skkn nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy tác phẩm trữ tình ngữ văn 9 trường TH và THCS hoàng châu qua việc nghiên cứu và tìm hiểu nhãn tự trong thơ - Pdf 34

NCKHSPƯD: Nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy tác phẩm trữ tình - Ngữ Văn 9- trường
TH và THCS Hoàng Châu qua việc nghiên cứu và tìm hiểu "Nhãn tự" trong thơ.

MỤC LỤC
Nội dung

STT

Trang

1.

TÓM TẮT ĐỀ TÀI

1

2.

GIỚI THIỆU

2

2.1.

Hiện trạng

2

2.2.

Giải pháp thay thế

Thiết kế

3

3.3.

Quy trình nghiên cứu

4

3.4.

Đo lường

4

4.

PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ

6

4.1.

Trình bày kết quả

6

4.2.


7

5.2.2. Đối với giáo viên

7

6.

TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

8

7.

MINH CHỨNG - PHỤ LỤC CHO ĐỀ TÀI

9

[Type text]

[Type text]
[Type text]


NCKHSPƯD: Nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy tác phẩm trữ tình - Ngữ Văn 9- trường
TH và THCS Hoàng Châu qua việc nghiên cứu và tìm hiểu "Nhãn tự" trong thơ.

1. TÓM TẮT ĐỀ TÀI:
Việc dạy văn, học văn là khó. Còn khó hơn khi dạy tác phẩm trữ tình sao
cho học sinh có hứng thú và tạo được sự say mê học tập ở các em. Là một giáo

[Type text]
[Type text]


NCKHSPƯD: Nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy tác phẩm trữ tình - Ngữ Văn 9- trường
TH và THCS Hoàng Châu qua việc nghiên cứu và tìm hiểu "Nhãn tự" trong thơ.

tác động đã có ảnh hưởng rõ rệt đến việc giảm số lượng học sinh yếu kém và nâng
cao được hứng thú học tập tác phẩm thơ trữ tình - ở phân môn Ngữ văn.
2. GIỚI THIỆU:
2.1. Hiện trạng:
Qua 14 năm giảng dạy và dự giờ thăm lớp, tôi nhận thấy việc phát hiện và
giúp học sinh tiếp cận "nhãn tự" trong thơ của một số giáo viên còn hạn chế. Có
thể nói, nhiều chị em giáo viên phát hiện ra "nhãn tự" trong thơ nhưng hiểu về nó
chưa cặn kẽ, thấu đáo, vì thế việc bình và cảm thụ thơ của giáo viên chưa đạt đến
độ sâu, độ "chín", chưa có sự rung động thực sự, vì thế không đánh thức được sự
yêu thích và đam mêm việc học thơ ở học sinh. Vì thế chất lượng học tập của học
sinh ở môn học này chưa cao, đặc biệt là ở tác phẩm thơ.
2.2. Giải pháp thay thế:
Qua hiện trạng trên, tôi quyết định chọn đề tài: "Nâng cao chất lượng và
hiệu quả dạy tác phẩm trữ tình qua việc nghiên cứu và tìm hiểu "nhãn tự" trong
thơ".
Việc nghiên cứu, tìm hiểu "nhãn tự" trong thơ để vận dụng vào giảng sao
cho có hiệu quả cần theo một quy trình cụ thể:
+ Hiểu thế nào là "nhãn tự"?
+ Vì sao trong thơ cần có "nhãn tự"?
+ Cách tìm hiểu "nhãn tự" trong thơ.
Từ đó giáo viên sẽ giúp các em tiếp cận, tìm hiểu tốt "nhãn tự" trong thơ.
2.3. Một số nghiên cứu gần đây có liên quan đến đề tài:
- Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học sinh mũi nhọn bộ môn

Số học sinh
Tổng số
Nam
Nữ
Nhóm 1
12
6
6
Nhóm 2
11
5
6
- Đa số các em đều ngoan có thức học tập được các bậc phụ huynh quan tâm.
4.2 Thiết kế:
- Lựa chọn thiết kế: Kiểm tra trước và sau tác động với hai nhóm tương đương.
- Tôi dùng Bài kiểm tra học kì 1 làm bài kiểm tra trước tác động. Kết quả kiểm tra
cho thấy điểm trung bình của hai nhóm có sự tương đương nhau. Chúng tôi dùng
phép kiểm chứng T-Test độc lập để kiểm chứng sự tương đương điểm số trung
bình của hai nhóm trước khi tác động.
 Bảng kiểm chứng để xác định hai nhóm tương đương:
Thực nghiệm (Nhóm 1)
Đối chứng (Nhóm 2)
Trung bình cộng
5.26
5.30
[Type text]
[Type text]
[Type text]



5.30

Kiểm tra sau
tác động
6.74
5.67

3.3. Quy trình nghiên cứu:
* Chuẩn bị bài của giáo viên:
Dạy lớp đối chứng: Thiết kế kế hoạch bài học không ứng dụng việc nghiên
cứu về "nhãn tự"; quy trình chuẩn bị bài như bình thường.
Dạy học lớp thực nghiệm: Thiết kế kế hoạch bài học có ứng dụng việc
nghiên cứu về "nhãn tự".
* Tiến hành dạy thực nghiệm:
Thời gian tiến hành dạy thực nghiệm vẫn tuân theo kế hoạch dạy học của
nhà trường và theo thời khoá biểu để đảm bảo tính khách quan.
3.4. Đo lường:
Lớp đối chứng: Lấy kết quả kiểm tra phần thơ và phiếu điều tra về việc
thích hay không thích học tác phẩm thơ của lớp 9.
Lớp thực nghiệm: Lấy kết quả kiểm tra phần thơ (25/11/2013). Bài kiểm tra
sau tác động gồm 8 câu trắc nghiệm, 2 câu tự luận. Ngoài căn cứ vào kết quả bài
kiểm tra, tôi còn căn cứ vào phiếu điều tra.
* Tiến hành kiểm tra và chấm bài.

[Type text]

[Type text]
[Type text]



A. Vân Kiều

B. Ê-đê

C. Tà-ôi

D. Pa-cô

Câu 4: Tác giả nào có quê ở miền Trung Việt Nam?
A. Nguyễn Khoa Điềm

B. Nguyễn Thành Long

C. Chính Hữu

D. Cả 3 tác giả trên

Câu 5: Văn bản "Ánh trăng" của Nguyễn Duy được sáng tác năm nào?
A. 1948

B. 1963

C. 1971

D. 1978

Câu 6: Văn bản nào thuộc thể thơ 7 chữ?
A. Ánh trăng

B. Đoàn thuyền đánh cá

Câu 2 (6,0đ):Cảm nhận của em về vẻ đẹp của 3 câu thơ cuối trong bài thơ
"Đồng chí" của Chính Hữu?
Sau khi tiến hành kiểm tra, chấm bài theo đáp án đã xây dựng.
4. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ:
4.1. Trình bày kết quả:
6.1 Trình bày kết quả:
Dùng phép kiểm chứng T-Test độc lập với kiểm trước tác động của nhóm thực
nghiệm (p1), sau tác động (p2)
Thực nghiệm (Nhóm
1)
Trước
tác động

Sau
tác động

Đối chứng (Nhóm 2)
Trước
tác động

Sau
tác động

Mốt
5
7
6
6
Trung vị
5

Giá trị TBC
Trước tác động
Sau tác động

Nhóm ĐC
5.30
5.67

Nhóm TN
5.26
6.74

6.2 Phân tích kết quả dữ liệu:
* Kiểm chứng để xác định nhóm tương đương trước tác động:

Điểm TBC
Giá trị của : p1
=

Nhóm thực
nghiệm
5,26

Nhóm đối chứng

Chênh lệch

5,30

0,4

5,67

Độ lệch chuẩn

1,06

1,24

Giá trị của T-test: p2 =

0,0006

Chênh lệch giá trị TB
chuẩn (SMD):

0,8629

1.07

p2 = 0,0006 < 0,05
Kết luận: Sự chênh lệch điểm trung bình cộng sau tác động của 2 nhóm thực
nghiệm và đối chứng rất có ý nghĩa (do tác động).
SMD = 0,8659 (trong khoảng 0,80 – 1,00) là lớn.
Kết luận: Mức độ ảnh hưởng của tác động đến kết quả học tập của nhóm thực
nghiệm là lớn.
 Như trên đã chứng minh rằng kết quả hai nhóm trước tác động là tương đương.
Sau tác động kiểm chứng chênh lệch điểm trung bình bằng T-Test độc lập cho
kết quả P2 = 0,0006 cho thấy sự chênh lệch giữa điềm trung bình nhóm thực
nghiệm và nhóm đối chứng rất có ý nghĩa, tức là chênh lệch kết quả điểm
trung bình nhóm thực nghiệm cao hơn điểm trung bình nhóm đối chứng là



NCKHSPƯD: Nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy tác phẩm trữ tình - Ngữ Văn 9- trường
TH và THCS Hoàng Châu qua việc nghiên cứu và tìm hiểu "Nhãn tự" trong thơ.

lệch điểm số giữa hai nhóm là 1,07. Điều đó cho thấy điểm TBC của hai nhóm
đối chứng và thực nghiệm đã có sự khác biệt rõ rệt, lớp được tác động có điểm
TBC cao hơn lớp đối chứng.
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của hai bài kiểm tra là SMD = 0,8629
Điều này có nghĩa mức độ ảnh hưởng của tác động là lớn.
Phép kiểm chứng T-Test độc lập điểm trung bình hai bài kiểm tra sau tác
động cùa hai nhóm là P2 = 0,0006 < 0,001 . Kết quả này khẳng định sự
chênh lệch điểm trung bình của hai nhóm không phải là do ngẫu nhiên mà do
tác động, nghiêng về nhóm thực nghiệm.
Phiếu điều tra cho thấy giờ dạy có ứng dụng việc tìm hiểu, nghiên cứu
"nhãn tự" trong thơ đã kích thích được từ 20 - 25% sự yêu thích môn học này.
* Nhược điểm: Nghiên cứu này giúp giáo viên tìm hiểu sâu, kỹ hơn các tác
phẩm trữ tình, nâng cao hiệu quả giờ dạy và góp phần nâng cao sự say mê, hứng
thú học tập các tác phẩm thơ, đặc biệt là môn Ngữ văn ở lớp 9 - trường TH và
THCS Hoàng Châu, nhưng do thời gian nghiên cứu ngắn nên chưa đánh giá được
một cách hoàn toàn chính xác sự tiến bộ của học sinh, có thể dẫn đến sự tiến bộ
rồi sau đó lại thụt lùi như tình trạng ban đầu nếu như giáo viên không truyền được
ngọn lửa say mê cho học sinh.
5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ.
5.1. Kết luận:
Việc nghiên cứu và tìm hiểu: "nhãn tự" trong thơ đã nâng cao được chất
lượng và hiệu quả giảng dạy tác phẩm trữ tình, đánh thức được sự say mê ở các
em học sinh lớp 9, trường TH và THCS Hoàng Châu, số lượng học sinh không
yêu thích tác phẩm thơ giảm đi rõ rệt, học sinh yêu thích môn học và ngày càng
có hứng thú với môn Ngữ văn tăng lên một cách rõ rệt.



NCKHSPƯD: Nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy tác phẩm trữ tình - Ngữ Văn 9- trường
TH và THCS Hoàng Châu qua việc nghiên cứu và tìm hiểu "Nhãn tự" trong thơ.

6. TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU:
- Từ điển Tiếng Việt - Nhà xuất bản GD&ĐT.
- Sách bình giảng văn học 8, 9 - Nhà xuất bản GD&ĐT.
- Tài liệu tập huấn nghiên cứu KHSPƯD dự án Việt - Bỉ - Bộ GD&ĐT.
- Sách giáo khoa môn Ngữ Văn 8, 9 - Nhà xuất bản GIA đìNH.
- Tài liệu hướng dẫn giảm tải chương trình môn Ngữ văn - Bộ GD&ĐT.

[Type text]

[Type text]
[Type text]


NCKHSPƯD: Nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy tác phẩm trữ tình - Ngữ Văn 9- trường
TH và THCS Hoàng Châu qua việc nghiên cứu và tìm hiểu "Nhãn tự" trong thơ.

7. MINH CHỨNG - PHỤ LỤC CHO ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU:

PHỤ LỤC 1: QUY TRÌNH TÌM HIỂU "NHÃN TỰ" TRONG THƠ
I - MẮT - MỤC - NHÃN HAY XUẤT XỨ KHÁI NIỆM

Từ "nhãn tự" hay "từ mắt" được sử dụng phổ biến, trở lên một khái niệm
quen thuộc. Cần giải nghĩa các từ này để hiểu thấu đáo. Từ "mắt" trong Tiếng
Việt xuất phát từ từ "mục" trong tiếng Hán. từ "mắt" theo từ điển Tiếng Việt có
những nghĩa sau:


11. Tiết mục (mục lục)
12. Danh mục
13. Xưng hô
14. Tiêu đề, đề mục
15. Phẩm bình, phẩm đề
16. Thủ lãnh, đầu mục
17. Hạt khô dưới gốc cây.
18. Họ người.
Trong tiếng Hán, chữ "mục" chỉ nghĩa và chữ "cấn" chỉ thanh toạ nên chữ
"nhãn". Chữ "nhãn" có tới 16 nghĩa:
1. Là con mắt, chữ Hoa làn nhãn tính.
2. Là nhãn thần (mắt có thần).
3. Mục lực, là kiến thức.
4. Theo dõi (tiếng Hoa là "giám thị").
5. Hướng đạo (Là dẫn đường, có nghĩa nữa là tuyến sách tức manh mối)
6. Hang động.
7. Then chốt hay là yếu điểm.
8. Chỉ cho hoa văn trong trang trí.
9. Chỉ cho lá liễu non.
10. Bọt nước.
11. Nhịp phách trong các bài khúc (điệu hát của người Trung Quốc xưa).
12. Thuật ngữ để dùng trong khi đánh cờ vây.
13. Lượng từ.
14. Chị họ người.
15. Có nghĩa là nhòm ngó (tai mắt).
16. Chỉ rò rỉ và khuyết điểm.
Tuy có hiện tượng đồng nghĩa như vậy (tuy nhiên đây là đồng nghĩa không
hoàn toàn) nhưng người xưa không nói là "mục tự" mà nói là "nhãn tự". Bởi
trong nghĩa của từ "mục" khác cơ bản với từ "nhãn" chính là "quan kiện, then

giữa dòng, hay Một cánh bèo trôi lạc giữa dòng... để đi đến câu thơ cuối cùng
như trong tác phẩm. Vì vậy là thơ không phải công việc vui chơi, thoảng qua hay
cho xong chuyện mà đó là hoạt động nghệ thuật thực sự tổn hao tâm lực và trí tuệ
của con người.
Thơ luôn quý sự hàm súc, chữ ít mà ý nhiều, ý ở ngoài lời (ý tại ngôn
ngoại) cho nên phải cân nhắc chọn lọc, tìm chữ hạ câu phải đa tư đa lự. Một chữ
hạ xuống đôi khi là then chốt, trụ cột cho toàn bài thơ, một chữ là tinh hoa, là cột
đỡ cho cả một cung điện ngôn từ. Nếu thiếu đi hay mất đi một từ ấy thôi bài thơ
sẽ trở nên thật xoàng xĩnh, đôi khi chẳng còn chút thơ nào. Cũng bởi thế, nhìn vào
[Type text]

[Type text]
[Type text]


NCKHSPƯD: Nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy tác phẩm trữ tình - Ngữ Văn 9- trường
TH và THCS Hoàng Châu qua việc nghiên cứu và tìm hiểu "Nhãn tự" trong thơ.

một "nhãn tự" ấy thôi người đọc có thể nắm bắt được toàn bài như soi mình thấu
đáy hồ thu. Người hay dùng "nhãn tự" phải kể đến Bác Hồ. Trong bài thơ "Mộ"
(Chiều tối), từ "hồng" đã được hạ xuống thật đắc địa khi khép lại toàn bộ bài thơ:
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng
(Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết lò than đã rực hồng)
Từ "hồng" không chỉ diễn tả ngọn lửa hay ánh lửa trong bài, với một chữ
"hồng" Bác đã làm sáng rực lên toàn bộ bài thơ, đã làm mất đi sự mệt mỏi, sự uể
oải, sự vội vã, sự nặng nề đã diễn tả trong ba câu đầu, đã làm sáng rực lên khuôn
mặt của cô em sau khi xay ngô tối. Chữ "hồng" sáng bừng lên, nó cân lại, chỉ một
chữ thôi với hai mươi bảy chữ khác dầu nặng đến mấy đi chăng nữa. Với chữ

nước trong veo có thể nhìn được rong rêu tận đáy toả ra khí thu lãnh lẽo như bao
trùm không gian. Không còn cái se lạnh đầu thu nữa mà là đã thu phân, thu mạt
rồi nên mới lạnh lẽo như vậy. Trên mặt ao thu đã có một chiếc thuyền câu bé tẻo
teo tự bao giờ. Một chiếc gợi tả sự cô đơn của thuyền câu bé tẻo teo nghĩa là rất
bé nhỏ, âm điệ của vần thơ cũng gợi ra sự hun hút của cảnh vật (trong veo - bé tẻo
teo). Đó là một nét thu đẹp và êm đềm. Hai câu thực:
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo
tả không gian hai chiều. Màu sắc hoà hợp, có sóng biếc với lá vàng, gió thổi nhẹ
cũng đủ làm cho chiếc lá thu màu vàng khẽ đưa vèo, làm cho sóng biếc lăn tăn
từng làn hơi gợn tí. Phép đối tài tình làm nổi bật một nét thư, tô đậm cái nhìn thấy
và nghe thấy. Ngòi bút của Nguyễn Khuyến rất tinh tế trong dùng từ và cảm nhận,
lấy cái lăn tăn của sóng hơi gợn tí phối cảnh với dộ bay xoay xoay khẽ đưa vèo
của chiếc lá thu. Chữ "vèo" là một nhãn tự mà sau này thi sĩ Tản Đà vừa khâm
phục, vừa tâm đắc. Ông thổ lộ một đời thơ mới có được một câu vừa ý: Vèo trông
lá rụng đầy sân (Cảm thu, Tiễn thu).
Vì vậy trong thơ không thể thiếu được "nhãn tự" hay nói cách khác, một bài
thơ thực sự thành công hay không, lột tả được tâm trạng thi nhân, trường cuộc đời
con người hay không, khơi gợi được những nỗi niềm đồng cảm của người đọc
hay không nhờ một phần rất lớn vào những "nhãn tự" có trong bài.
III - GỢI Ý CÁCH TÌM HIỂU NHÃN TỰ TRONG THƠ

Việc phân tích như trên đã cho thấy, muốn tìm hiểu một bài thơ không thể
bỏ qua các "nhãn tự". Cổ nhân từng dạy: Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn, soi vào đôi
mắt sẽ thấy được hồn người, cái ẩn chứa sâu kín bên trong, cái vô danh không thể
[Type text]

[Type text]
[Type text]


tình chỉ tìm ra mà thôi.
Từ "mọc" không chỉ cho thấy sự xuất hiện của sự vật mà cả sự vươn lên bất
ngờ mạnh mẽ (từ nụ, vươn dậy, nở thành hoa), không chỉ thấy sự phát hiện tinh tế
[Type text]

[Type text]
[Type text]


NCKHSPƯD: Nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy tác phẩm trữ tình - Ngữ Văn 9- trường
TH và THCS Hoàng Châu qua việc nghiên cứu và tìm hiểu "Nhãn tự" trong thơ.

của tác giả mà ẩn chứa trong đó cả niềm vui của con người khi cảm nhận được
sức xuân và sắc xuân tràn lan khắp đất trời, vạn vật.
2. Tìm hiểu bằng cách so sánh và liên tưởng:
Khả năng gợi cảm trong thơ là rất cao, đặc biệt là với các "nhãn tự", muốn
làm toát lên cái hay, cái mới và độc đáo có thể so sánh với những cái quen
dùng, hay dùng đã trở thành ước lệ (đôi khi là khuôn sáo).
Trong "Sang thu" - Hữu Thỉnh, khổ 1 của bài thơ đã vẽ lên một bức tranh
thiên nhiên xinh xắn về làng quê lúc giao mùa:
Bồng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về
Hình ảnh "hương ổi" có thể xem là một phát hiện mới của nhà thơ. Thơ xưa
và cả thơ hiện đại khi viết về mùa thu, những tín hiệu mùa thu thường lấy hình
ảnh như là: lá ngô đồng rụng (Ngô đồng một lá lìa cành/ Báo cho thiên hạ tin
lành thu sang - Thơ Đường), Hoa cúc nở (Khóm cúc tuôn đôi dòng lệ cũ/ Con
thuyền buộc chặt mối tình nhà - Đỗ Phủ), nếu lấy một làn hương để nhắc ta rằng
đã mùa thu thì có thể là hương hoa sữa nồng nàn con phố nhỏ hay hương cốm

mạng mà Bác đã trải qua. Sức nặng của câu thơ dồn ở từ "sang". Sang hiểu theo
nghĩa thông thường là điều kiện đầy đủ thoải mái về cả vật chất lẫn tinh thần, nếu
hiểu như vậy sẽ không hợp lí với ý thơ của Bác. Trong những ngày tháng lịch sử
Bác sống trong cái hang đơn sơ, với bữa cơm đạm bạc và những trang bị sơ sài thì
sao có thể nói sang như vậy được? Phải chăng cái sang phải hiểu theo nghĩa khác:
sang là được sống, làm việc và chiến đấu cho lí tưởng, cho đất nước. Đó là niềm
hạnh phúc nhất đời của Bác. Từ "sang" làm sáng bừng ý thơ, nâng cao tầm tư
tưởng cho tác phẩm.
Tương tự như vậy trong câu thơ:
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này
(Viếng lăng Bác - Viễn Phương)
Đây là khát vọng cao đẹp và chân thành nhất của tác giả Viễn Phương khi
rời xa vị cha già muôn vàn yêu quý. Hai chữ "trung hiếu" vốn xuất phát từ quan
niệm Nho giáo: trung với vua, với chủ; hiếu với cha mẹ. Đặt nó vào hoàn cảnh
sáng tác tác phẩm, ta cần hiểu: trung với Đảng, với đất nước; hiếu không chỉ với
cha mẹ mà cả với nhân dân. Viễn Phương mong làm "cây tre trung hiếu" cũng là
muốn tiếp bước con đường Bác chọn, làm theo lời Bác dạy "ta toả sáng ở bên
[Type text]

[Type text]
[Type text]


NCKHSPƯD: Nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy tác phẩm trữ tình - Ngữ Văn 9- trường
TH và THCS Hoàng Châu qua việc nghiên cứu và tìm hiểu "Nhãn tự" trong thơ.

Người một chút". Niềm khát khao đó không của riêng thi sĩ mà hoà chung nhịp
đập với trái tim biết bao người.
4. Vận dụng phương pháp nêu vấn đề:
Giáo viên phát hiện và nêu vấn đề dưới dạng câu hỏi mở như: Cảm

NCKHSPƯD: Nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy tác phẩm trữ tình - Ngữ Văn 9- trường
TH và THCS Hoàng Châu qua việc nghiên cứu và tìm hiểu "Nhãn tự" trong thơ.

chân thực và sắc xảo cá tính, bóc trần bản chất bên trong của chúng chỉ với một
từ. Lấy nhân vật Mã Giám Sinh làm ví dụ:
Ghế trên ngồi tót sỗ sàng
Buồng trong mối đã giục nàg kíp ra
(Đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều)
Chỉ với một từ ngồi "tót" đã lật tẩy bản chất "lưu manh giả danh trí thức"
của tên lừa đảo họ Mã. Cách ngồi chồm chỗm, nhảy lên ngồi, không nhìn trước
trông sau, không đợi mời chào đã làm toát lên bản chất vô học, cách ứng xử bất
lịch sự của lũ con buôn dù cố tỏ ra nho nhã vẫn không thể nào khoả lấp được.
Phong cách này cũng có thể thấy qua các nhân vật khác trong "Truyện Kiều" như
Tú Bà, Hồ Tôn Hiến, Sở Khanh ...
Những thao tác trên, thiết nghĩ là cần thiết trong một giờ giảng văn. Nhưng
đó không phải là tất cả, những phương pháp giảng bình vốn có, cách đi từ nghệ
thuật này đến nội dung vẫn là những phương pháp chính, những nguyên tắc bắt
buộc với mỗi tiết học văn bản. Tìm hiểu "nhãn tự" giúp cho tiết học đa dạng hơn,
phong phú hơn về phương pháp mà đôi khi còn xem nhẹ hay chưa đánh giá đúng
thao tác này.
IV - GỢI DẪN MỘT SỐ CÂU - ĐOẠN THƠ CÓ SỬ DỤNG "NHÃN TỰ"
TRONG CÁC VĂN BẢN THƠ (SÁCH NGỮ VĂN 9)

Bên cạnh những ví dụ đã phân tích, trong phạm vi bài viết của mình, tôi xin
gợi dẫn một số câu thơ, đoạn thơ có "nhãn tự" hay trong chương trình Ngữ văn 9
để cùng tham khảo và trao đổi.
1.

Súng bên súng đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

- Góp phần thể hiện vẻ đẹp rực rỡ, diễm lệ, huy hoàng của bình minh trên
biển.
3.

Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa
(Bếp lửa - Bằng Việt)

- Hình ảnh bếp lửa được đặc tả qua hai từ láy "chờn vờn" và "ấp iu".
- Hình ảnh "chờn vờn" gợi lên những mảnh kí ức hiện về trong tác giả một
cách chập chờn như khói bếp. Bếp lửa được thắp lên, nó hắt ánh sáng lên mọi vật
và toả sáng tâm hồn đứa cháu thơ ngây. Bếp lửa được thắp lên đó cũng là bếp lửa
của cuộc đời bà đã trải qua "biết mấy nắng mưa". từ đó, hình ảnh người bà hiện
lên. Dù đã cách xa nửa vòng trái đất nhưng dường như Bằng Việt vẫn cảm nhận
được sự vỗ về, yêu thương, chăm chút từ đôi tay kiên nhẫn và khéo léo của bà.
Tình cảm bà cháu thiêng liêng ấy cứ như một dòng sông với con thuyền nhỏ chở
đầy ắp những kỉ niệm mà suốt cuộc đời này chắc người cháu không bao giờ quên
được.
[Type text]

[Type text]
[Type text]


NCKHSPƯD: Nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy tác phẩm trữ tình - Ngữ Văn 9- trường
TH và THCS Hoàng Châu qua việc nghiên cứu và tìm hiểu "Nhãn tự" trong thơ.

4.



[Type text]
[Type text]


NCKHSPƯD: Nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy tác phẩm trữ tình - Ngữ Văn 9- trường
TH và THCS Hoàng Châu qua việc nghiên cứu và tìm hiểu "Nhãn tự" trong thơ.

PHỤ LỤC
Phụ lục 2: Bảng điểm
BẢNG ĐIỂM
NHÓM THỰC NGHIỆM

NHÓM ĐỐI CHỨNG

1

Đoàn Hồng

Bính

5

7

1

Trần Ngọc

Sơn


7

3

Ngô Thị

Thơm

6

6

4

Bùi Thị

Hiền

4

6

4

3.5

4

5


Đoàn Duy

Toàn

7

7

7

Lê Thu

Huyền

8

8

7

Vũ Hoài

Trâm

8

8

8


10 Nguyễn Như Quỳnh

5

7

11 Nguyễn Thanh Xuân

6

5

11

Nguyễn Thị

Quỳnh

6

6

12

3

4

12

6
6

6
6

- Giá trị trung
bình:

5.26

6.74

5.30

5.67

1.51

1.06

1.49

1.24

- Độ lệch
chuẩn:
- Phép kiểm
chứng T-test
độc lập:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status