LỜI CẢM ƠN
Sau hai năm học tập và nghiên cứu cùng với sự tận tình chỉ bảo, giúp đỡ
của các thầy (cô), bạn bè, đồng nghiệp và gia đình tôi đã hoàn thành luận văn.
Để có được kết quả như ngày hôm nay trước tiên em xin gửi lời cảm ơn
chân thành và sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn khoa học TS. Vũ Văn Liên và
PGS.TS. Mai Sỹ Tuấn đã luôn tận tình, giúp đỡ, định hướng giúp em hoàn
thành luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy (cô) giáo trong bộ môn Thực vật
học – Khoa Sinh học – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã cho em kiến thức,
tạo điều kiện, giúp đỡ và đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp em hoàn thành
khóa học và luận văn.
Qua đây, em cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các cô chú, anh (chị) em
ở Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam và trong ban quản lý rừng Tam Đảo – Vĩnh
Phúc đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài.
Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới bạn bè, đồng
nghiệp và gia đình đã luôn động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập
và nghiên cứu.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2015
Học viên
Hoàng Thị Liên
MỤC LỤC
LỤC MỘT SỐ ẢNH ĐỀ TÀI......................................................................PL.1
DANH MỤC BẢNG
5
2. Lịch sử nghiên cứu
2.1 Tình hình nghiên cứu các loài bướm trên thế giới
Trên thế giới cũng như trong khu vực, bướm đã được nghiên cứu rất
nhiều và có số lượng sách xuất bản nhiều hơn so với các bộ côn trùng khác. Các
công trình nghiên cứu về thành phần loài bướm đã xuất bản là Chou (1994) về
bướm ở Trung Quốc, Corbet & Pendlebuty (1992) về bướm ở Ma-lai-xi-a,
D’Abrera (1982-1986) về bướm ở vùng Đông Phương - Úc, Osada et al (1999)
về bướm ở Lào, Pinratana (1985 – 1988) về bướm ở Thái Lan, Ishii M. (1996)
về bướm Nhật [24, 25, 26, 40, 41, 30].
Kết quả nghiên cứu về bướm trên thế giới cho thấy: đối với nhóm bướm
tính đa dạng thường thấp hơn ở rừng thành thục và cao hơn ở các giai đoạn diễn
thế ban đầu của rừng (Bobo et al., 2006; Schulze et al., 2004) [20, 52] . Một số
nghiên cứu về nhóm ngài đêm cũng dẫn đến kết luận tương tự, kết luận cho rằng
nhóm này có tính đa dạng cao ở rừng thứ sinh và thấp ở rừng nguyên sinh (Beck
et al., 2002) [21].
Tính đa dạng của côn trùng tăng dần theo độ lớn của sinh cảnh và tính
phức tạp về cấu trúc của thực vật trong sinh cảnh đó (Price, 1975) [48]. Điều
này có nghĩa là sinh cảnh rừng có cấu trúc nhiều tầng tán và phong phú về
thực vật thì sẽ có nhiều loài côn trùng hơn so với sinh cảnh rừng có cấu trúc ít
tầng tán và hệ thực vật đơn giản.
Theo New & Collins (1991) [39] có bốn nguyên nhân gây áp lực làm
cho các loài bướm bị đe doạ là: (1) sự phá huỷ và làm thay đổi sinh cảnh
(habitat), (2) ô nhiễm môi trường, (3) các loài ngoại lai (Exotic species), và
(4) khai thác thương mại.
Những kết quả nghiên cứu về tác động của môi trường đã chỉ ra rằng
khi rừng tự nhiên bị tác động ở một mức độ nhất đinh thì sự đa dạng về loài
và sự phong phú về cá thể của các loài trong các loài bướm tăng lên. Tuy
7
Roy et al. (2001) [50] thông qua việc giám sát 31 loài bướm ở Anh
từ năm 1976, đã xác định có mối quan hệ chặt chẽ giữa thời tiết và sự biến
động số lượng của các loài bướm, vào mùa hè ấm áp sự phong phú của bướm
tăng.
Brunzel và Elligsen (1999) [23] đã nghiên cứu các loài bướm ở Đức từ
năm 1989 đến 1991 và sau đó nhắc lại vào năm 1997, tác giả xác định thời
tiết có ảnh hưởng đến thành phần và sự phong phú của bướm, thời tiết thuận
lợi làm tăng số lượng cá thể của các loài bướm trong những năm sau. Pollard
(1988) [44] xác định nhiệt độ và lượng mưa ảnh hưởng đến bướm ở Anh: vào
những năm mùa hè ấm áp và khô ráo quần thể các loài bướm tăng.
Ngoài ra, các nhân tố ảnh hưởng đến sự phong phú của bướm còn là
các điều kiện môi trường: thức ăn và sinh cảnh.
Sự phá hủy rừng đã làm cho quần thể của nhiều loài bướm bị giảm sút
nghiêm trọng ở Phi-li-pin, In-đô-nê-xi-a, Gia-mai-ca và Bra-xin (New et
Collins, 1991) [39]. Các loài bướm phân bố hẹp sống gắn liền với rừng rất dễ
bị tổn thương, vì vậy, muốn bảo tồn chúng cần phải bảo vệ rừng. Thomas
(1991) [56] nghiên cứu bướm ở Co-xta Ri-ca đã xác định các loài bướm phân
bố hẹp về địa lý có khả năng sống ở môi trường bị thay đổi kém hơn so với
các loài phân bố rộng. Sự giới hạn của các loài này ở các sinh cảnh chưa bị
thay đổi chỉ ra rằng việc phá rừng có ảnh hưởng bất lợi cho sự tồn tại của
chúng. Thomas & Mallorie (1985) [57] cho rằng đa dạng loài bướm có quan
hệ với tỷ lệ độ che phủ thực vật mặt đất, nhiều loài bướm sống gắn liền với
các giai đoạn diễn thế cụ thể của rừng, vì vậy, chiến lược để bảo tồn bướm tốt
nhất là bảo vệ nhiều loại sinh cảnh.
Theo Schappert (2000) [51], để bảo tồn bướm cũng như bảo tồn các loài
động vật hay thực vật khác, điều cần thiết đòi hỏi trước tiên giải quyết được ba
vấn đề: thứ nhất, cần biết vị trí của chúng, mối quan hệ của chúng với các loài
9
Các công trình nghiên cứu về bướm đã được tiến hành ở các vườn quốc
gia của Việt Nam như: Lào Cai (Vũ Văn Liên, 2003) [5]; Cúc Phương, Ninh
Bình (Vũ Văn Liên & Đặng Thị Đáp, 2002) [6]; Tam Đảo, Vĩnh Phúc (Phạm
Văn Lầm, 2005; Phạm Văn Lầm và nnk., 2004; Vu, 2009, 2013) [3, 4, 61, 62]
; Cát Bà, Hải Phòng (Đặng Ngọc Anh & Vũ Văn Liên, 2005) [1]...Các công
trình nghiên cứu về bướm ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên ở Việt Nam như: Hòn
Bà, Khánh Hoà (Vũ Văn Liên, 2005) [7]; Tam Đảo, Cúc Phương và Hoàng
Liên (Vũ Văn Liên, 2013) [8] ...
Một số nghiên cứu về phân bố bướm theo đai độ cao ở Miền Trung Việt
Nam cho thấy đa dạng về loài và phong phú của các loài trong các loài bướm
ở đai cao thấp hơn so với ở đai thấp (Vũ Văn Liên, 2005) [7].
Phần lớn các công trình nghiên cứu về bướm ở Việt Nam tập trung vào
xây dựng danh sách loài. Các công trình nghiên cứu về sinh học và sinh thái
bướm còn ít.
Tạ Huy Thịnh & Hoàng Vũ Trụ (2004) [17] đã so sánh độ tương đồng về
thành phần loài bướm giữa một số vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên của
Việt Nam. Tác giả đã xác định yếu tố địa lý - khí hậu là yếu tố quyết định và độ
cao là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự tương đồng về thành phần loài bướm
giữa các khu vực.
Vũ Văn Liên và Đặng Thị Đáp (2002) [6] nghiên cứu bướm ở Vườn
Quốc gia Cúc Phương xác định rừng thứ sinh có thành phần loài cao hơn so với
thành phần loài ở rừng nguyên sinh. Spitzer et al. (1993) [54] nghiên cứu bướm
ở các loại sinh cảnh khác nhau. Kết quả cho thấy có sự khác nhau về sự đa dạng
bướm ở các loại sinh cảnh có thảm thực vật khác nhau. Tính đa dạng về bướm
cao ở các sinh cảnh rừng thứ sinh,thấp hơn ở các sinh cảnh rừng kín tự nhiên.
Các chỉ số được sử dụng là chỉ số đa dạng (chỉ số Shannon- Weaver H’),
chỉ số phong phú và chỉ và chỉ số về mối quan hệ giữa bướm và môi trường sống
loài bướm quý hiếm nào ở đây. Vu (2001) [59] đã tập hợp và thống kê được
301 loài bướm ở Vườn Quốc gia Tam Đảo và bổ sung thêm một số loài bướm
mới cho Tam Đảo cũng như Việt Nam. Vu và Yuan (2003) [60] nghiên cứu
các loài bướm của tổng họ bướm Phượng ở các đai độ cao và sinh cảnh khác
nhau ở Vườn quốc gia Tam Đảo chỉ ra: ở khu vực thấp dưới 800m có độ đa
dạng cao hơn khu vực cao trên 800m. Vũ Văn Liên và Vũ Quang Côn (2005)
[9] nghiên cứu khả năng sử dụng chỉ thị sinh học của loài bướm
Stichophthalma howqua. Kết quả cho thấy, các sinh cảnh rừng tự nhiên có số
lượng cá thể loài cao nhất, khi cường độ tác động đến rừng tăng, số lượng cá
thể của loài giảm, do vậy, Stichophthalma howqua có thể sử dụng như là chỉ
thị sinh học cho rừng chưa bị tác động ở Vườn Quốc gia Tam Đảo. Vũ Văn
Liên (2008) [12] đã khảo sát được 361 loài bướm ở vườn Quốc Gia Tam Đảo
và bổ sung 55 loài mới cho Vườn Quốc gia Tam Đảo và 3 loài mới cho Việt
Nam. Spitzer et al (1997) [55] nghiên cứu ảnh hưởng của các tác động rừng
đến bướm ở Tam Đảo, chỉ ra loài giới hạn ở rừng có phạm vi phân bố địa lý
hẹp, đa dạng của các loài bướm ở khoảng trống trong rừng cao hơn so với ở
rừng kín.
Nhìn chung, có khá nhiều công trình nghiên cứu bướm ở Việt Nam.
Tuy vậy, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào đa dạng, thành phần loài ...
còn nghiên cứu ảnh hưởng của thảm thực vật đến đa dạng các loài bướm hầu
như chưa có.
3. Cơ sở khoa học của đề tài
Bướm là một trong những nhóm côn trùng được biết đến và được
nghiên cứu cũng như sưu tầm nhiều nhất. Trên thế giới, có rất nhiều công
trình nghiên cứu về bướm, đặc biệt việc phân loại học đã xác định được hầu
hết đến loài và loài phụ.
12
có biện pháp bảo tồn phù hợp nhằm duy trì sự tồn tại của chúng trong tự
nhiên. Các biện pháp giám sát để biết được sự thay đổi về tình trạng và chất
lượng của hệ sinh thái rừng thường khó khăn và tốn kém. Một trong những
biện pháp có thể dễ dàng sử dụng nhằm đáp ứng yêu cầu trên là sử dụng
các loài sinh vật chỉ thị. Các chỉ số như: sự phong phú, sự vắng mặt hay có
mặt của loài sinh vật chỉ thị được sử dụng như là những số đo nhằm phản
ánh tình trạng của hệ sinh thái. Các loài chỉ thị được sử dụng để theo dõi,
đánh giá tác động tiêu cực của con người cũng như bất lợi của thiên nhiên
đến các các loài sinh vật.
Trong lớp côn trùng, bướm là nhóm khá nhạy cảm với sự thay đổi về
môi trường và việc sử dụng chúng có thể giúp cảnh báo sớm về thay đổi bất
lợi diễn ra trong tự nhiên. Đến nay đã có nhiều loài mà quần thể của chúng bị
giảm sút thậm chí bị tuyệt chủng do ô nhiễm môi trường, do việc phá hủy sinh
cảnh hay mất đi rừng tự nhiên. Van Swaay năm 1990 [58] đã chỉ ra phạm vi
phân bố và mức độ phong phú của nhiều loài bướm ở Hà Lan đã giảm mạnh:
trong số 71 loài bản địa có 15 loài đã bị tuyệt chủng .
Tình trạng giảm sút tương tự của nhiều loài cũng đã được ghi nhận
(Ishii, 1996; Pollard et Yates, 1992) [30,45]. Sự giảm sút này là do con người
tác động trực tiếp hoặc giám tiếp thông qua tác động đến sinh cảnh của chúng.
Bướm có mối quan hệ khăng khít với thực vật và có phản ứng khi thực
vật thay đổi. Khi rừng tự nhiên bị tác động, thành phần và cấu trúc thảm thực
vật thay đổi đã tác động đến các loài bướm. Mọi sự thay đổi về rừng đều có
thể làm thay đổi về các loài các loài bướm vì chúng khá nhạy cảm với những
thay đổi về môi trường sống (Blau, 1980; Bobo et al., 2006; Spitzer et al.,
1997) [19, 20, 55].
14
4.2. Đối tượng
Các loài bướm thuộc tổng họ bướm Phượng, bộ Cánh vảy
(Lepidoptera, Papilionoidea); thảm thực vật ở khu vực nghiên cứu tại Vườn
Quốc gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Phía Tây Tam Đảo, dọc con đường mới mở năm 2005, từ thị trấn Tam
Đảo đến chân đỉnh núi Rùng Rình ở Vườn Quốc gia Tam Đảo – Vĩnh Phúc.
* Các loại sinh cảnh nghiên cứu
- Sinh cảnh ven đường trong rừng kín tự nhiên (S3): phía Tây thị trấn
tam Đảo, gần chân đỉnh núi Rùng Rình tọa độ 210 46574 và 105064185. Trước
năm 2005, khu vực này là rừng kín tự nhiên (hoặc gần như tự nhiên). Năm
2005, một con đường lớn được mở dọc theo đường mòn. Tuyến điều tra thực
hiện dọc đường, hai bên đường là hệ thực vật rừng tự nhiên (hoặc gần tự
nhiên), tán rừng mở.
- Sinh cảnh ven đường trong rừng thứ sinh (S2): phía Tây thị trấn Tam
Đảo, gần với sinh cảnh S3 tọa độ 210 46057 và 105064240. Cũng như ở sinh
cảnh (S3), trước đây là rừng thứ sinh, năm 2005, một con đường lớn được mở
dọc theo đường mòn. Tuyến điều tra dọc đường, hai bên đường là hệ thực vật
rừng thứ sinh, tán rừng mở.
- Sinh cảnh cây bụi, cỏ và cây nông nghiệp (S1): Gần thị trấn Tam Đảo,
giáp với sinh cảnh S2 tọa độ 210 45451 và 105064259. Năm 2005, đường
nhựa mới được mở dọc theo tuyến đường mòn chạy từ thị trấn Tam Đảo tới
chân đỉnh Rùng Rình. Tuyến điều tra dọc đường, hai bên là cỏ, cây trồng cây
nông nghiệp (Su su), cây bụi và mảng rừng nhỏ còn sót lại.
4.4. Thời gian nghiên cứu
-Từ tháng 9/2014 đến tháng 10/2015.
+ Tháng 9/2014 đến tháng 8/2015: nghiên cứu tài liệu, khảo sát thực
16
+ Người điều tra.
+ Thời gian bắt đầu và kết thúc cho mỗi tuyến điều tra.
+ Điều kiện thời tiết
- Dụng cụ kèm theo khi điều tra:
+ Vợt bắt côn trùng, túi bướm,…
+ Máy ảnh, sách hướng dẫn định tên, đồng hồ, bút, v.v.
Phương pháp điều tra:
- Thời gian tiến hành điều tra trong ngày: 9h -16h.
- Số lượng: nhóm điều tra cần 2 người trở lên.
- Nhóm điều tra đi với tốc độ vừa phải khoảng 1km/h quan sát và ghi
chép tất cả các loài và cá thể bướm bắt gặp trên tuyến với mỗi chiều khoảng
10m (10x10x10m) theo phương pháp tuyến điều tra của Pollard (1982) [43]
đã được sử dụng ở Việt Nam (Vũ Văn Liên, 2008) [12].
- Đối với những loài khó xác định có thể bắt, chụp ảnh và định loại sau đó
thả ra. Với những loài không thể xác định tên trên thực địa cần thu bắt (đánh dấu
trong phiếu điều tra). Đối với những loài không xác định được tên đến loài,
không thu bắt được, nhưng xác định được đến giống thì ghi tên giống.
Ngoài việc điều tra định lượng theo tuyến để đánh giá ảnh hưởng của
thảm thực vật khác nhau đến đa dạng các loài các loài bướm ở các sinh cảnh
có thảm thực vật khác nhau, thu một số mẫu nhất định ở ngoài tuyến điều tra
để làm tiêu bản phục nghiên cứu, định tên ở phòng thí nghiệm.
6.3. Phương pháp thu và bảo quản mẫu
Thu mẫu theo phương pháp thông dụng là dùng vợt côn trùng. Thu thập
một số mẫu nhất định phục vụ cho việc định loại. Mẫu sau khi thu, bỏ vào túi
đựng mẫu, các thông tin về mẫu được ghi đầy đủ, như địa điểm, ngày thu
mẫu, loại sinh cảnh, người thu.
Xử lý mẫu vật, làm tiêu bản, bảo quản và định tên:
18
+ Sau khi cố định xong, sấy ở nhiệt độ khoảng 40 0C trong thời gian 24 –
72 giờ hoặc phơi.
+ Sấy xong, tháo mẫu và cắm vào hộp côn trùng, tốt nhất mẫu được
bảo quản ở nhiệt độ 20-240C và độ ẩm khoảng 50%.
20
6.4. Định tên và phân tích số liệu
Định tên côn trùng cánh vảy dựa và các tài liệu ở khu vực và trong
nước như Chou (1994) [24], DA’brera (1982-1984) [26], Osada et al.
(1999) [40], Monasstyrski (2005, 2007) [35, 36], Monastyrski & Devyatkin
(2003) [37]. Định tên các loài thực vật theo Phạm Hoàng Hộ (1999-2000)
[2] và hỗ trợ của các chuyên gia thực vật ở vườn Quốc gia Tam Đảo và Bảo
tàng thiên nhiên Việt Nam.
Chỉ số đa dạng, chỉ số tương đồng, chỉ số phong phú các loài của các
loài được tính toán bằng phần mềm Primer v.5 chạy trên Window 7. Các chỉ
số tính toàn là chỉ số đa dạng H’, chỉ số phong phú d, số loài S, số lượng cá
thể N. Sự tương đồng (sự giống nhau) về thành phần loài giữa các sinh cảnh
cũng được xác định để đánh giá mức độ giống hay khác nhau về thành phần
loài côn trùng giữa các kiểu thảm thực vật khác nhau.
* Chỉ số đa dạng cho từng loại sinh cảnh được tính theo công thức
−∑i = 1 PilnPi
S
Shannon – Weaver (Price, 1975) [48]: H’ =
Trong đó s là số loài bướm, Pi là tỷ lệ của tổng số cá thể loài I với
2014 và 2015 được so sánh với số liệu năm 2002 đến 2004. Sinh cảnh khu
vực nghiên cứu trước năm 2005 hầu như không có sự thay đổi giữa các năm.
Từ năm 2005, sinh cảnh khu vực nghiên cứu có sự thay đổi lớn, con đường
mòn hẹp dưới tán rừng được mở rộng thay bằng con đường lớn với tán rừng
mở. Số liệu về quần thể và đa dạng các loài của các loài bướm năm 20022004 được trích từ các công trình đã công bố cũng như luận án tiến sĩ sinh
học của Vũ Văn Liên (2005, 2008) [7, 12].
Số liệu về biến động quần thể hay số lượng cá thể của loài của tháng
được tính bằng số cá thể trung bình của một lần điều tra. Số liệu về số lượng
cá thể của năm là tổng số cá thể của các tháng.
Chương 1: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA KHU
VỰC NGHIÊN CỨU
22
1.1. Vị trí địa lý
Nghiên cứu được tiến hành tại Vườn Quốc gia Tam Đảo, thuộc địa giới
ba tỉnh là Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tam Đảo với tổng điện tích 19000 ha.
Ngày 9/8/1986 Khu Rừng cấm Tam Đảo có tên chính thức trong quyết định số
194/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tưởng Chính phủ ) về
hệ thống các Khu Rừng cấm của Việt Nam và giao trách nhiệm cho ủy ban
nhân dân các tỉnh có khu rừng cấm điều tra, quy hoạch và xây dựng luật
chứng kinh tế kỹ thuật. Ngày 6/3/1996, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành
quyết định số 136/TTg phê duyệt dự án khả thi đầu tư xây dựng Vườn Quốc
gia Tam Đảo. Vườn Quốc gia Tam Đảo trải dài từ 21o 21’ đến 21o42’ vĩ độ Bắc
và 105023’ đến 105044’ kinh độ Đông. Đây là một dãy núi lớn dài 80km chiều
ngang của khối núi rộng 10-15 km, chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam,từ
huyện Sơn Dương (Tuyên Quang) đến huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc). Trung
tâm Vườn Quốc gia Tam Đảo cách Thủ đô Hà Nội 75km về phía Tây Bắc,
cách thị xã Vĩnh Yên 13km về phía Bắc. Diện tích là 36883 ha, được hoạch
ngày/ năm, sườn Đông và đỉnh trên 190 ngày/ năm.
Do ảnh hưởng của điều kiện địa hình nên nhiệt độ vùng thấp nhất biến
động từ 22,9oC đến 23,7oC, tháng lạnh nhất trên 15oC (tháng 1), tháng nóng
nhất trên 28oC (tháng 7). Riêng vùng núi có nền nhiệt độ thấp hơn cả, bình
quân 18oC, lạnh nhất 10,8oC (tháng 1), tháng nóng nhất 23oC (tháng 7).
Độ ẩm bình quân khu vực thấp trung bình là 81 - 84%, trên cao là 87%.
Khu vực núi khi có mưa phùn lên tới trên 90%.
1.4. Thực vật Tam Đảo
Theo kết quả điều tra của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) cho thấy ở Tam
Đảo có 8 loại rừng và thực bì khác nhau, mà mỗi kiểu rừng đó thường đại
diện cho một loại hình lập địa và tương ứng có một tổ thành loài cây nhất
định như:
- Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới: kiểu rừng này bao phủ phần
lớn dãy núi Tam Đảo và phân bố ở độ cao dưới 800m, với nhiều tầng tán và
những loài cây có giá trị kinh tế như: Chò chỉ (Shorea chinensis), Giổi (Michelia
spp.), Re (Cinamomum spp.), Trường mật (Pavviesia annamensis) …
- Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp: kiểu rừng này
phân bố từ độ cao 800m trở lên và trong quần hệ thực vật của kiểu rừng này
không còn các loài thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae). Thực vật ở đây gồm các
loài trong họ Long não (Lauraceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Chè (Theaceae), họ
Ngọc lan (Magnoliaceae), họ Sau sau (Hamamelidaceae) … Từ độ cao 1000m
trở lên xuất hiện một số loài thuộc ngành Hạt trần như: Thông nàng
(Dacrycarpus imbrricatus), Pơ mu (Fokieria hodginsii), Thông tre
(Podocarpus neriifolicy), Kim giao (Nageia fleuryi) … Dưới tán kiểu rừng
này thường có các loài như: Vầu đắng, Sặt gai. Các loài cây bụi thuộc họ Cà
phê (Rubiaceae), Đơn nem (Myrsiraceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) …
- Rừng lùn trên đỉnh núi: là kiểu phụ đặc thù của rừng kín thường
25