp có liên quan trực
tiếp và gián tiếp tới hoạt động của nhiều ngành khác, có liên quan tới nhiều vùng,
nhiều địa phương. Từ đó, đòi hỏi cần phải chú ý cân nhắc kỹ các dự án đầu tư
trước khi triển kha như: Cần có sự đánh giá kỹ lưỡng trên các giác độ về quy
hoạch tổng thể, kỹ thuật, kinh tế, thị trường, các tác động kinh tế - xã hội của sản
phẩm tới kinh tế vĩ mô và tới các ngành, lĩnh vực khác.
Thứ tám, sản phẩm xây lắp mang tính tổng hợp về mặt kỹ thuật, kinh tế,
xã hội, văn hóa, nghệ thuật và quốc phòng.
Đặc điểm này có thể dẫn đến phát sinh các mâu thuẫn, mất cân đối trong
mối quan hệ tổng hợp giữa các mục tiêu, tiêu chí mà sản phẩm cần đạt được
trong sự phối hợp giữa các khâu từ quá trình chuẩn bị đầu tư, chuẩn bị xây dựng
cho đến quá trình thi công. Để khắc phục tình trạng này đòi hỏi phải có trình độ
15
tổ chức, phối hợp các khâu từ công tác thẩm định dự án, chuẩn bị đấu thầu, giám
sát thi công…
• Đặc điểm về tình hình tài chính của các DNXL:
Thứ nhất, vốn tự có của DNXL thấp, chủ yếu tồn tại dưới dạng máy móc
thiết bị đã qua sử dụng, trụ sở doanh nghiệp. Thực tế hiện nay, vốn chủ sở hữu
của DNXL chỉ chiếm khoảng 5 -15% trong tổng số nguồn vốn của doanh nghiệp,
còn lại là vốn vay ngân hàng và các nguồn vốn chiếm dụng khác. Do đó, gánh
nặng về chi phí lãi vay lớn gây áp lực đến hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp. Trong khi đó, do sản lượng thi công tăng lên cùng với yêu cầu cao về
chất lượng công trình đòi hỏi doanh nghiệp phải có vốn lưu động lớn cũng như
trang bị những thiết bị thi công hiện đại. Vì vậy, nhu cầu vốn (cả vốn ngắn hạn
và vốn đầu tư trung, dài hạn) ngày càng tăng. Do đó, trong hoạt động của các
đơn vị này, nhu cầu vay vốn ngân hàng để hoạt động là thường xuyên và rất lớn.
Thứ hai, nhu cầu vốn lưu động của DNXL thường chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Các ngân hàng thường cho vay các DNXL để bổ sung vốn lưu động, phục vụ thi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status