Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM VŨ THỊ THANH HƢƠNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CỦA THẢM THỰC VẬT THOÁI
HÓA DO TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH KHAI THÁC THAN
Ở THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CỦA THẢM THỰC VẬT THOÁI
HÓA DO TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH KHAI THÁC THAN
Ở THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH Chuyên ngành: SINH THÁI HỌC
Mã số : 60.42.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THẾ HƢNG
Thái Nguyên - 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CẢM ƠN Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất cứ công trình nào. Thái Nguyên, ngày 20 tháng 7 năm 2011
Tác giả
Vũ Thị Thanh Hƣơng
Chƣơng 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Thành phần loài và thành phần dạng sống của cây gỗ trong các
trạng thái thảm thực vật
Trang
1
1
3
3
5
5
12
14
21
31
31
32
32
35
35
41
43
46
46
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên bảng
Trang
Bảng 4.1: Số loài cây gỗ trong mỗi họ thực vật ở khu vực nghiên cứu
Bảng 4.2: Số lƣợng loài cây gỗ trong mỗi họ thực vật ở khu vực
nghiên cứu
Bảng 4.3: Số lƣợng chi của cây gỗ trong mỗi họ thực vật
ở khu vực nghiên cứu
Bảng 4.4: Số lƣợng và tỷ lệ phần trăm về loài, chi và họ của cây gỗ
trong các trạng thái thảm thực vật
Bảng 4.5: Một số chỉ tiêu về cấu trúc hệ thống của cây gỗ trong các
trạng thái thảm thực vật
Bảng 4.6: Sự biến động về số loài cây gỗ trong các họ thực vật ở
điểm nghiên cứu thứ nhất (phƣờng Cao Xanh – TP Hạ Long)
Bảng 4.7: Sự biến động về số chi của cây gỗ trong mỗi họ thực vật ở
điểm nghiên cứu thứ nhất (phƣờng Cao Xanh – TP Hạ Long)
Bảng 4.8 : Sự biến động về số loài cây gỗ trong các họ thực vật ở
Bảng 4.21: Mật độ (cây/ha) và tỷ lệ (%) một số loài cây gỗ tái sinh
theo các cấp chiều cao ở điểm nghiên cứu thứ ba
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Tên hình
Trang
Hình 2.1: Cách bố trí các ô dạng bản trong ô tiêu chuẩn
Hình 3.1 : Bản đồ hành chính thành phố Hạ Long (tỉnh Quảng Ninh)
Hình 3.2 : Các lực lƣợng chức năng tỉnh Quảng Ninh kiểm tra tại
hiện trƣờng khai thác than trái phép ở thành phố Hạ Long
Hình 4.1: Biểu đồ biểu diễn số loài cây gỗ trong mỗi họ thực vật ở
khu vực nghiên cứu
Hình 4.2: Đồ thị biểu diễn sự biến động về số chi của cây gỗ trong
mỗi họ thực vật ở khu vực nghiên cứu
Hình 4.3: Biểu đồ biểu diễn về số loài, số chi và số họ của cây gỗ
trong các trạng thái thảm thực vật.
Hình 4.4: Biểu đồ biểu diễn một số chỉ tiêu cấu trúc hệ thống của cây
gỗ trong các trạng thái thảm thực vật
Hình 4.5: Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ các loài cây gỗ thuộc các kiểu dạng
sống Megaphanerophytes – Mesophanerophytes – (MM) và kiểu
dạng sống Microphanerophytes – (Mi) trong các trạng thái thảm thực
thác cạn kiệt, đất đai bị thoái hoá (xói mòn, rửa trôi, feralit hoá), tầng ozon
của khí quyển bị suy giảm và nồng độ khí CO
2
trong không khí tăng lên.
Trong mười năm (giai đoạn 1990- 2000), tổng diện tích rừng trên toàn
thế giới mất đi là 8,9 triệu ha. Đặc biệt, chỉ trong giai đoạn 2000- 2005, diện
tích rừng trên thế giới bị mất lên tới 7,5 triệu ha (FAO 2005).
Có thể nói, rừng là tài nguyên vô giá của nhân loại. Rừng không chỉ là cơ sở
của sự phát triển kinh tế, xã hội, mà rừng còn giữ chức năng cực kỳ quan trọng về
mặt sinh thái học. Rừng đóng góp không nhỏ vào sự phát triển bền vững của
mỗi quốc gia và sự tồn tại bền vững của Trái Đất. Rừng là nơi lưu giữ và cung
cấp nguồn gen thực vật, động vật phong phú, là nơi ở của nhiều loài động vật.
Rừng không chỉ cung cấp nguyên liệu như gỗ, củi, các loại lâm sản ngoài gỗ
cho một số ngành sản xuất, mà còn duy trì và bảo vệ môi trường, điều hòa
khí hậu, hạn chế xói mòn và thoái hóa đất, tránh xâm thực của nước biển, điều
tiết nguồn nước và hạn chế lũ lụt.
Trong giai đoạn từ 1943 - 1990, diện tích rừng của nước ta mất khoảng
5 triệu ha. Mặc dù những năm gần đây, diện tích rừng đã tăng lên (Tính đến
ngày 31 tháng 12 năm 2008, độ che phủ rừng đạt 38,7%. Diện tích rừng toàn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên quốc hiện nay khoảng 13.118.773 ha), nhưng diện tích rừng tự nhiên có tỷ lệ
thấp và giảm về chất lượng (diện tích rừng tự nhiên là 10.348.591, diện tích
rừng trồng là 2.770.182 ha, rừng mới trồng là 342.730 ha (Nguồn: Bộ nông
nghiệp và phát triển nông thôn).
Hiện nay, rừng tự nhiên ở nước ta phần lớn đều là trạng thái rừng thứ sinh, với
các mức độ thoái hoá khác nhau. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái rừng:
con người khai thác quá mức tài nguyên rừng, canh tác theo kiểu du canh, đốt
nương làm rẫy, khai thác khoáng sản, chăn thả gia súc và sử dụng đất rừng sai mục
thực vật thoái hóa do tác động của quá trình khai thác than ở thành
phố Hạ Long (tỉnh Quảng Ninh)”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm của một số trạng thái thảm thực vật được hình
thành do quá trình khai thác than ở một số địa điểm thuộc thành phố Hạ Long,
làm cơ sở cho việc quản lý, bảo vệ, khai thác và cải thiện chất lượng thảm
thực vật, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường và
phát triển bền vững.
3. Những đóng góp mới của luận văn.
Đây là đề tài thứ hai nghiên cứu về về đặc điểm thảm thực vật thoái hoá
do tác động của quá trình khai thác than ở tỉnh Quảng Ninh (Sau đề tài của
Nguyễn Thế Hưng và Hoàng Thị Hải Âu (2010)[19]). Tuy nhiên, công trình
của Nguyễn Thế Hưng và Hoàng Thị Hải Âu nghiên cứu trên địa bàn xã
Dương Huy, thị xã Cẩm Phả, còn công trình này nghiên cứu trên địa bàn
phường Cao Xanh và phường Hà Khánh, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng
Ninh. Kết quả nghiên cứu của đề tài có đóng góp cả về mặt lý luận và thực
tiễn:
3.1. Đóng góp về mặt khoa học
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Cùng với công trình của các tác giả khác [18,19], công trình nghiên cứu
này đã làm phong phú thêm nguồn dẫn liệu về đặc điểm của thảm thực vật
thoái hoá (với các mức độ và nguồn gốc khác nhau) ở tỉnh Quảng Ninh.
Trên những dẫn liệu nghiên cứu này, có thể xác định được đặc điểm
chung của thảm thực vật thoái hóa ở Việt Nam và xác định được sự khác biệt
giữa các trạng thái thảm thực vật ở các địa phương với các phương thức tác
động và bảo vệ, sử dụng khác nhau.
3.2. Đóng góp về mặt thực tiễn
Trên cơ sở xác định mức độ thoái hóa của các trạng thái thảm thực vật
bao gồm các đơn vị cụ thể, mà ngoại mạo, cấu trúc, thành phần, ranh giới,
động thái, đặc điểm phân bố đều dựa trên cơ sở sinh thái học và địa lý học
thực vật (Thái Văn Trừng, 1978) [56]
Tuy nhiên, những nhà khoa học có quan điểm thống nhất về sự tồn tại
của thảm thực vật, lại xây dựng các nguyên tắc và phương pháp phân chia
phân chia thảm thực vật rất khác nhau.
Có tác giả đưa ra một khung phân loại thảm thực vật nhiệt đới áp dụng
cho toàn thế giới (Burt – Davy, 1938 và Fosberg, 1958). Vì vậy, cách phân
loại này rất khó áp dụng cho mỗi khu vực hay mỗi quốc gia (Thái Văn Trừng,
1978) [56].
Nnhiều tác giả (tiêu biểu là Aubreville, 1963) lại căn cứ vào tiêu chí độ
tàn che nền đất của tầng ưu thế sinh thái để phân loại kiểu thảm thực vật.
Ngược lại, Rubel (1938) cũng đưa ra một bảng phân loại thảm thực vật,
nhưng lại không chú ý đến tiêu chuẩn độ tàn che nền đất của tầng ưu thế sinh
thái. Ngoài ra, khi phân chia thảm thực vật, ông cũng không dựa trên một tiêu
chuẩn thống nhất (Thái Văn Trừng,1978) [56].
Một số tác giả lại phân chia thảm thực vật thành các đai, với căn cứ là
độ vĩ và độ cao, mà cơ sở của sự phân thành các đai là nhiệt độ (Hansen,
Bergơ) (Voronov A.G., 1976) [61]. Tuy nhiên, cần thấy rằng có nhiều sự khác
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên biệt giữa khí hậu ở vùng núi cao (theo độ cao) và khí hậu theo vĩ độ, nên cách
phân chia này cũng ít được áp dụng.
Champion H.G.(1939) đưa ra một hệ thống phân loại thảm thực vật dựa
vào nguyên lý sinh thái, nhưng lại không quan tâm đến mối quan hệ giữa các
nhân tố sinh thái với nhau.
Schimper (1903) và Stamp (1925) phân loại thảm thực vật dựa trên
yếu tố lượng mưa. Trong đó, Schimper có sử dụng thêm tiêu chí dạng sống
của cá thể các loài thực vật chiếm ưu thế trong thảm thực vật, nhưng ông đã
phân biệt nguồn gốc và các giai đoạn diễn thế của thảm thực vật.
Trần Ngũ Phương (1970) [35] đưa ra bảng phân loại rừng Miền Bắc
Việt Nam thành 3 đai (đai rừng nhiệt đới mưa mùa, đai rừng á nhiệt đới mưa
mùa và đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao), các kiểu thảm, các loại hình
khí hậu và các kiểu phụ (kiểu phụ thổ nhưỡng và kiểu phụ thứ sinh). Tuy
nhiên, cách phân loại này không căn cứ vào quan điểm sinh thái phát sinh.
Năm 1975, trên cơ sở các điều kiện lập địa trên toàn lãnh thổ Việt Nam,
tại hội nghị thực vật học quốc tế lần thứ XII (Leningrat, 1975), Thái Văn
Trừng đã đưa ra bảng phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam trên quan điểm
sinh thái, đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng ở Việt Nam phù
hợp nhất trên quan điểm sinh thái cho đến nay. Thái Văn Trừng dựa trên
nguyên lý sinh thái phát sinh học, để xây dựng một hệ thống phân loại thảm
thực vật nhiệt đới ở Việt Nam, với 5 nhóm nhân tố phát sinh: 1) Địa lý - địa
hình. 2) Khí hậu - thuỷ văn. 3) Đá mẹ - thổ nhưỡng. 4) Khu hệ thực vật. 5)
Sinh vật và con người. Trong hệ thống phân loại này, thì đơn vị phân loại cơ
sở là kiểu thảm thực vật. Thảm thực vật rừng Việt Nam được ông chia thành
10 kiểu rừng, cùng với kiểu quần hệ khô lạnh vùng cao và kiểu quần hệ lạnh
vùng cao.
UNESCO (1973) xây dựng một bảng phân loại chung, làm cơ sở
cho việc phân loại thảm thực vật trên Trái đất [65], với các thứ bậc khác nhau.
Các thứ bậc này được phân biệt với nhau bằng chữ số Lamã và các chữ cái:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên - Lớp quần hệ - Formation class (I,II, ).
- Lớp phụ quần hệ - Formation subclass (A, B ).
- Nhóm quần hệ - Fomation group (1,2 ).
- Quần hệ - Formation (a,b ).
- Quần hệ phụ - Sub formation ( (1), (2) ).
- Các đơn vị nhỏ hơn - Funder subdivision ( (a), (b) ).
tạp dẫn tới sự ổn định bền vững của hệ sinh thái rừng.
Hệ sinh thái rừng (Forest ecosystem) là một hệ sinh thái mà thành phần
nghiên cứu chủ yếu là sinh vật rừng (các loài cây gỗ, cây bụi, thảm tươi, hệ
động vật và vi sinh vật rừng) và môi trường vật lý của chúng (khí hậu, đất).
Nội dung nghiên cứu hệ sinh thái rừng bao gồm cả cá thể, quần thể, quần xã
và hệ sinh thái, về mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau giữa các cây rừng và giữa
chúng với các sinh vật khác trong quần xã đó, cũng như mối quan hệ lẫn nhau
giữa những sinh vật này với hoàn cảnh xung quanh tại nơi mọc của chúng
(Dẫn theo Nguyễn Hoàng Yến, 2010)[63].
Dựa vào thành phần và tỷ lệ giữa các loài mà người ta chia ra thành
rừng thuần loài và rừng hỗn loài. Về nguyên tắc, rừng thuần loài là rừng chỉ
có một loài. Tuy nhiên trên thực tế, rừng có một số loài khác nhưng số lượng
các loài khác này không vượt quá 10% thì vẫn được coi là rừng thuần loài
(rừng thuần loài tương đối). Với rừng hỗn loài, để biểu thị mức độ tham gia
của các loài người ta dùng công thức tổ thành. Thành phần cây gỗ là bộ phận
chính và chủ yếu tạo nên độ khép tán (được biểu diễn thông qua độ tàn che),
độ đầy và trữ lượng lâm phần
Thành phần của hệ sinh thái rừng cũng giống như thành phần của một
hệ sinh thái điển hình. Tuy nhiên, đối với rừng, thành phần thực vật mà đặc
biệt là cây gỗ được quan tâm hơn cả, đây chính là thành phần lập quần.
Nhìn chung có nhiều khái niệm về rừng song hầu hết các khái niệm đều
có điểm thống nhất đó là nó phải bao gồm thành phần cây gỗ đóng vai trò chủ
đạo. Cây gỗ là thành phần chủ yếu của hệ sinh thái rừng. Đối với rừng nhiệt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên đới nói chung thành phần cây gỗ được chia thành 3 tầng: tầng vượt tán, tầng
ưu thế sinh thái và tầng dưới tán.
Mặc dù có sự tương đồng song giữa hai khái niệm của Sucaep và
Tansley cũng có sự khác nhau nhất định. Khái niệm của Tansley tỏ ra rộng
trường mà trước hết là do điều kiện khí hậu – thủy văn, địa chất – thổ nhưỡng.
Căn cứ vào nguyên nhân và các yếu tố tác động khác, người ta phân chia
diễn thế làm hai loại: diễn thế nguyên sinh và diễn thế thứ sinh. Nếu diễn thế
nguyên sinh được xảy ra trên vùng đất hoàn toàn trống trơn, chưa có quần xã
sinh vật, thì diễn thế thứ sinh lại xảy ra ở những nơi đã có quần xã sinh vật
nhưng do những nguyên nhân khác nhau đã bị suy thoái và biến đổi.
Tùy theo xu hướng của quá trình diễn thế (diễn thế dẫn đến hình thành
thảm thực vật thoái hóa, hay hình thành thảm thực vật có tính ổn định cao, đa
dạng về thành phần loài), mà xếp vào loại diễn thế thứ sinh đi xuống (diễn thế
thoái bộ) hay diễn thế thứ sinh đi lên (diễn thế tiến bộ).
1.1.4. Tái sinh rừng và phục hồi rừng
Tái sinh rừng thực chất là một quá trình sinh học mang tính đặc thù
của hệ sinh thái rừng, mà biểu hiện đặc trưng của nó là sự xuất hiện một thế
hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh hệ sinh thái
rừng (chẳng hạn, dưới tán rừng, khoảng trống trong rừng, hệ sinh thái nhân
tác sau khai thác, sau nương rẫy hoặc sau quá trình canh tác nông nghiệp).
Theo Phùng Ngọc Lan (1986), tái sinh rừng được hiểu theo nghĩa
rộng là sự tái sinh của cả hệ sinh thái rừng. Tái sinh rừng hiểu theo nghĩa hẹp
là quá trình phục hồi lại thành phần cơ bản của rừng. Còn Nguyễn Xuân Lâm
(2000) cho rằng, tái sinh rừng là sự xuất hiện thế hệ cây con của những loài
cây gỗ ở dưới tán rừng hoặc trên đất rừng (sau nương rẫy), thế hệ cây tái sinh
này sẽ lớn dần lên thay thế cây gỗ già cỗi (Dẫn theo Hoàng Hải Yến,
2010)[63]
Phục hồi rừng cần được hiểu là quá trình hình thành rừng thứ sinh do
diễn thế thứ sinh ở nơi đã bị mất rừng hoặc bị khai thác cạn kiệt. Phục hồi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên rừng là quá trình sinh địa phức tạp gồm nhiều thời gian và kết thúc bằng sự
xuất hiện một thảm thực vật cây gỗ hoặc tre, nứa bắt đầu khép tán (Theo
Ở tỉnh Quảng Ninh, nếu chỉ kể đến những công trình nghiên cứu thảm
thực vật thứ sinh, thì số tác giả nghiên cứu rất ít. Đặc biệt, là những công trình
nghiên cứu về thành phần loài thực vật trong các kiểu thảm thoái hoá. Gần
đây có công trình của Phùng Văn Phê, Trần Minh Hợi, Nguyễn Trung Thành,
Nguyễn Thị Hân (2008)[34] nghiên cứu tính đa dạng thực vật ở rừng đặc
dụng Yên Tử, tỉnh Quảng Ninh. Các tác giả đã phát hiện được 711 loài, thuộc
427 chi và 154 họ, thuộc 4 ngành. Thực vật ở rừng đặc dụng Yên Tử có 20
loài thực vật bị đe doạ tiêu diệt, được ghi trong sách đỏ VN (1996), có 6 loài
được ghi trong nghị định 32/2006/NĐ – CP của Chính phủ, cần được ưu tiên
bảo tồn. Trong hệ thực vật ở đây, có 547 loài cây có ích, có thể sử dụng vào
13 nhóm công dụng khác nhau.
Riêng việc nghiên cứu về thành phần loài trong thảm thực vật cây bụi,
ở Quảng Ninh có công trình khá tiêu biểu của của Nguyễn Thế Hưng, Hoàng
Chung [17] và Nguyễn Thế Hưng [18]. Nguyễn Thế Hưng (2003)[18] cho
rằng, thành phần loài thực vật ở các trạng thái thảm thực vật khác nhau ở
Hoành Bồ - Quảng Ninh khá phong phú về thành phần loài nhưng sự phân bố
của các loài trong các trạng thái thảm thực vật rất khác nhau, phân hóa sâu sắc
về mặt sinh thái.
Các nhà khoa học trên thế giới đều cho rằng, dạng sống (Life form) của
thực vật là sản phẩm của quá trình hình thành đặc điểm thích nghi rất lâu dài
của thực vật với điều kiện sống rất đa dạng, phong phú. Tuy nhiên, tùy theo
mục đích nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu khác nhau, các nhà khoa học
trên thế giới đã phân chia dạng sống thực vật với nhiều phương pháp và tiêu
chí khác nhau. Chính vì vậy, hiện nay tồn tại nhiều nguyên tắc phân chia dạng
sống và số kiểu dạng sống trong mỗi bảng phân loại cũng rất đa dạng.
Patsoxki I.K. (1915) chia làm sáu nhóm dạng sống dựa vào khối lượng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên thực vật đã mất đi trong thời kỳ bất lợi: 1. Thực vật thường xanh; 2. Thực vật
pháp nghiên cứu: Braun – Blanquet (1922), Drude (1913), Iarochenko (1961),
Simpson (1949) (dẫn theo Nguyễn Thế Hưng, 2003) [18]. Có nhiều công trình
nghiên cứu đặc trưng cấu trúc của các kiểu thảm thực vật và sự ảnh hưởng của
các điều kiện địa lý khác nhau đến sự phân bố của chúng: Richards (1952), Vidal
(1960), Catinot (1965) (Dẫn theo Bảo Huy và cộng sự, 1995) [14].
Tuy nhiên, phần lớn các công trình trong nước nghiên cứu về cấu trúc
của các thảm thực vật rừng: Trần Ngũ Phương (1970)[35], Thái Văn Trừng
(1978) [56], Bảo Huy, Phùng Ngọc Lan, Nguyễn Ngọc Lung [14], Nguyễn
Hải Tuất và Ngô Kim Khôi (1994) [58].
Khi nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng, Nguyễn Tiến Dũng,
Trần Văn Con (2007)[6] đã kết luận rằng, ở Kon Hà Nừng - Tây Nguyên,
trung bình số loài cây gỗ xuất hiện trong một ô tiêu chuẩn: 21 - 35 loài, còn số
loài xuất hiện trong các ô tiêu chuẩn: 100 loài. Trong thảm thực vật trạng thái
IV, phân 5 tầng rõ rệt, phân bố theo đường kính và phân bố N/D là đều là
phân bố giảm, với trạng thái IV và IIIB phân bố thường có một đỉnh tại cỡ
đường kính thứ hai. Còn trạng thái IIIA, phân bố cây theo đường kính là dạng
đường cong, xuất hiện nhiều đỉnh tập trung rải rác từ cỡ kính 26 – 50 cm.
Đỗ văn Thông (2004)[50] khi nghiên cứu đặc điểm lâm học của các
trạng thái rừng khu dự trữ thiên nhiên Vĩnh Cửu huyện Vĩnh Cửu (tỉnh Đồng
Nai), đã đưa ra nhận định: Ở trạng thái rừng IIIA
2
, phân bố số cây theo cỡ
kính (%) tuân theo luật phân bố giảm, đường cong có dạng lệch phải, còn
phân bố chiều cao có dạng một đỉnh hơi lệch phải, chiều cao cây trong lâm
phần tăng nhanh ở cỡ kính D
1.3
< 20cm, giảm dần ở các cỡ kính lớn hơn.
Với mục đích đảm bảo độ chính xác cao trong quá trình thu thập số liệu
và giảm công sức trong khi nghiên cứu, một số tác giả xây dựng các phương
pháp nghiên cứu hoặc các công cụ hỗ trợ bằng các phần mềm tin học.,