Lời nói đầu
Với đờng lối phát triển mà đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/
1986) đề ra, sau hơn 10 năm thực hiện, nền kinh tế nớc ta đã có những bớc
chuyển mình rất khả quan, tạo tiền đề thuận lợi để bớc sang thế kỷ XXI.
Với quan điểm mở cửa, tăng cờng hội nhập với nền kinh tế thế giới, Việt
nam trở thành một địa chỉ rất hấp dẫn các nhà đầu t nớc ngoài. Đặc biệt là
tháng 12 năm 1987, khi Luật Đầu t nớc ngoài tại Việt nam ra đời thì mối
quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế của Việt nam với các tổ chức kinh tế quốc
tế, Chính phủ các nớc không ngừng phát triển. Theo tạp chí Thời báo kinh
tế số Kinh tế 97 -98: Việt Nam và Thế giới, tính đến hết năm 1997, ở
Việt nam tổng số dự án đợc cấp giấy phép là 2.257 với số vốn đăng ký là
31.438 triệu USD cha kể viện trợ của các tổ chức phi Chính phủ. Hơn nữa,
Đảng và Nhà nớc ta đã xác định chiến lợc phát triển kinh tế Việt nam theo
hớng Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa, thời gian qua và trong tơng lai các
dự án đầu t chủ yếu tập trung cho xây dựng cơ sở hạ tầng, trang bị cơ sở
vật chất kỹ thuật phục vụ cho quá trình tái sản xuất mở rộng.
Nh vậy, cơ hội tham gia đấu thầu vào các dự án, các công trình xây
dựng là rất lớn, đặc biệt là trong lĩnh vực xây dựng cơ bản mà cụ thể là đấu
thầu t vấn, đấu thầu mua sắm thiết bị vật t, đấu thầu xây lắp. Tuy nhiên,
công tác đấu thầu ở nớc ta còn rất mới mẻ. Các nhà thầu Việt nam thờng
bị các chủ đầu t nớc ngoài đánh giá thấp về năng lực quản lý, năng lực thi
công, còn có hạn chế lớn trong việc thi công, lắp đặt các công trình có
trình độ kỹ thuật, công nghệ phức tạp. Chính vì vậy, muốn có cơ hội tham
gia đấu thầu các công trình lớn, đặc biệt là các công có vốn đầu t nớc
ngoài thì trớc hết các nhà thầu Việt nam phải hiểu biết các vấn đề về kinh
tế trong xây dựng nh: lập hồ sơ dự thầu, quản lý chi phí trong xây dựng,
bóc tiên lợng và lập dự toán dự thầu... trong từng trờng hợp cụ thể sao cho
phù hợp để nâng cao khả năng thắng thầu mà vẫn đảm bảo hiệu quả sản
xuất kinh doanh.
Để tạo đợc khả năng thắng lợi trong đấu thầu, đòi hỏi mỗi doanh
nghiệp xây dựng phải thực hiện tốt tất cả các khâu, từ công tác tiếp thị,
1. Khái quát về hoạt động của ngành xây dựng.
Trong thực tiễn quản lý xây dựng đòi hỏi phải phân biệt các khái niệm:
ngành (hay lĩnh vực) xây dựng cơ bản (thờng đợc gọi tắt là ngành xây
dựng), ngành công nghiệp xây dựng, ngành công nghiệp vật liệu xây dựng
và tổ hợp liên ngành thực hiện và phục vụ công tác xây dựng.
Ngành xây dựng cơ bản (gọi tắt là ngành xây dựng) thờng bao gồm các
lực lợng của bên chủ đầu t có liên quan trực tiếp đến xây dựng công trình,
các lực lợng chuyên nhận thầu thi công xây dựng và các dịch vụ trực tiếp
phục vụ xây dựng nh các tổ chức t vấn, quy hoạch, thiết kế, nghiên cứu,
thông tin và đào tạo cán bộ cho ngành xây dựng.
Ngành công nghiệp xây dựng chủ yếu chỉ bao gồm các tổ chức chuyên
nhận thầu thi công xây dựng, kèm theo các tổ chức sản xuất phụ và các tổ
chức quản lý, dịch vụ thuộc ngành xây dựng quản lý. Còn ngành công
nghiệp vật liệu xây dựng, về bản chất, nó phải là một ngành riêng và có
nhiệm vụ chuyên sản xuất các loại vật liệu khác bán thành phẩm và các
cấu kiện xây dựng để bán cho ngành công nghiệp xây dựng.
ở nớc ta hiện nay, ngành công nghiệp xây dựng còn bao gồm cả ngành
vật liệu xây dựng và phân tán ở nhiều bộ và ngành sản xuất khác, trong đó
Bộ Xây dựng đóng vai trò chủ chốt.
Tổ hợp liên ngành thực hiện và phục vụ xây dựng bao gồm các tổ chức
nằm trong ngành xây dựng cơ bản nh vừa kể trên và còn thêm các ngành
công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp sửa chữa máy móc xây dựng,
các tổ chức vận tải và cung ứng phục vụ xây dựng.
Từ những khái niệm trên, có thể khái quát hoạt động xây dựng cơ bản
là hoạt động nhằm tạo ra những tài sản cố định thông qua các hình thức:
xây dựng mới, cải tạo mở rộng, sửa chữa lớn và khôi phục. Thông thờng
một công trình xây dựng kể từ lúc khảo sát, thiết kế, chuẩn bị và bớc vào
thi công cho đến khi hoàn tất bàn giao đa vào sử dụng đòi hỏi phải thực
3
hiện rất nhiều giai đoạn và rất nhiều công việc khác nhau. Nhng để thực
vào khai thác sử dụng.
- Kết thúc xây dựng, đa công trình vào khai thác sử dụng:
Đây là giai đoạn mà các nhà thầu xây dựng hoàn thành công việc xây lắp,
bàn giao công trình cho chủ đầu t. Giai đoạn này bao gồm các công việc
chủ yếu sau:
+ Bàn giao công trình: Công trình xây dựnh chỉ đợc bàn giao toàn bộ
cho chủ đầu t khi đã xây lắp hoàn chỉnh theo thiết kế kỹ thuật đã đợc
duyệt và nghiệm thu đạt yêu cầu chất lợng (kể cả việc hoàn thiện nội
ngoại thất công trình và thu dọn vệ sinh mặt bằng). Khi bàn giao công
trình phải bàn giao cả hồ sơ hoàn thành công trình và những tài liệu về các
vấn đề có liên quan đến công trình đợc bàn giao.
+ Kết thúc xây dựng: Hoạt động xây dựng đợc kết thúc khi công trình đã
bàn giao toàn bộ cho chủ đầu t. Sau khi bàn giao công trình, các nhà thầu
4
phải di chuyển hoặc thanh lý hết tài sản của mình ra khỏi khu vực xây
dựng công trình và trả lại đất mợn hoặc thuê để phục vụ thi công. Tuy
nhiên, nghĩa vụ theo hợp đồng xây dựng chỉ đợc chấm dứt hoàn toàn khi
hết thời hạn bảo hành công trình.
+ Bảo hành công trình: Trong thời hạn bảo hành thì ngời cung cấp
tài liệu, số liệu khảo sát thiết kế xây lắp nghiệm thu, giám định công trình,
chủ nhiệm đồ án thiết kế, chủ thầu xây dựng, ngời cung cấp vật t, giám sát
xây dựng phải chịu trách nhiệm về chất lợng công trình công trình đó.
Thời hạn bảo hành công trình phụ thuộc vào tính chất, đặc điểm, quy mô
của từng công trình.
2. Vai trò và nhiệm vụ của ngành xây dựng.
Vai trò và nhiệm vụ của ngành xây dựngcó thể tóm tắt ở các mặt sau
đây:
- Ngành xây dựng là một trong những ngành sản xuất vật chất lớn nhất
của nền kinh tế quốc dân, có nhiệm vụ tái sản xuất các tài sản cố định
(xây dựng các nhà cửa, vật kiến trúc, lắp đặt các thiết bị máy móc) cho
3. Những đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành xây dựng.
3.1. Các đặc đểm của sản phẩm xây dựng.
Sản phẩm trực tiếp của ngành công nghiệp xây dựng chỉ bao gồm các
công việc kiến tạo các kết cấu xây dựng làm chức năng bao che và nâng
đỡ, các công việc lắp đặt thiệt bị máy móc cần thiết vào công trình xây
dựng để đa chúng vào hoạt động.
Sản phẩm xây dựng với t cách là một công trình xây dng đã hoàn chỉnh th-
ờng có các tính chất sau:
- Sản phẩm của ngành xây dựng là những công trình nhà cửa đợc xây
dựng và sử dụng tại chỗ, cố định tại địa điểm xây dựng và phân bố tản
mạn ở nhiều nơi trên lãnh thổ. Đặc điểm này làm cho sản xuầt xây dựng
có tính chất lu động cao và thiếu ổn định.
- Sản phẩm của ngành xây dựng phụ thuộc chặt chẽ vào đIều kiện địa
phơng mang nhiều tính cá biệt cao về công dụng về cách cấu tạo và phơng
pháp chế tạo.
- Sản phẩm xây dựng thờng có kích thớc lớn, chi phí lớn, thời gian xây
dựng và sử dụng lâu dài. Do đó những sai lầm về xây dựng có thể gây lãng
phí lớn, tồn tại lâu dài và khó sửa chữa.
- Sản phẩm xây dựng chủ yếu đóng vai trò nâng đỡ và bao che không
tác động trực tiếp lên đối tợng lao động trong quá trình sản xuất (trừ một
số loại công trình đặc biệt nh đờng ống, công trình thủy lực, lò luyện gang
thép... )
- Sản phẩm xây dựng có liên quan đến nhiều ngành cả về phơng diện
cung cấp nguyên vật liệu và cả về phơng diện sử dụng sản phẩm của xây
dựng làm ra. Sản phẩm xây dựng mang tính chất tổng hợp về kỹ thuật,
kinh tế, xã hội, văn hoá, nghệ thuật và quốc phòng.
3.2. Những đặc điểm của sản xuất trong xây dựng.
Từ những đặc điểm của sản phẩm xây dựng có thể suy ra những đặc điểm
chủ yếu của sản xuất trong xây dựng nh sau:
- Tình hình và điều kiện sản xuất trong xây dựng thiếu tính ổn định, luôn
- Sản xuất xây dựng phải tiến hành theo đơn đặt hàng cho từng trờng
hợp cụ thể, vì sản xuất xây dựng rất đa dạng, có tính cá biệt cao và chi phí
lớn. Sản phẩm xây dựng không thể sản xuất sẵn hàng loạt để bán trừ một
số trờng hợp rất hiếm hoi khi chủ đầu t làm sẵn một số nhà ở để bán, nhng
ngay cả trờng hợp này mỗi nhà cũng sẽ có đặc điểm riêng do điều kiện địa
chất và địa hình đem lại. Đặc điểm này dẫn đến yêu cầu là phải xác định
giá cả của sản phẩm xây dựng trớc khi sản phẩm đợc làm ra. Do vậy, các
tổ chức xây dựng muốn thắng thầu phải tích luỹ nhiều kinh nghiệm cho
nhiều trờng hợp xây dựng cụ thể và phải tính toán cẩn thận khi tranh thầu.
- Quá trình sản xuất xây dựng rất phức tạp, các đơn vị tham gia xây
dựng công trình phải cùng nhau kéo đến hiện trờng thi công với một diện
tích có hạn để thực hiện phần việc của mình, theo một trình tự nhất định
về thời gian và không gian. Đặc điểm này đòi hỏi các tổ chức xây dựng
phải có trình độ tổ chức phối hợp cao trong sản xuất, coi trọng công tác
chuẩn bị xây dựng và thiết kế tổ chức thi công phối hợp chặt chẽ giữa tổ
chức xây dựng tổng thầu hay thầu chính và các tổ chức thầu phụ.
- Sản xuất xây dựng phải tiến hành ngoài trời nên chịu nhiều ảnh hởng
của thời tiết, điều kiện làm việc nặng nhọc. Tác động của thời tiết thờng
làm gián đoạn quá trình thi công, năng lực sản xuất của tổ chức xây dựng
không đợc sử dụng điều hòa theo 4 quý gây khó khăn cho việc lựa chọn
cho trình tự thi công, đòi hỏi dự trữ vật t nhiều hơn... Đặc điểm này đòi hỏi
tổ chức xây dựng phải lập tiến độ thi công hợp lý để tránh thời tiết xấu, áp
dụng kết cấu lắp ghép làm sẵn trong xởng một cách hợp lý để giảm bớt
thời gian thi công tại hiện trờng, áp dụng cơ giới hoá hợp lý chú ý đến độ
bền chắc của máy móc, đặc biệt quan tâm đến việc cải thiện điều kiện làm
7
việc của công nhân, chú ý đến nhân tố rủi ro về thời tiết khi tính toán đấu
thầu, quan tâm phát triển phơng pháp xây dựng trong điều kiện nhiệt đới.
II. những vấn đề chung về đấu thầu xây dựng.
vùng, liên vùng, toàn quốc hoặc Quốc tế.
- Đấu thầu hạn chế: Là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu chỉ mời
một số nhà thầu có khả năng đáp ứng các yêu cầu cuả hồ sơ mời thầu.
Hình thức đấu thầu này đợc áp dụng trong các trờng hợp sau:
+ Chỉ có một số nhà thầu đáp ứng đợc yêu cầu của hồ sơ mời thầu, nh-
ng tối thiểu phải có ba nhà thầu có khả năng tham gia.
+ Các nguồn vốn sử dụng có yêu cầu phải tiến hành đấu thầu hạn chế .
+ Do yêu cầu về tiến độ thực hiện dự án đợc ngời có thẩm quyền quyết
định đầu t chấp thuận.
8
- Chỉ định thầu: Đây là hình thức đặc biệt, đợc áp dụng theo quy định
của Điều lệ Quản lý đầu t và xây dựng đối với các gói thầu sử dụng vốn
Nhà nớc đợc phép chỉ định thầu. Bên mời thầu chỉ thơng thảo với một nhà
thầu do ngời có thẩm quyền quyết định đầu t chỉ định nếu không đạt đợc
yêu cầu mới thơng thảo với nhà thầu khác.
1.2. Phơng thức áp dụng.
- Đấu thầu một túi hồ sơ (một phong bì):
Khi dự thầu theo phơng thức này, nhà thầu cần nộp những đề xuất về
kỹ thuật, tài chính, giá bỏ thầu và những điều kiện khác trong một túi hồ
sơ chung
- Đấu thầu hai túi hồ sơ (hai phong bì):
Khi dự thầu theo phơng thức này, nhà thầu cần nộp những những đề
xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính trong từng túi hồ sơ riêng vào
cùng một thời điểm. Túi hồ sơ đề xuất về kỹ thuật sẽ đợc xem xét trớc để
đánh giá, xếp hạng. Nhà thầu đợc xếp hạng thứ nhất về kỹ thuật sẽ đợc
xem xét tiếp túi hồ sơ đề xuất về tài chính. Trờng hợp nhà thầu không đáp
ứng các yêu cầu về tài chính và các điều kiện của hợp đồng, bên mời thầu
phải xin ý kiến của ngời có thẩm quyền quyết định đầu t, nếu đợc chấp
thuận mới đợc mời nhà thầu tiếp theo để xem xét.
- Đấu thầu hai giai đoạn: Thờng đợc áp dụng cho những dự án lớn,
- Hồ sơ dự thầu hợp lệ và chỉ đợc tham gia một đơn dự thầu trong một
gói thầu dù là đơn phơng hay liên danh dự thầu.
3. Nguyên tắc của hoạt động đấu thầu trong nền kinh tế thị trờng.
Đấu thầu là một công nghệ hiện đại, một hệ thống giải pháp cho những
vấn đề không thể bỏ qua trong sự phối hợp giữa các chủ thể trực tiếp liên
quan đến quá trình xây dựng, đảm bảo cho quá này đạt đợc hiệu quả tối u
về chất lợng, kỹ thuật, tiến độ thi công, tài chính, thẩm mỹ... đồng thời
cũng hạn chế đợc những rắc rối giữa các bên hữu quan. Phơng thức đấu
thầu tuân thủ hàng loạt những nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc công bằng: Mỗi cuộc đấu thầu đều phải đợc thực hiện với
sự tham gia của một số nhà thầu có đủ năng lực để hình thành một cuộc
cạnh tranh mạnh mẽ. Các đơn vị tham dự thầu đều phải nhận đợc những
thông tin từ phía mời thầu ngang bằng nhau, không có sự phân biệt đối xử.
- Nguyên tắc bí mật: Về những thông tin trao đổi của các nhà thầu với
chủ đầu t hay các đại diện hợp pháp của chủ đầu t trong quá trình chuẩn bị
hồ sơ dự thầu đặc biệt là mức giá, chi phí liên quan... phải đảm bảo tính bí
mật. Nếu có sự thay đổi, chủ đầu t phải có thông báo bằng văn bản cho
các nhà thầu, không đợc u đãi bên nào.
- Nguyên tắc trách nhiệm phân minh: Không chỉ các nghĩa vụ, quyền
lợi của các bên có liên quan đợc đề cập và chi tiết hoá trong hợp đồng mà
phạm vi trách nhiệm của mỗi bên ở từng phần việc đều đợc phân định rạch
ròi để không có một sai sót nào không có ngời chịu trách nhiệm. Mỗi bên
có liên quan đều biết rõ mình phải gánh chịu những hậu quả gì nếu có sơ
suất và do đó mỗi bên đều phải nỗ lực tối đa trong việc kiểm soát bất trắc
và phòng ngừa rủi ro.
- Nguyên tắc ba chủ thể: Thực hiện dự án theo thể thức đấu thầu luôn
có sự hiện diện đồng thời ba chủ thể: chủ công trình, nhà thầu và kỹ s t
vấn. Trong đó, kỹ s t vấn hiện diện nh một nhân tố đảm bảo cho hợp đồng
luôn đợc thực hiện một cách nghiêm túc đến từng chi tiết, mọi sự bất cập
về kỹ thuật và tiến độ đợc phát hiện kịp thời, những biện pháp điều chỉnh
chất lợng ở phía các nhà thầu. Thông qua đấu thầu, các nhà thầu sẽ phát
huy cao nhất tính chủ động để tìm kiếm các cơ hội tham gia đấu thầu và
đây cũng là cách hữu hiệu nhất để tự hoàn thiện tổ chức sản xuất , tổ chức
quản lý, nâng cao năng lực, trình độ của cán bộ nhân viên...
4.4. Đấu thầu tạo ra chất lợng hạ tầng cơ sở phục vụ sự nghiệp phát
triển kinh tế đất nớc.
Thực trạng ở nớc ta hiện nay, hạ tầng cơ sở đang là mối quan tâm lớn
của Chính phủ. Trải qua nhiều năm chiến tranh, nớc ta không có điều kiện
phát triển kinh tế, nên nền kinh tế rất lạc hậu so với thế giới, hạ tầng cơ sở
thấp kém. Trong khi nớc ta có tiềm năng phát triển kinh tế rất lớn, là địa
chỉ rất hấp dẫn các nhà đầu t nớc ngoài, hiềm một nỗi hệ thống cơ sở hạ
tầng lại rất yếu nên các chủ đầu t nớc ngoài e ngại khi tiến hành đầu t.
Nh trên đã nói, đấu thầu là sự cạnh tranh giữa các nhà thầu nhằm tìm ra
nhà thầu tốt nhất đáp ứng đợc yêu cầu của chủ đầu t mà mục đích của nó
là đảm bảo chất lợng công trình, bao gồm cả các công trình hạ tầng cơ sở,
nghĩa là đấu thầu tạo ra tiền đề thuận lợi cho sự nghiệp phát triển kinh tế,
đặc biệt là trong điều kiện nớc ta hiện nay.
III. trình tự đấu thầu.
Quy chế đấu thầu xây dựng ban hành kèm theo Nghị định 43/ CP ngày
16/07/96 đã đợc sửa đổi theo Nghị định 93/ CP ngày 23/08/97 của Chính
phủ với mục đích đảm bảo tính công bằng khách quan thống nhất các hoạt
11
động đấu thầu trên toàn quốc về lĩnh vực xây lắp thực hiện trên toàn lãnh
thổ Việt nam.
Quy chế này quy định thể thức đấu thầu xây lắp các công trình thuộc
sở hữu Nhà nớc, các công trình thuộc dự án của Nhà nớc, vốn Nhà nớc,
vốn viện trợ ODA, các dự án liên doanh của doanh nghiệp Nhà nớc Việt
nam có vốn góp 30% trở lên...
Nhìn chung các công trình xây dựng thuộc sở hữu nhà nớc đều phải tổ
chức đấu thầu mới đợc triển khai xây dựng trừ các loại công trình có tính
Chỉ định tổ chuyên gia giúp việc đấu thầu do bên mời thầu thành lập
hoặc thuê có nhiệm vụ:
- Chuẩn bị các tài liệu pháp lý, soạn thảo hồ sơ mời thầu.
- Tiếp nhận và quản lý hồ sơ dự thầu.
- Phân tích đánh giá, xếp hạng các hồ sơ mời thầu.
- Tổng hợp chuẩn bị hồ sơ về kết quả đấu thầu, báo cáo chủ đầu t xem
xét.
Sơ tuyển nhà thầu (nếu có): Chỉ áp dụng cho những dự án lớn, phức tập,
có yêu cầu kỹ thuật cao nhằm chọn ra đợc những nhà thầu có đầy đủ năng
lực và kinh nghiệm thực hiện dự án.
Chuẩn bị hồ sơ mời thầu:
13
- Th mời thầu (nếu có sơ tuyển) hoặc thông báo mời thầu (nếu không
có sơ tuyển).
- Mẫu đơn dự thầu.
- Chỉ dẫn đối với nhà thầu.
- Hồ sơ thiết kế kỹ thuật kèm theo bảng tiên lợng và chỉ dẫn kỹ thuật.
- Tiến độ thi công.
- Các điều kiện tài chính, thơng mại, tỷ giá (nếu có) phơng thức thanh
toán.
- Điều kiện chung và điều kiện cụ thể của hợp đồng.
- Bảo lãnh dự thầu.
- Mẫu thoả thuận hợp đồng.
- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng.
Trong hồ sơ mời thầu cần đặc biệt lu ý: Hồ sơ thiết kế và bản tiên lợng
phải đợc xác định từ thiết kế kỹ thuật thi công (trờng hợp thiết kế một b-
ớc) hoặc thiết kế bản vẽ thi công (trờng hợp thiết kế 2 bớc) những chỉ dẫn
kỹ thuật phải hết sức cụ thể và rõ ràng. Riêng đối với các dự án có quy mô
lớn, khi tổ chức đấu thầu cha có bản vẽ thi công thì bản tiên lợng có thể đ-
ợc xác định từ thiết kế kỹ thuật. Ngoài ra, nếu đợc phép, bên mời thầu phải
thầu.
Sau khi gửi hồ sơ dự thầu, nếu muốn sửa đổi hoặc rút lại thì nhà thầu
phải có văn bản xin rút hồ sơ dự thầu gửi trực tiếp hoặc bằng Fax... cho
bên mời thầu và gửi trớc thời hạn nộp thầu cuối cùng đã đợc quy định.
Trong trờng hợp nộp hồ sơ dự thầu muộn tức là nộp sau khi hêt shạn
cuối cùng nh đã quy định thì hồ sơ này đợc coi là không hợp lệ và đợc gửi
lại nhà thầu theo nguyên trạng trừ một số trờng hợp bên mời thầu có thể
xem xét từng trờng hợp cụ thể căn cứ vào dấu bu điện đóng trên vỏ phong
bì có ghi ngày tháng nhận gửi.
* Bảo lãnh dự thầu:
Nhà thầu phải nộp bảo lãnh dự thầu cùng với hồ sơ dự thầu với tỉ lệ
trong khoảng từ 1% đến 3% tổng giá trị ớc tính giá dự thầu hoặc một mức
tiền bảo lãnh thống nhất đợc quy định trong hồ sơ mời thầu.
Đồng tiền trong bảo lãnh dự thầu là tiền sử dụng trong hồ sơ dự thầu
hoặc là đồng tiền chuyển đổi tự do khác đợc bên mời thầu chấp nhận dới
các hình thức sau:
Bảo lãnh Ngân hàng hoặc th tín dụng không huỷ ngang đợc phát
hành bởi một Ngân hàng đóng tại nớc bên mời thầu hoặc ở nớc ngoài đợc
bên mời thầu chấp thuận và có giá trị 30 ngày sau khi hết hiệu lực của hồ
sơ dự thầu.
Tiền mặt hoặc tiền séc.
(Nếu nhà thầu không nộp bảo lãnh dự thầu nh đã quy định trong hồ sơ mời
thầu thì hồ sơ dự thầu sẽ bị loại).
Mở thầu: Những hồ sơ dự thầu nộp đùng hạn sẽ đợc bên mời thầu tiếp
nhận và quản lý theo chế độ quản lý hồ sơ mật. Việc mở thầu đợc tiến
hành công khai theo ngày giờ và địa điểm ghi trong hồ sơ mời thầu. Trong
một số trờng hợp đặc biệt (dự án thuộc lĩnh vực an ninh quốc phòng), bên
mời thầu chỉ mời một số hạn chế các địa diện tham gia buổi mời thầu. Đại
diện của bên mời thầu và các nhà thầu tham dự (nếu có phải ký vào biên
bản mời thầu).
so sánh các hồ sơ dự thầu đợc tốt hơn.
Những hồ sơ đợc coi là bị loại khi không đáp ứng đợc đúng yêu cầu
nêu trong hồ sơ mời thầu và phải đợc báo cáo cho cấp có thẩm quyền đầu
t xem xét.
* Đánh giá chi tiết hồ sơ dự thầu.
Các hồ sơ dự thầu đợc xác định là hợp lệ và đáp ứng cơ bản sẽ đợc bên
mời thầu kiểm tra các lỗi số học và hiệu chính giá trị thầu, đồng thời cần
xem xét tính phù hợp của hồ sơ dự thầu về kỹ thuật, quy mô công trình,
thiết bị, nguyên vật liệu, tiến độ thi công... Trong trờng hợp hồ sơ dự thầu
có những sai lệch không cơ bản (không quá 10% tổng giá trị dự thầu) so
với các yêu cầu của hồ sơ mời thầu, bên mời thầu phải tiến hành điều
chỉnh bổ sung giá dự thầu để so sánh các hồ sơ dự thầu trên cùng một mặt
bằng.
Sau khi hiệu chỉnh các sai sót về số học và xác định các sai lệch, các
hồ sơ dự thầu đợc đánh giá theo từng tiêu chuẩn với nội dung chủ yếu sau:
1.Tiêu chuẩn kỹ thuật chất lợng.
Với tiêu chuẩn này bên mời thầu phải xem xét mức độ đáp ứng của hồ
sơ dự thầu so với yêu cầu chất lợng về vật t, thiết bị nêu trong hồ sơ thiết
kế và chỉ dẫn kỹ thuật. Đồng thời phải xem xét tính hợp lý và khả thi của
các dự án kỹ thuật, biện pháp tổ chức thi công, sơ đồ tổ chức hiện trờng,
bố trí đội ngũ lao động tại công trờng có phù hợp hay không (chú ý phải
có danh sách cán bộ chủ chốt trình độ thâm niên công tác, nhiệm vụ, trình
độ và kinh nghiệm của từng ngời đợc giao).
Các biện pháp bảo đảm điều kiện vệ sinh môi trờng và các điều kiện an
toàn khác nh phòng cháy, nổ, an toàn lao động, sự phù hợp của thiết bị thi
16
công, số lợng, chủng loại, năm sản suất, số thiết bị đi thuê và công suất
họat động...
2. Tiêu chuẩn kinh nghiệm nhà thầu.
Kinh nghiệm đã thực hiện các dự án có yêu cầu kỹ thuật có vùng địa lý
Tuỳ theo yêu cầu và điều kiện cụ thể của từng công trình, việc đánh giá
tổng hợp các tiêu chuẩn có thể áp dụng theo phơng pháp giá quy đổi trên
cùng một mặt bằng hoặc theo hệ thống thang điểm đã đợc phê duyệt.
Điểm chuẩn của các tiêu chuẩn và các tiêu chí cấu thành tiêu chuẩn đợc
xác định trong hệ thống thang điểm do ngời có thẩm quyền quyết định
đầu t phê duyệt trớc thời điểm mời thầu.
Đối với các công trình phải sơ tuyển thì các nhà thầu phải đảm bảo
trong hồ sơ dự thầu về năng lực kỹ thuật, năng lực tài chính và kinh
nghiệm. Do vậy cần phải xây dựng thang điểm để đánh giá 3 yếu tố trên.
Tuy nhiên cần căn cứ vào tính chất của mỗi gói thầu để từ đó xác định tỷ
17
trọng của từng yếu tố và các nhà thầu phải đạt đợc ít nhất 60% tổng số
điểm chuẩn về kỹ thuật mới đợc chọn để dự thầu.
Đối với công trình không qua sơ tuyển thì cần phải xây dựng hệ thống
thang điểm 100 để đánh giá chi tiết với từng tiêu chuẩn, trong đó 3 tiêu
chuẩn chính phải có tỷ lệ 65 % tổng số điểm trở lên.
Sau khi đánh giá tổng hợp các tiêu chuẩn theo phơng pháp giá quy đổi
hoặc theo hệ thống thang điểm nh trên, các hồ sơ dự thầu đợc xếp hạng
theo thứ tự để có căn cứ trình ngời có thẩm quyền quyết định đầu t xem
xét phê duyệt nhà thầu trúng thầu.
Trình duyệt kết quả đấu thầu xây dựng.
Việc trình duyệt kết quả đấu thầu tuỳ thuộc vào quy mô các công trình
xây dựng.
- Đối với các dự án nhóm A mà gói thầu xây dựng có giá trị từ 50 tỷ
VND trở lên sẽ do Thủ tớng Chính phủ phê duyệt kết quả đấu thầu trên cơ
sở đề nghị của Bộ trởng Bộ Kế hoạch và đầu t. Các gói thầu còn lại do Bộ
trởng, Chủ tịch UBND Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ơng và thủ trởng
cơ quan có thẩm quyền xem xét có thẩm quyền xem xét quyết định trên cơ
sở đề nghị của chủ đầu t.
- Đối với các gói thầu thuộc dự án nhóm B có giá trị từ 10 tỷ VND đến
Chủ đầu t chỉ hoàn trả bảo lãnh dự thầu (nếu có) và tổ chức triển khai
hợp đồng khi nhận đợc bảo lãnh thực hiện hợp đồng của nhà thầu trúng
thầu trong thời gian không quá 30 ngày kể từ thông báo trúng thầu.
*L u ý: Kết quả đấu thầu đợc xem xét huỷ bỏ và tổ chức đấu thầu lại vì
những lý do khách quan mà dự án phải thay đổi hoặc tất cả các hồ sơ dự
thầu về cơ bản không đáp ứng đợc yêu cầu của hồ sơ mời thầu hoặc có
bằng chứng cho thấy có tiêu cực trong đấu thầu.
2. Trình tự đấu thầu quốc tế.
Hiện nay, các nhà xây dựng Việt nam vẫn còn cha có nhiều kinh
nghiệm khi tham gia dự thầu đặc biệt là các dựu án đợc tổ chức đấu thầu
theo trình tự đấu thầu quốc tế. Do vậy, trong quá trình tham gia đấu thầu
còn có nhiều sơ hở thiếu sót... dẫn đến khả năng trúng thầu quốc tế hầu
nh là không có hoặc trúng thầu những công trình có giá trị không lớn. Từ
thực tế cho thấy công tác đấu thầu quốc tế còn có nhiều vấn đề cần nghiên
cứu xem xét, bản luận văn này xin nêu ra khái quát trình tự đấu thầu quốc
tế.
Trình tự đấu thầu quốc tế do Hiệp hội quốc tế các kỹ s t vấn (FIDIC)
soạn thảo đã đợc coi là tài liệu chung cho các nhà thầu trên toàn thế giới
sử dụng trong đấu thầu quốc tế. Mục đích của đấu thầu quốc tế nói riêng
cũng nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu đòi hỏi của các công trình xây dựng
về chất lợng, kỹ thuật, tiến độ thực hiện và tiết kiệm chi phí, hạn chế thấp
nhất những tranh chấp có thể xảy ra giữa các bên. Phơng pháp đấu thầu
quốc tế ngày càng tỏ ra có nhiều u điểm và đợc áp dụng rộng rãi, riêng đối
với các dự án lớn, các công trình có yêu cầu về mặt kỹ thuật phức tạp,
công trình của những công ty có nhiều chủ sở hữu và đặc biệt là những dự
án, công trình thuộc khu vực Nhà nớc, các công trình đợc sự tài trợ của
các tổ chức tài chính quốc tế thì việc xây dựng thông qua đấu thầu quốc tế
là cách duy nhất tránh những sai lầm có thể gây thiệt hại và giảm uy tín
cho các bên hữu quan.
Trong đấu thầu quốc tế có hai loại: Đấu thầu mua sắm thiết bị vật t để
Xét duyệt kết quả đấu thầu
Công bố kết quả trúng thầu và
ký hợp đồng
a, Giai đoạn sơ tuyển: Danh sách sơ tuyển chỉ hạn chế trong phạm vi 7
ứng thầu trở lại. Thực chất của sơ tuyển là bớc lựa chọn những nhà thầu có
đủ t cách và năng lực tham gia đấu thầu và chỉ có những nhà thầu đợc lựa
chọn qua giai đoạn sơ tuyển mới đợc tham gia giai đoạn sau.
Mời dự sơ tuyển: Bên mời thầu thông báo cho các nhà thầu nói rõ
chủ đầu t, ngày phát hành tài liệu, phát hành đơn mời thầu, chỉ dẫn nhà
thầu kê khai năng lực, thông báo ngày và địa điểm nộp đơn dự thầu. Bên
dự thầu tự động tìm kiếm thông tin.
Phát và nhận đơn xin dự tuyển:
- Bên mời thầu cần phát hành chỉ dẫn dự sơ tuyển đến các nhà thầu.
Trong đó, cần nêu rõ:
+ Cơ cấu sản xuất và cơ cấu quản lý.
+ Kinh nghiệm thi công công trình.
20
+ Năng lực về quản lý, điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật, đội ngũ lao
động.
+ Khả năng về tài chính, đặc biệt là tính ổn định về mặt tài chính.
- Bên dự thầu phải kê khai chính xác yêu cầu của bên mời thầu và nộp
đơn sơ tuyển.
Phân tích, đánh giá đơn sơ tuyển và chọn ứng thầu.
- Bên mời thầu nhận hồ sơ của các nhà thầu xin sơ tuyển, nghiên cứu
và chọn lọc ra các nhà thầu có điều kiện tham gia ứng thầu.
- Cần lu ý một số vấn đề sau khi lựa chọn ứng thầu:
+ Kinh nghiệm của nhà thầu, nhất là các công trình có tính chất tơng tự
mà nhà thầu đã thi công.
hoặc không gửi đơn dự thầu. Về phía các ứng thầu có thể gửi đại diện đến
dự buổi lễ mở thầu này.
Đánh giá, xếp hạng nhà thầu:
21
Việc đánh giá xếp hạng nhà thầu xây lắp đợc xem xét theo 3 mặt chủ
yếu: kỹ thuật, điều kiện hợp đồng, thơng mại. Đồng thời, yêu cầu các ứng
thầu phải thuyết minh những điểm cha rõ ràng (nếu cần thiết) và tiến đến
hoàn chỉnh đánh giá.
Xét duyệt kết quả đấu thầu:
Sau khi đánh giá, xếp hạng đợc các ứng thầu, kết quả đấu thầu phải đợc
cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu t phê duyệt mới có giá trị. Nếu kết
thúc giai đoạn đấu thầu, không có nhà thầu trúng tuyển phải xin ý kiến
của cơ quan này để tổ chức đấu thầu lại.
Công bố kết quả trúng thầu và ký hợp đồng:
Chủ công trình họp riêng với từng ứng thầu đã đợc chọn để trao đổi
thêm về năng lực hoặc các mặt khác cha phù hợp với yêu cầu. Sau khi có
quyết định trúng thầu, chủ công trình yêu cầu nhà thầu trúng thầu nộp bảo
lãnh thực hiện hợp đồng đồng thời chuẩn bị văn kiện ký hợp đồng và sau
đó phải báo lại cho các nhà thầu không trúng thầu, trả lại bảo lãnh dự thầu.
Về phía nhà thầu, sau khi có quyết định trúng thầu thì phải nộp bảo
lãnh thực hiện hợp đồng cho chủ công trình trong vòng 28 ngày từ khi
nhận đợc giấy chấp nhận trúng thầu với số tiền ghi trong phụ lục của hồ sơ
dự thầu.
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng phải dợc thoả thuận giữa chủ công trình
và nhà thầu về hình thức và cơ quan bảo lãnh đó phải đợc chủ công trình
đồng ý. Bảo lãnh thực hiện hợp đồng có giá trị 10% đến 15% giá trị hợp
đồng và có hiệu lực cho đến khi nhà thầu thi công, hoàn thiện sửa chữa sai
sót theo yêu cầu của hợp đồng. Thời hạn trả lại bảo lãnh thực hiện hợp
đồng là 14 ngày kể từ ngày cấp chứng chỉ nghiệm thu công trình.
22
- Tại Hà nội có 10 xí nghiệp, nhà máy.
- Tại Thái nguyên có 11 xí nghiệp, nhà máy.
- Tại Tuyên quang, Quảng ninh, Thanh hoá và Nam định mỗi tỉnh có 1
xí nghiệp.
Ngoài ra, Công ty có 2 chi nhánh tại Hà nội, Hải phòng, 1 văn phòng
đại diện tại Bắc cạn, 1 Trung tâm t vấn và thiết kế xây dựng, 1 công ty liên
doanh sản xuất cốp pha thép và kết cấu với Trung quốc.
Hiện nay, Công ty có đội ngũ công nhân viên chức gồm hơn 5000 kỹ s,
kỹ thuật viên, công nhân có tay nghề cao chuyên đảm nhận xây dựng công
trình có quy mô vừa và lớn, các công trình dân dụng đến cấp I, cùng với
23
các sản phẩm công nghiệp khác nh: xi măng, tấm lợp, gạch lát nền, kết
cấu phi tiêu chuẩn. . .
Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Xây lắp và sản xuất
công nghiệp cùng với những thành tựu mà Công ty đã đợc là những u thế
của công tác đấu thầu. Nó chứng tỏ Công ty có đủ uy tín, kinh nghiệm và
khả năng xây dựng các công trình có quy mô lớn, trình độ khoa học công
nghệ cao. Vì vậy, Công ty cần triệt để khai thác có hiệu quả và tiếp tục
khẳng định hơn nữa lợi thế quan trọng này trong quá trình phát triển của
mình.
II. những đặc điểm kinh tế, kỹ thuật chủ yếu ảnh hởng
đến công tác đấu thầu của Công ty.
1. Nhiệm vụ sản xuất và đặc điểm sản phấm của Công ty.
Công ty Xây lắp và sản xuất công nghiệp là một đơn vị xây lắp công
nghiệp và dân dụng đợc Nhà nớc thành lập với nhiệm vụ chủ yếu là xây
dựng các công trình thuộc Bộ công nghiệp và của ngành công nghiệp cả
nớc, xây dựng các công trình dân dụng đến cấp I. Những năm gần đây, với
phơng hớng đa dạng hóa sản phẩm công nghiệp phục vụ cho thi công
công trình của Công ty và sản xuất theo nhu cầu thị trờng, Công ty đã mở
rộng đầu t sản xuất các sản phẩm công nghiệp làm cho giá trị sản xuất
TOYOTA, HONDA... Hiện nay, Công ty đang tham gia xây dựng nhiều
công trình có vốn đầu t trong nớc cũng nh nớc ngoài: nhà máy hệ thống
công nghiệp LGIS - VINA, khách sạn trung tâm Hà nội, phòng mổ Bệnh
viện hữu nghị Việt - Đức, công trình mở rộng nhà máy đờng Lam sơn
(Thanh hoá)...
Tuy nhiên, sản phẩm xây lắp của Công ty thờng có chu kỳ sản xuất dài
và phụ thuộc vào nhiều yếu tố: năng lực tài chính, kỹ thuật, điều kiện tự
nhiên, các loại nguyên vật liệu phục vụ thi công... Thực tế, chu kỳ sản
xuất sản phẩm xây lắp của Công ty thờng kéo dài ít nhất 6 tháng. Do đó,
đòi hỏi phải tập trung một cách cao độ các yêu cầu phải cung ứng cho thi
công công trình. Điều này có tác động đến việc lập hồ sơ dự thầu, phơng
pháp và tiến độ thi công, dự toán dự thầu..., ảnh hởng trực tiếp đến hiệu
quả và chất lợng công tác đấu thầu. Bởi vì đây là các vấn đề quan trọng mà
bên mời thầu sử dụng để xét chọn nhà thầu.
Trong những năm gần đây nhờ đổi mới công nghệ, đầu t các thiết bị thi
công tiên tiến, bồi dỡng nâng cao trình độ cán bộ quản lý và công nhân kỹ
thuật các chuyên ngành, tuyển dụng thêm nhiều kỹ s trẻ vào công tác quản
lý đã làm tăng trởng mạnh mẽ kết quả hoạt động sản xuất của công ty. Do
vậy, Công ty đã trúng thầu xây dựng nhiều công trình có giá trị lớn. Tất cả
các công trình đó đều đảm bảo chất lợng, tiến độ, các yêu cầu kỹ thuật
công nghệ, mỹ quan đợc các chủ đầu t đánh giá cao.
2. Đặc điểm công nghệ sản xuất sản phẩm và năng lực thi công của
công ty.
Đặc điểm về công nghệ chế tạo ra sản phẩm trong xây dựng là một
trong những yếu tố quan trọng nói lên năng lực sản xuất của công ty.
Muốn thành công trong đấu thầu xây lắp các công trình có quy mô lớn,
công nghệ hiện đại thì công ty cần phải có dây chuyền công nghệ cùng
máy móc thiết bị thi công hiện đại, các thao tác trong thi công phải thành
thạo chuẩn xác.
Hiện nay, Công ty đã có đội ngũ kỹ s, công nhân kỹ thuật lành nghề,