ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
DƢƠNG THỊ THANH MAI
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA THẢM THỰC VẬT
ĐẾN MỘT SỐ TÍNH CHẤT LÝ, HÓA HỌC VÀ VI SINH VẬT
ĐẤT Ở XÃ PHÚC XUÂN - THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN -
TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Sinh Thái Học
Mã số: 60.42.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. MA THỊ NGỌC MAI
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ii
LỜI CẢM ƠN Trước tiên tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đến TS. Ma Thị Ngọc Mai - Đại học
Sư Phạm Thái Nguyên, người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình
học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô trong khoa Sinh học, trường Đại học
Sư phạm -Đại học Thái Nguyên, khoa Sau Đại học - Đại học Thái Nguyên, Viện
Khoa học Sự sống, phòng thí nghiệm khoa Hóa học - Trường Đại học Sư Phạm -
Đại học Thái Nguyên đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong học tập, nghiên
cứu khoa học.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, Sở Tài
Nguyên - Môi Trường tỉnh Thái Nguyên, UBND tỉnh Thái Nguyên, UBND xã Phúc
Danh mục các bảng biểu, các hình vi
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 3
3. Phạm vi nghiên cứu 3
4. Đóng góp của luận văn 3
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Khái niệm chung về thảm thực vật 4
1.2. Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới, Việt Nam và khu vực
nghiên cứu 4
1.2.1.
Những nghiên cứu về thảm thực vật
trên thế giới 4
1.2.2. Những nghiên cứu về thảm thực vật ở Việt Nam 5
1.2.3. Những nghiên cứu về thảm thực vật ở khu vực nghiên cứu 8
1.3. Những nghiên cứu về ảnh hưởng của thảm thực vật đến tính chất lý
hóa và vi sinh vật đất trên thế giới và ở Việt Nam 10
1.3.1. Những ảnh hưởng của hệ sinh thái đất đến sự phát triển của thảm
thực vật trên thế giới và ở Việt Nam 10
1.3.2. Những nghiên cứu về ảnh hưởng của thảm thực vật tới hệ sinh
thái đất rừng trên thế giới và ở Việt Nam 12
1.4. Những nghiên cứu về khả năng cải tạo đất của một số cây trồng 14
Chƣơng 2. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI TẠI
VÙNG NGHIÊN CỨU 16
2.1. Điều kiện tự nhiên 16
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
iv
2.1.1. Vị trí địa lý 16
4.2.3. Dung trọng và độ xốp 39
4.2.4. Sự thay đổi mùn và NPK 40
4.2.3. Sự thay đổi độ chua và Ca
++
, Mg
++
trao đổi 43
4.2.4. Vi sinh vật đất ở các giai đoạn diễn thế của thảm thực vật 44
4.2.5. Thành phần một số nhóm vi sinh vật có ích trong đất 49
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 52
I. Kết luận 52
II. Đề nghị 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Phụ lục 1: Một số ảnh chụp tại khu vực nghiên cứu 59
Phụ lục 2 Một số ảnh chụp vi sinh vật trong đất 62
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, CÁC HÌNH
Bảng 2.1. Diện tích và phân bố các nhóm đất theo độ cao, độ dốc
ở tỉnh
Thái Nguyên
19
Bảng 2.2. Hiện trạng sử dụng đất của xã Phúc Xuân
20
điều hòa khí hậu. Rừng có ảnh hưởng đến sự bốc hơi nước ở môi trường xung
quanh và giữ cân bằng nồng độ oxi trong khí quyển. Rừng không chỉ cung
cấp oxi mà còn có tác dụng lọc không khí, làm cho không khí trong lành.
Rừng hấp thụ một lượng lớn khí CO
2
trong khí quyển, làm giảm các tác nhân
gây ra Hiệu ứng nhà kính.
Ngoài ra, Rừng có vai trò quan trọng trong việc hạn chế xói mòn đất,
nhất là xói mòn trên sườn đất dốc, Có thể nói Rừng là tài nguyên vô cùng quý
giá của mỗi quốc gia, Rừng quan trọng là vậy! Nhưng con người chúng ta lại
đang khai thác Rừng một cách quá mức, tất cả chỉ vì lợi ích kinh tế. Vì cái lợi
trước mắt, con người chúng ta sẵn sàng hủy hoại môi trường sống của mình.
Đất là một thành phần quan trọng của hệ sinh thái rừng và là một trong
những yếu tố hình thành quần thể rừng. Đất có quá trình phát sinh và phát
triển phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có khí hậu, đá mẹ, thực vật, tuổi địa
chất và hoạt động của con người. Đất và quần thể rừng có mối quan hệ hữu cơ
chặt chẽ vì đất vừa là yếu tố hình thành rừng, có vai trò quan trọng trong quá
trình sinh trưởng của rừng, đồng thời chịu ảnh hưởng trực tiếp của thảm thực
vật rừng tạo nên độ phì đất rừng, độ phì đó chính là nhân tố tổng hợp
được quy định bởi nhiều yếu tố như: Thành phần cơ giới, cấu tượng đất,
độ ẩm, độ thoáng khí, độ dày tầng đất, đặc điểm hoá tính. Do đó độ phì ảnh
hưởng đến nhiều mặt của hệ sinh thái rừng nói riêng cũng như thảm thực
vật nói chung. Đất càng tốt thì độ phì càng cao. Ngược lại thảm thực vật sẽ
có tác dụng trở lại với đất một cách rất tích cực, nó thúc đẩy cho đất nhanh
chóng tăng được độ phì nhiêu của đất [41]. 2
Theo thống kê trước kia trái đất có diện tích diện tích rừng chiếm khoảng
6 tỉ ha thì nay đã giảm xuống còn 4,4 tỉ ha vào năm 1958, 3,8 tỉ ha vào năm
3
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Phân loại thảm thực vật theo khung phân loại của UNESCO (1973),
xác định các giai đoạn phát triển của thảm thực vật, cấu trúc hình thái các
kiểu thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu.
- Xác định được những tính chất vật lý, hóa học và vi sinh vật cơ bản
của đất dưới các kiểu thảm thực vật nghiên cứu, trên cơ sở đó bước đầu đánh
giá được tác dụng bảo vệ đất chống xói mòn và rửa trôi
các
chất
dinh dưỡng
trong đất, nâng cao độ phì của từng kiểu thảm thực vật.
- Đề xuất những biện pháp lâm sinh phù hợp cho một số kiểu thảm
nhằm nâng cao khả năng phục hồi rừng, tăng độ che phủ, góp phần vào việc
vừa có tác dụng bảo vệ môi trường nói chung và môi trường đất nói riêng,
vừa tạo ra giá trị kinh tế phục vụ cho cuộc sống con người.
3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trong thời gian từ 1 năm (2011-2012) tại xã Phúc
Xuân - Thành phố Thái Nguyên Tỉnh Thái Nguyên. Do điều kiện hạn chế về
thời gian và không có kinh phí hỗ trợ, đề tài chỉ tập trung nghiên
cứu:
Một số các kiểu thảm thưc vật; ảnh hưởng của chúng đến sự thay đổi
tính chất lý, hóa học và vi sinh học cơ bản của đất. Đề tài không nghiên cứu
sự tác động trở lại của các yếu tố môi trường đất đến các kiểu thảm thực vật.
Các khu vực chọn nghiên cứu thuộc xã Phúc Xuân đều có những đặc
điểm tương đối đồng nhất như: đá mẹ, địa hình, hướng phơi, sự tác động của
Những nghiên cứu về thảm thực vật
trên thế giới
Theo J.Schmithusen (1976) [57]: “Thảm thực vật là lớp thực bì của
trái đất và các bộ phận hợp thành khác nhau của nó”. Theo Trần Đình Lý
(1998) [36] thì “Thảm thực vật là lớp phủ thực vật ở một vùng cụ thể hay trên
toàn bộ bề mặt trái đất”. Thái Văn Trừng (1978) [45] định nghĩa “Thảm
thực vật gồm có các quần thể thực vật phủ lên trên bề mặt trái đất như một
tấm thảm xanh”. Hệ thống phân loại đầu tiên về thảm thực vật rừng nhiệt đới
là của A.F.Schimper (1898), ông đã chia thảm thực vật thành
3
quần hệ: Quần
hệ khí hậu, quần hệ thổ nhưỡng và quần hệ vùng núi.
5
Năm 1936 H.G. Champion, khi nghiên cứu các kiểu rừng Ấn Độ -
Miến Điện đã phân chia 4 kiểu thảm thực vật lớn theo nhiệt độ đó là: nhiệt
đới, á nhiệt đới, ôn đới và núi cao [45].
Năm 1938 J. Beard, đã đưa ra hệ thống phân loại gồm 3 cấp (quần hợp,
quần hệ và loạt quần hệ). Ông cho rằng rừng nhiệt đới có 5 loạt quần hệ: Loạt
quần hệ rừng xanh từng mùa; loạt quần hệ khô thường xanh; loạt quần hệ miền
núi; loạt quần hệ ngập từng mùa và loạt quần hệ ngập quanh năm [45].
Năm 1943 Maurand, nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dương đã
chia thảm thực vật Đông Dương thành 3 vùng: Bắc Đông Dương, Nam
Đông Dương và vùng trung gian. Đồng thời ông đã liệt kê 8 kiểu quần lạc
trong các vùng đó [58].
Nhưng nhận thấy nhược điểm lớn nhất của các hệ thống phân loại thảm
Loại II: Gồm những rừng non mới mọc, cần phải tra dặm thêm cây hoặc
tỉa thưa.
Loại III: Gồm tất cả các loại hình rừng bị khai thác mạnh trở nên nghèo
kiệt tuy còn có thể khai thác lấy gỗ, trụ mỏ, củi, nhưng cần phải xúc tiến tái
sinh, tu bổ, cải tạo.
Loại IV: Gồm những rừng già nguyên sinh còn nhiều nguyên liệu,
chưa bị phá hoại, cần khai thác hợp lý.
Năm 1962, ở miền Nam Việt Nam còn xuất hiện một bảng phân loại
thảm thực vật rừng Nam Trường Sơn.
Năm 1970, Phan Nguyên Hồng phân chia kiểu thảm thực vật ven bờ
biển Miền bắc Việt Nam thành rừng ngập mặn, rừng gỗ ven biển và thực vật
bãi cát trống và Trần Ngũ Phương đưa ra bảng phân loại rừng ở Miền bắc
Việt Nam, chia thành 3 đai lớn theo độ cao: Đai rừng nhiệt đới mưa mùa;
đai rừng á nhiệt đới mưa mùa; đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao [22].
Năm 1975, trên cơ sở các điều kiện lập địa trên toàn lãnh thổ Việt Nam,
tại hội nghị thực vật học quốc tế lần thứ XII (Leningrat), Thái Văn Trừng 7
đưa ra bảng phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam theo quan điểm sinh
thái, đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng ở Việt Nam phù
hợp nhất theo quan điểm sinh thái cho đến nay [48].
Năm 1978, Thái Văn Trừng đã đưa ra 5 kiểu quần lạc lớn (quần lạc
thân
gỗ kín tán; quần lạc thân gỗ thưa; quần lạc thân cỏ kín rậm; quần lạc
thân cỏ
thưa và những kiểu hoang mạc) và nguyên tắc đặt tên cho các thảm
thực vật [45].
Năm 1985, Phan Kế Lộc cũng đã xây dựng thang phân loại thảm
thực vật rừng Việt Nam thành 5 lớp quần hệ, 15 dưới lớp, 32 nhóm quần
Năm 2004, Ngô Tiến Dũng dựa theo phương pháp phân loại thảm
thực vật của UNESCO (1973) đã phân chia thảm thực vật Vườn quốc gia
Yok Don thành: Kiểu rừng kín thường xanh; kiểu rừng thưa nửa rụng lá và
kiểu rừng thưa cây lá rộng rụng lá gồm 6 quần xã khác nhau [18].
Năm 2004, Lê Ngọc Công cũng dựa theo khung phân loại của UNESCO
(1973) đã phân chia thảm thực vật của tỉnh Thái Nguyên thành 4 lớp quần hệ:
rừng rậm; rừng thưa; trảng cây bụi và trảng cỏ. Ở đây, những trạng thái thứ
sinh (được hình thành do tác động của con người như: Khai thác gỗ, củi, chặt
đốt rừng làm nương rẫy…) bao gồm: Trảng cỏ; trảng cây bụi và rừng thưa [48].
1.2.3. Những nghiên cứu về thảm thực vật ở khu vực nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu về thảm thực vật và sự đa dạng thực vật ở
Thái Nguyên còn thưa thớt và chưa tập chung. Một số các công trình nghiên
cứu điển hình như:
Vào năm năm 1970, Sở Nông lâm Thái Nguyên đã nghiên cứu thành
công một số mô hình rừng trồng nhằm phủ xanh đất trống đồi núi trọc tại
Tỉnh, như ở xã Hóa Thượng huyện Đồng Hỷ đã áp dụng mô hình Lim xanh,
Dẻ đỏ, Kháo vàng… ở Hồ Núi Cốc huyện Đại Từ thực hiện mô hình Bạch
đàn - Keo. Các mô hình này đã có hiệu quả kinh tế tốt đối với người dân. 9
Năm 1986 - 1987 Vụ Khoa học kỹ thuật - Bộ Lâm nghiệp tiến hành
nghiên cứu một số mô hình nông lâm kết hợp cũng đã có kết quả tốt, điển
hình ở xã Hóa Thượng - huyện Đại Từ có mô hình cây màu xen cây công
nghiệp (chè) hoặc cây màu trồng xen với cây ăn quả (Mít, Dứa…) [56].
Năm 1995, Lê Ngọc Công, Hoàng Chung đã nghiên cứu thành phần
loài, thành phần dạng sống của quần hệ savan cây bụi trên vùng đồi trung
du Thái Nguyên, đã đưa ra một số loại hình khoanh nuôi phục hồi và một số
mô hình rừng trồng (Bạch đàn, Keo…) [14].
Năm 2004, Bùi Thị Dậu và cộng sự đã thống kê các loài thực vật bậc cao
10
733 loài, 465 chi, 145 họ thuộc 5 ngành thực vật bậc cao có mạch. Tác giả cho
biết có 71 loài thực vật có tên trong Sách đỏ Việt Nam (2007), IUCN (2001) và
Nghị định
32/2006/NĐ-CP [15].
1.3. Những nghiên cứu về ảnh hƣởng của thảm thực vật đến tính chất lý
hóa và vi sinh vật đất trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1. Những ảnh hưởng của hệ sinh thái đất đến sự phát triển của thảm thực
vật trên thế giới và ở Việt Nam
Đất là một hệ thống động trong đó dung dịch đất là môi trường của các
quá trình vật lý, hoá học và sinh học trong môi trường đất. Dung dịch đất tồn
tại ở trạng thái cân bằng động với các chất vô cơ, chất hữu cơ, vi sinh vật và
không khí đất. Đất được hình thành từ đá mẹ do sự biến đổi của nó theo thời
gian dưới tác động của thực vật, động vật, vi sinh vật trong các điều kiện khác
nhau của địa hình và khí hậu [28]. Tính chất quan trọng của đất chính là độ
phì của đất vì độ phì có ảnh hưởng tới sự phân bố, sự sinh trưởng và phát
triển của cây rừng và hệ sinh thái rừng.
1.3.1.1. Những nghiên cứu về ảnh hưởng của hệ sinh thái đất đến sự phát
triển của thảm thực vật trên thế giới.
Một số nhà nghiên cứu như Alêkhin (1904), Graxits (1927), Sennhicop
(1938) đã thống nhất và đưa ra kết luận từ rất sớm là mỗi vùng sinh thái xác
định sẽ hình thành một kiểu thảm thực vật đặc trưng khi các tác giả này
nghiên cứu trên loại hình đồng cỏ và thảo nguyên ở Liên Xô [10].
Hađi (1936), Baur (1946) và P. W Richards (1952), khi nghiên cứu hệ
sinh thái rừng nhiệt đới thì lại cho rằng các đặc tính lí hóa của đất ảnh hưởng
đến khả
năng cung cấp nước, tình hình không khí và độ sâu tầng đất có tác
dụng tạo ra
sự phân hóa trong thành phần của hệ sinh thái rừng mưa hơn tính
Hà Bắc [1].
Các tác giả Trần Đình Lý, Đỗ Hữu Thư, Lê Đồng Tấn (1995), khi
nghiên cứu quá trình tái sinh phục hồi thảm thực vật sau nương rẫy tại Sapa
đã nhận định: Đất thoái hóa nhẹ thì quá trình diễn thế thứ sinh phục hồi thảm
thực vật diễn ra nhanh, nếu đất xấu (đất thoái hóa trung bình, nặng và rất
nặng) thì quá trình diễn ra ngược lại [35]. 12
Vậy điều kiện đất và loại đất có ảnh hưởng lớn tới khả năng tái sinh của
cây rừng. Đặc điểm lý, hóa học của đất (đặc biệt là thành phần dinh dưỡng, độ
pH, thành phần cơ giới và độ ẩm của đất) có ảnh hưởng rất lớn đến tổ thành
rừng. Đất phát triển trên loại đá mẹ nào thì sẽ có loại đất ấy tương ứng phù
hợp với thành phần khoáng của loại đá mẹ đó.
1.3.2. Những nghiên cứu về ảnh hưởng của thảm thực vật tới hệ sinh thái
đất rừng trên thế giới và ở Việt Nam
Trong quá trình phát triển của thảm thực vật đã có những ảnh hưởng rất
lớn tới hệ sinh thái đất, thảm thực vật phát triển làm cho đất rừng giảm thoái
hóa, giảm xói mòn, tác động đến hệ sinh thái đất đất làm thay đổi tính chất lý,
hóa học, hệ vi sinh vật trong đất từ đó có tác dụng cải tạo đất.
1.3.2.1. Những nghiên cứu về ảnh hưởng của thảm thực vật tới hệ sinh thái đất
rừng trên thế giới
Năm 1937, Monin đã đưa ra kết luận: Rừng mưa nhiệt đới, chất rơi
rụng hàng năm là 10 - 20 tấn/ha, rừng ôn đới là 5 - 7 tấn/ha, thảm cỏ và thảo
nguyên là 1 - 3 tấn/ha. Như vậy, mỗi kiểu thảm thực vật khác nhau thì lượng
vật chất rơi rụng trả lại cho đất cũng khác nhau
.
Trong đó kiểu rừng mưa
nhiệt đới có lượng vật chất cung cấp cho đất là lớn nhất [34].
Năm 1964, theo P.W.Richards đất rừng nhiệt đới càng thành thục thì
Năm 1992, Nguyễn Ngọc Điều cho biết dưới tán rừng trồng thuần loại 5
- 6 tuổi lượng chất rơi rụng xuống đất từ 5 - 10 tấn/ha/năm, trong đó chứa
khoảng 80 - 90 kg đạm, 8 kg lân, 205 kg kali. Đặc biệt hàng năm lượng cành,
lá phân hủy thành
chất mùn ở rừng rậm nhiệt đới gấp 5 lần rừng ôn đới [19].
Năm 1995, Nguyễn Thế Hưng, Hoàng Chung khi nghiên cứu về một số
đặc điểm sinh thái, sinh vật học của savan Quảng Ninh và các mô hình sử
dụng đã thống kê được 131 loài thuộc 60 họ thực vật khác nhau, trong quá
trình nghiên cứu đã đưa ra kết luận: Đa dạng về thành phần loài, dạng sống là
yếu tố cải thiện tính chất lý, hóa học của đất [23]. 14
Khi nghiên cứu các loại đất rừng Việt Nam trên nhiều kiểu rừng tự nhiên
phân bố theo nhiều độ cao khác nhau, Hoàng Xuân Tý, Nguyễn Đức Minh
(1978) [50], Nguyễn Tử Xiêm, Thái Phiên (1999) [51] cũng có nhận xét về
mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau giữa tính chất, độ phì của đất với sự phân bố
của thảm thực vật.
Năm 1998, Lê Ngọc Công, Hoàng Chung, khi nghiên cứu về vai trò của
độ che phủ ở các trạng thái thảm thực vật có nhận xét: Trị số PH
(KCl)
, hàm
lượng mùn và hàm lượng các chất dễ tiêu trong đất tăng tỉ lệ thuận với độ che
phủ của thảm thực vật [11].
Năm 2004, Lê Ngọc Công đã nghiên cứu ảnh hưởng một số quần xã
thực vật đến môi trường đất trong các giai đoạn diễn thế phục hồi rừng sau
nương rẫy ở Thái Nguyên đã khẳng định: Độ che phủ của thảm thực vật ảnh
hưởng theo hướng tốt tới tính chất hóa học của đất, tới lượng vi sinh vật,
thành phần giun đất [12].
15
để phủ xanh trồng lại rừng cho gỗ củi vì Ipilipil là cây có khả năng cải tạo
đất, mọc nhanh, tái sinh chồi mạnh, chịu được nơi đất xấu [49]. Ở Indonexia
có công trình nghiên cứu cây Muồng hoa pháo (Caliandra calothyrsus) vừa
để cải tạo đất vừa làm thức ăn cho gia súc [49]. Và ở Ấn Độ có công trình
nghiên cứu cây Đậu triều (Cajanus cajan) là cây cải tạo đất và trồng xen với
cây ăn quả [49].
Năm 1990 -1994, Bùi Thị Huế nghiên cứu ảnh hưởng của rừng trồng
Bạch đàn đến độ phì của đất đã có những đánh giá rừng Bạch đàn có xu
hướng làm khô đất, hàm lượng đạm tổng số và chất dễ tiêu như NH
4
+
, P
2
O
5
,
K
2
O ở đất trồng Bạch đàn nghèo hơn so với đất dưới rừng Keo lá tràm và
rừng hỗn giao [27].
Năm 1996, Trương Văn Lung có công trình nghiên cứu trồng cây họ
đậu cải tạo đất và hướng phát triển vườn đồi miền Tây Thừa Thiên Huế đã kết
luận: Trồng cây họ đậu cải tạo đất thì mọi thành phần nông hóa của đất đều
được nâng lên rõ rệt. Sử dụng một số cây họ đậu làm tiên phong cải
tạo đất và
định hướng phát triển theo mô hình vườn đồi là giải pháp hợp lý để
sử dụng
có hiệu quả vùng gò đồi rộng lớn mà hiện nay đang ngày càng xói mòn, trơ
17
Quang, phía đông giáp với các Tỉnh Lạng Sơn và Bắc Giang, phía nam tiếp
giáp với Thủ đô Hà Nội. Với vị trí địa lý là một trong những trung tâm chính
trị, kinh tế của khu Việt Bắc nói riêng và của vùng trung du miền núi đông
bắc nói chung, Thái Nguyên là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa vùng
trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc bộ. Việc giao lưu đã được thực
hiện thông qua hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông hình rẻ quạt mà
thành phố Thái Nguyên là đầu nút. Cùng với vị trí trung tâm của Việt Bắc,
Thái Nguyên còn là nơi hội tụ nền văn hóa của các dân tộc miền núi phía Bắc,
là đầu mối các hoạt động văn hóa, giáo dục của cả vùng núi phía Bắc rộng lớn.
Thành phố Thái Nguyên được thành lập vào năm 1962 và được coi là
thành phố công nghiệp có diện tích 189,705 km
2
, gồm 19 phường
và 9 xã.
Trong đó phía Tây giáp huyện Đại Từ, phía Bắc giáp huyện Đồng Hỷ và
huyện Phú Lương, Phía Đông giáp thị xã Sông Công, Phía Nam giáp huyện
Phổ Yên và huyện Phú Bình.
Xã Phúc Xuân là một xã miền núi nằm ở phía Tây thành phố Thái
Nguyên, có tổng diện tích tự nhiên là 18,86 km
2
, có 1319 hộ, 4841 khẩu, có
đường du lịch Núi Cốc đi qua, có 6 dân tộc anh em cùng chung sống, xã được
chia thành 15 xóm, nhân dân chủ yếu là sản xuất cây lúa và cây chè.
2.1.2. Địa hình
Thái nguyên là một tỉnh trung du miền núi, nhưng địa hình lại không
phức tạp lắm so với các tỉnh trung du, miền núi khác, Địa hình tỉnh Thái Nguyên
tích tự nhiên). Trong đất chưa sử dụng có 1.714 ha đất có khả năng sản xuất
nông nghiệp và 41.250 ha đất có khả năng sản xuất lâm nghiệp. (Theo nguồn
số liệu của sở NN và phát triển nông thôn Thái Nguyên).