TÌM HIỂU NHỮNG PHONG TỤC TẬP QUÁN CỦA ĐỒNG BÀO TÂY BẮC
MỞ BÀI
1.Lí do chọn đề tài
Đất nước Việt Nam có 54 dân tộc sống rải rác ở khắp mọi nơi trên cả nước. Mặc
dù cùng sinh ra và lớn lên trên dải đất hình chữ S nhưng mỗi dân tộc lại có những
phong tục, tập quán khác nhau.
Sinh ra và lớn lên tại Hà Nội –thành phố thuộc vùng châu thổ sông Hồng, cư dân ở
đây chủ yếu là dân tộc Kinh. Em chưa bao giờ được tiếp xúc và cũng không hiểu gì
về những phong tục tập quán của các dân tộc khác, những dân tộc cũng đang
song song tồn tại với em trên dải đất hình chữ S này. Chính vì vậy khi làm bài luận
này em muốn chọn đề tài” TÌM HIỂU NHỮNG PHONG TỤC TẬP QUÁN CỦA ĐỒNG
BÀO TÂY BẮC” để hiểu hơn về phong tục tập quán của các dân tộc sống ở vùng núi
phía Bắc nước ta.Em muốn biết những phong tục tập quán của các dân tộc khác
có gì độc đáo, có gì khác so với dân tộc Kinh.
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tây Bắc thu hút sự khám phá của rất nhiều người từ dân phượt yêu thích sự tự
do, các nhà văn yêu thích thiên nhiên về đây để lấy cảm hứng cho đến các nhà
báo, phóng viên trở về đây tìm hiểu về phong tục tập quán độc đáo nơi đây.
Đài truyền hình VOV,VOV4, các trang như vietnamtourism.gov.vn,
baotintuc.vn,baophapluat tp HCM,…….
Phong tục tập quán Tây Bắc được khai thác ngày một nhiều, khám phá ngày một
nhiều để hiểu hơn về các anh em dân tộc trên đất nước Việt Nam.
3. Mục đích nghiên cứu
4.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Những phong tục tập quán của đồng bào Tây Bắc
là bức tường thành phía đông và vùng Tây Bắc.
Tây Băc được đồng bào gọi là đất “ ba con song” bởi vì nó nằm bên bờ phải sông
Hồng, con sông mà tổ tiên người Thái gọi là Nậm Tao, nên ngày nay đoạn sông
này còn có tên tiếng Kinh là sông Thao. Dòng Nặm Tao chiếm một vị trí quan trọng
trong lịch sử thiên di của người Thái đen vào Tây Bắc.
Vậy nên, dòng Nặm Tao hiển nhiên là địa đầu phía Đông và biên giới Lào là địa
đầu phía Tây của vùng văn hóa Tây Bắc. Giữa hai điểm đó con sông Đà phát
nguyên từ phía Bắc kẻ một đường chéo Tây Bắc - Đông Nam, đi qua đất Hòa Bình
rồi hợp lưu với dòng Nặm Tao ở ngã ba Việt Trì để làm nên sông Cái - sông Hồng
của châu thổ phì nhiêu. Trên đường đi, sông Đà - tên Thái là Nặm Tè - tiếp nhận
lượng nước của biết bao suối nhỏ và cả một dòng sông Nặm Na hợp lưu với nó ở
ngay tỉnh lị Lai Châu. Sát với biên giới Lào là dòng sông Mã chảy từ Điện Biên
xuống đến phía Tây tỉnh Sơn La thì quặt sang đất Lào và trở về miền Tây Thanh
Hóa để xuôi về biển.
1.2.Khí hậu
Mặc dù nằm trong vòng đai nhiệt đới gió mùa, nhưng do ở một độ cao từ 8003000m nên khí hậu ngả sang á nhiệt đới và nhiều nơi cao như Sìn Hồ có cả khí hậu
ôn đới. Đã thế, địa hình lại chia cắt bởi các dãy núi, các dòng sông, khe suối, tạo
nên những thung lũng, có nơi lớn thành lòng chảo như vùng Nghĩa Lộ, Điện Biên.
Do vậy, Tây Bắc còn là nơi có nhiều tiểu vùng khí hậu. Trong lúc đó ở thung lũng
Mường La, người ta mặc áo ngắn tay giữa mùa đông thì ở Mộc Châu phải mặc áo
bông dầy mà không khỏi rét. Nhưng chính vì vậy mà thiên nhiên Tây Bắc rất đa
dạng, thổ nhưỡng nhiều loại hình. Dân số thấp, năm 1978 mới có 59ng/km2. Với
tỉ lệ tăng 3,5%/năm cộng với việc di dân, đến năm 1990 cũng chỉ có 120
người/km2. Cư dân cổ truyền, những chủ nhân từ xa xưa của Tây Bắc, đều làm
công nghiệp với hai loại hình : ruộng nước ở thung lũng, và nương rẫy ở sườn núi
1.3.Vài nét văn hóa Tây Bắc
Mỗi dân tộc đều có văn hóa mang bản sắc riêng. Tây Bắc cũng vậy nhưng đặc biệt
hơn Tây Bắc là sự hội tụ của các dân tộc với rất nhiều các phong tục tập quán
nghiệp. ở người Thái, tâm thức đó được thể chế hóa bằng hình tượng thần nước
dưới dạng thuồng luồng và bằng các lễ cụ thể. Con suối và cánh đồng, những sản
phẩm sáng tạo và chiếm lĩnh của con người cũng đã đi vào thơ ca, âm nhạc như
những hình tượng đẹp của cảm xúc thẩm mĩ như lời bài dân ca sau :
Đêm trăng sáng
Tâm hồn em như muốn phiêu diêu
Chơi tha thẩn bên bờ cát trắng
Bờ cát trắng lấp lánh ánh trăng
Chờ tiếng sáo anh
Luồn qua sương, luồn qua chân núi
Đến với em trong ánh trăng ngời ngài.
Nương rẫy là một bộ phận bổ sung không thể thiếu với nơng, đồng bào có lúa, rau
quả như bầu bí, rau cải, đậu, đu đủ, vừng, kê, ớt,.v..v... Bông và chàm cũng trồng
trên nương. Và rừng, rừng bạt ngàn là nơi con người hái rau rừng, lấy thuốc chữa
bệnh, thuốc nhuộm, săn bắt thú rừng và khi thất bát mùa màng thì chính rừng,
với củ mài, bột báng đã cứu họ khỏi chết đói. Bản làng có một thái độ rất kính
trọng với rừng. Chẳng phải vì rừng có ma thiêng, mà vì rừng là nơi con người
nương tựa để tồn tại. Luật Thái có hàng chục điều quy định về việc khai thác rừng,
săn bắn thú, đặc biệt là những quyết định về bảo vệ rừng đầu nguồn.
Người Thái bảo vệ rừng ban không chỉ vì nó là biểu tượng văn hóa của quê hương
họ, mà còn vì chỉ có ban mới mọc được. ở nơi đất cằn nhờ có ban giữ lại mùn tự
trên cao chảy xuống, mà đất cằn tái sinh, mà mùn rác không lấp ruộng, nghẽn
suối, mà nước mưa ngấm vào lòng đất ngăn những cơn lũ ống. Chỉ riêng cách ứng
xử với cây ban cũng đủ thấy đặc trưng văn hóa Thái nói riêng, Tây Bắc nói chung
có một trình độ khoa học thế nào, có tính nhân văn ra sao trong cái nhìn sinh thái
học. Chẳng riêng gì người Thái, con người H'mông trên núi cao, người Khơmú,
người Dao, người Kháng, Laha v.v.. ., trong rừng sâu đều tự nguyện tuân theo luật
Thái. Điều đó không đơn thuần vì giai cấp thống trị Tây Bắc trước kia là thuộc tộc
giữ vững và sẽ không hiểu thế nào được sự tồn tại suốt mấy chục năm của các
"quán tự giác" trên khắp nẻo đường Tây Bắc. Đồng bào treo chuối, mía, trứng, để
giá tiền vào từng loại, khách qua đường tự lấy ăn rồi bỏ tiền vào cái túi vải treo
cạnh đó. Khách có tiền lớn thì có thể đổ tiền trong túi ra, tự lấy tiền thừa rồi bỏ
tiền của mình và số tiền sẵn có của quán hàng trở lại vào túi. Chủ quán không có
mặt, nhưng chẳng ai dám cả gan ăn cắp - kể cả những lái xe người Kinh thích đùa
đi qua đường.
Các dân tộc trong vùng đều có tín ngưỡng "mọi vật có linh hồn" (animisme), một
loại tín ngưỡng mà mọi dân tộc. trên hành tinh đều trải qua. Có đủ loại "hồn" và
các loại thần sông núi, suối khe, đá, cây, súc vật, các lực lượng thiên nhiên như
sấm, chớp, mưa, gió. Các bộ phận trên thân thể con người cũng có hồn. Người
Kinh cho rằng có ba hồn bảy vía (nam) và ba hồn chín vía (nữ). Người Thái có đến
80 hồn (Xam xếp khoăn mang nả. Hả xếp khoăn mang lăng), như hồn tóc, hồn
lông mày, lông mi, tai, mũi, trán v.v... Người chết không biến mất mà trở về sống
ở bản của tổ tiên. Do chỗ mọi vật đều có hồn, nên cần phải cư xử với chúng như
trong quan hệ với người. Vậy có hồn tốt, hồn xấu, hồn ác, hồn lành tùy thuộc vào
cách đối xử của người với chúng. Vào hoàn cảnh xã hội cổ truyền thì đây là cách
chiếm lĩnh thiên nhiên và thực tại của đồng bào, với hi vọng có thể nói chuyện",
có thể "thương lượng thậm chí khi cần thì cầu xin chúng. Bằng cách đó, đồng bào
thiết lập được mối quan hệ với mọi vật và với tổ tiên, đặt con người vào tống thể
môi trường không gian và thời gian, tạo nên một cân bằng trong tâm thức. Con
người hội tụ vào cuộc sống hiện hữu của mình các miền thời gian : quá khứ, hiện
tại, tương lai; và các chiều không gian, thiên nhiên, môi trường, con người, xã hội.
Đó chính là mối quan hệ đa diện, đa phương đảm bảo cho tính hợp lí và sự ổn
định tất yếu của cuộc sống con người. Thiết tưởng, với trình độ khoa học kĩ thuật
chưa phát triển thì cách nhận thức thế giới theo phương pháp huyền thoại, tín
ngưỡng này không phải không có tác dụng tích cực cho sự tốn tại của cộng đồng
bắn xem tên ai xuyên vào đá, kia là nơi Nàng Han (một Gianđa Thái) tắm (Suối
Nàng Han). Dãy núi ba chỏm kia là thi hài hóa đá của ba dũng tướng quên mình
bảo vệ quê hương v.v.. .. Và đặc biệt là những truyền thuyết về hoa ban, dân tộc
nào cũng có và cũng thắm đượm tình người. "Xòe" là đặc sản nghệ thuật múa
Thái và trở thành biểu tượng văn hóa Tây Bắc. Người Thái có Xòe vòng quanh
đốm lửa, quanh hũ rượu cần với sự tham gia đông đảo của già trẻ, gái trai trong
tiếng chiêng trống rộn ràng. Nhưng cũng có Xòe điệu của người Thái trắng ven
sông Đà suốt từ Ngọc Chiến, Quỳnh Nhai lên đến Lai Châu, Phong Thổ. Tương
truyền có đến 32 điệu xòe do các cô thanh nữ múa trong tiếng tính tang dịu dàng
của hai chàng trai. Người H'mông nổi tiếng về các điệu múa khèn, đá châm hùng
dũng của nam giới. Người Khơmú và Xinhmun lại độc quyền điệu múa lắc mông,
lượn eo. Còn điệu Tăng bu (dỗ ống) là sở hữu của người Laha. Và đến với người
Mường thì phải được xem múa bông. Riêng điệu múa Xạp, trừ người H'mông còn
dân tộc nào trong vùng cũng có, mỗi nơi một vẻ riêng. Có thể xem nghệ thuật
múa dân tộc là một nét đặc trưng của vùng Tây Bắc.
Dường như có một sở thích âm nhạc chung cho hầu hết các dân tộc Tây Bắc, một
sở thích không thấy hoặc ít thấy ở các vùng khác. Đó là hệ nhạc cụ hơi có lưỡi gà
bằng tre, bằng đồng hay bằng bạc. Nếu sưu tầm và gộp chung lại thì có đến vài
chục loai hình thuộc hệ nhạc cụ này. Nhiều loại đã được cả nước biết đến như Pí
pặp, khèn bè Thái, sáo và khèn H'mông. Ngoài ra, mỗi dân tộc đều có bản sắc
riêng như cây Tính Tảu Thái, đống ôi Mường, chưn may Khơmú, đàn tròn và đàn
ba dây Hà nhì v.v . . . ở nhiều dân tộc khác, thơ ca Tây Bắc được sáng tác để hát,
chứ không phải để đọc. Những truyện thơ, những áng sử thi được trình diễn bằng
cả những liên khúc âm nhạc mà nhiều bài trích ra từ đó đã được cả nước biết đến
như bài "inh lả ơi" chẳng hạn .
Nét chung nữa trong văn hóa Tây Bắc là sở thích trang trí trang phục, chăn màn,
đồ dùng với các sắc độ của gam màu nóng ; rất nhiều màu đỏ, xen vào với vàng
tươi, vàng đất, vàng rơm, rồi da cam, tím và nếu có xanh thì phải là xanh da trời
bản, dán các dụng cụ lao động với ý nghĩa thông báo năm mới đến rồi, con người
và mọi vật đã làm việc vất vả, cần được nghỉ ngơi, vui chơi, ăn Tết,…
Tết đến, trên khắp các thôn bản người Mông sinh sống đều nhộn nhịp hơn hẳn
những ngày thường, nhà nhà đều mổ lợn, mua sắm các vật dụng cần thiết, mặc
trên mình những bộ trang phục đẹp nhất để ăn tết, vui tết và đi chơi tết. Đây là
tết to và lớn nhất trong năm năm của người mông, mang ý nghĩa tổng kết thành
quả lao động của năm cũ, báo cáo với tổ tiên, Tết này dâng lễ vật cúng tổ tiên, cầu
năm mới gia đình làm ăn phát đạt, gặp nhiều may mắn hơn năm cũ, cầu cho mọi
người được khỏe mạnh, là dịp moi người được vui chơi tết, ghé thăm anh em họ
hàng.
Vào dịp tết người Mông thường làm món thịt chuột sấy khô để đãi khách.
Trước tết, các gia đình đều vào rừng chặt cây trúc về để quét dọn bàn thờ tổ tiên
và quét nhà với ý nghĩa quét đi những cái bẩn, cái xấu của năm cũ, để cầu mong
mọi sự tốt lành. Ngày Tết mọi người cũng phải tắm gội sạch sẽ để xua tan cái bẩn,
bệnh tật, sự xui xẻo của năm cũ,..
Trong ngày tết của người Mông thì diễn ra rất nhiều hoạt động sinh hoạt, văn hóa
sôi động. Các cụ già thì chúc tụng sức khỏe,các đôi trai gái thì tìm hiểu, giao lưu,
mở hội vui chơi trò dân gian, hát giao duyên.
2.1.2. Phong tục đón tết của đồng bào Thái trắng ở Tây Bắc
Năm nào cũng vậy, mỗi khi tết đến xuân về, đồng bào dân tộc thái trắng Tây Bắc
lại tất bật, náo nhiệt đón năm mới.
Cách đón tết của đồng bào cũng rất riêng và độc đáo, mang đậm bản sắc văn hóa
của dân tộc mình.
Tết đến xuân về, tại các gia đình đồng bào Thái trắng Tây Bắc, ai nấy đều hối hả
sửa sang lại nhà cửa, quét dọn, trang trí và sắp xếp lại đồ đạc làm cho ngôi nhà
của mình đẹp mắt, ấm cúng. Những nồi rượu ủ từ lá men rừng cũng được bà con
chưng cất suốt cả ngày đêm cuối tháng Chạp. Tất cả các công việc đồng áng hay
nương rẫy được khẩn trương kết thúc để nhìn lại những thành quả của một năm
truyền thống, mời nhau những chén rượu nồng, chúc cho mọi người khỏe mạnh,
bản mường yên vui.
2.2. Một số nét độc đáo trong phong tục cưới hỏi của đồng bào Tây Bắc
2.2.1. Dân tộc Thái- cưới vợ sau 3 năm ở rể
Nghe thật lạ nhưng với dân tộc thái, khi chàng trai muốn cưới cô gái, anh ta
thường rủ bạn bè mang những chiếc khèn đến diễn tấu dưới cửa sổ nhà sàn của
cô gái. Qua thời gian tìm hiểu, chàng trai nào chọn được người yêu rồi sẽ noi vơi
cha mẹ để lo chuyện hôn nhân.
Theo tục lệ cũ, người con trai phải đến ở nhà con gái 3 tháng trước khi làm lễ cưới
chính thức. Anh ta chỉ được phép ở gian đầu nhà sàn dành cho khách nam giới và
chỉ được phép mang theo 1 con dao để làm việc. sau thời gian thử thách ba
tháng, nếu được bố mẹ vợ tương lai ưng ý, chàng trai sẽ trở về nhà báo cho bố
mẹ mình biết. Lần này anh ta sẽ mang tư trng của mình đến nhà gái ở đó suốt 3
năm.
Lễ thành hôn chính thức được tổ chức sau 3 năm. Sau 3 năm đó, nếu đồng ý lấy
chàng trai, cô gái sẽ búi tóc bằng tram cài đầu và cái độn tóc giả do gia đình nhà
trai mang đến. Cô gái nào không muốn cưới chàng trai sau 3 năm đó sẽ phản
kháng bằng cách tự cắt tóc mình.
Sau lễ cưới, chú rể sẽ tiếp tục ở nhà gái từ một đến mười năm và chỉ được phép
đưa vợ về nhà mình sau một nghi lễ đưa dâu long trọng. Lần này, nàng dâu phải
chuẩn bị nhiều quà biếu nhà chồng như tấm áo khoác thật đẹp cho mẹ chồng,
một bộ quần áo đẹp biếu bố chồng và một chiếc khăn piêu biếu cô bác bên chồng.
( mai một dần)
2.2.2. Tục vỗ mông kén vợ của chàng trai Mông
Vào những ngày xuân, trai thanh nữ tú ở khắp các bản làng thường tụ tập nơi bãi
đất trống, dưới chân đồi để tổ chức các trò chơi dân gian như tung còn, đẩy gậy,
kéo co, hát giao duyên hay thổi khèn…Người ta mời nhau uống rượu, chúc tục
nhau một năm gà lợn đầy nhà, thóc đầy sân.
Thường vào mùa xuân là lúc những chàng trai người Dao đỏ đi kéo vợ. Những
chàng trai bản người Dao thường kéo vợ rầm rộ nhất bắt đầu từ ngày 1 Tết âm
lịch đến hết rằm tháng Giêng, bởi những thủ tục vào ngày Tết cũng thường đơn
giản, không bị bắt vạ.
Tuy nhiên không phải cứ thích ai thì mặc nhiên được kéo về nhà mà thường các
đôi trai gái đã tìm hiểu, phải lòng nhau. Tục kéo vợ cũng chỉ là một hình thức để
cho mọi người quanh bản biết, là cái cớ để người con gái chính thức bước chân về
nhà chồng.
Thường trai gái sẽ hẹn nhau ở trên đồi, trên nương. Chàng trai sẽ tự mình kéo vợ
hoặc nhờ một vài người bạn đến điểm hẹn để giúp sức. Theo phong tục, khi được
kéo, cô gái càng tỏ ra chống đối quyết liệt thì sau này gia đình sẽ con cái đầy nhà,
vợ chồng thuận hòa hạnh phúc. Khi đám kéo chỉ cần một người trong bản nhìn
thấy sẽ loan tin cho cả bản biết, lúc đó đôi trai gái đó đã nên vợ nên chồng.
Sau khi bị kéo về nhà chàng trai, cô gái được giữ ở lại trong nhà 3 ngày và vẫn sinh
hoạt bình thường, được cha mẹ chàng trai xem như con cái trong nhà. Hết thời
hạn cô gái sẽ thông báo cho bố mẹ đến làm thủ tục cưới.
2.2.4. Tục ngủ thăm của người Mường
Ngủ thăm là một tục lệ lâu đời của các dân tộc thiểu số ở vùng cao Tây Bắc như
Thái, Dao, Mương, Mông... Tuy nhiên, ngày nay, tập tục ngủ thăm này đã bị mai
một và nhiều nơi không còn tồn tại. Nhưng với người dân tộc Mường ở bản Mọc,
xã Đồng Nghê (Hòa Bình), tục cạy cửa ngủ thăm vẫn còn được lưu giữ.
Các chàng trai đến tuổi trưởng thành đều nắm rõ nhà nào trong bản có con gái
lớn, đến tuổi cập kê. Các thiếu nữ ở độ tuổi trăng tròn cũng thường đốt nến, mắc
màn vào mỗi đêm, chờ đợi chàng trai đến ngủ thăm. Thường khi đèn sáng, là nhà
cô gái chưa có ai vào ngủ thăm, lúc này chàng trai sẽ biết được tín hiệu, cạy cửa
chui vào nhà. Nếu cô gái ưng thuận sẽ tự tay vặn nhỏ đèn, để các chàng trai khác
biết đã có người "ngủ thăm". Tuy nhiên, hai người chỉ được trò chuyện, tâm sự ở
tư thế chung chăn, chung gối mà không được chạm vào người nhau.
xung quanh rất trật tự, cùng nhau uống rượu, trò chuyện, rồi cùng chia thịt trâu
chờ đến khi gần tắt nắng trong ngày, họ mới đưa người chết đi chôn.
Người H'Mông luôn giữ gìn giá trị văn hoá tâm linh tuy nhiên việc tổ chức tang lễ
theo nghi thức truyền thống của họ để người chết lâu ngày trong nhà không cho
vào quan tài là không phù hợp với nếp sống văn minh và an toàn vệ sinh môi
trường, phòng tránh những căn bệnh lây lan sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến
môi trường và phát tán bệnh dịch.
Một số chính quyền địa phương cũng đã tuyên truyền xây dựng nếp sống văn hoá
mới, nhằm tổ chức lễ tang ngắn ngày và ngay sau khi người chết phải được bỏ vào
quan tài để bảo đảm vệ sinh môi trường. Tuy nhiên, đây là một việc làm khó cho
địa phương các nơi có đồng bào người Mông sinh sống.
2.3.2.Nghi lễ ma chay của người thái đen
Nghi lễ ma chay và các tập tục liên quan đến ma chay của người Thái đen ở Tuần
Giáo-Điện Biên là một trong những nét văn hoá của dân tộc phản ánh quan niệm
về tôn giáo tín ngưỡng, tập quán địa phương và mối quan hệ giữa con người với
con người. Một đám ma thông thường diễn ra theo các trình tự sau:
Khi trong nhà có người tắt thở, người nhà phải tắm rửa bằng nước thơm và thay
quần áo cho người chết. Nước thơm dùng để tắm cho người chết thường được
đun lên và cho một ít hoa thơm có trong gia đình như: hoa bưởi, hoa ban…
Người Thái cho rằng dùng nước có ướp các loại hoa trên sẽ có mùi thơm dịu và
có tác dụng khử các mùi hôi tanh. Người ta gội đầu, chải, búi tóc và thay quần áo
cho người quá cố. Đối với nhà nghèo, đồ thay cũng chỉ là những bộ quần áo hàng
ngày, còn đối với gia đình giàu có thì đồ thay được chuẩn bị từ trước. Thông
thường, người ta sẽ mặc theo thứ tự áo trắng ở trong, áo đen ở ngoài. Tiếp đó
người ta đặt người quá cố xuống đệm và lấy vải trắng cuốn quanh người, vải đỏ
phủ lên trên. Lấy một ít đồng bạc trắng cho vào tay người chết, làm như vậy khi
lên trời họ sẽ có chút tiền để tiêu.
Sau đó người nhà sẽ mổ một con vịt, chặt đầu, hai cánh và hai chân buộc lại rồi
Trong đêm thứ nhất của ngày khâm liệm, mỗi gia đình trong bản đều cử người
túc trực ở nhà người chết. Trong đêm này, người ta thường tổ chức thi đánh cờ,
đọc truyện cổ tích, truyện dựng bản mường và bài “sống sán” (bài dẫn đường
cho người chết lên trời) làm cho không khí bớt phần lạnh lẽo.
Theo người Thái đen, người chết để trong nhà bao lâu sẽ do “lung tà” (người
đứng đầu bên ngoại) quyết định. Thông thường họ sẽ tránh chôn người chết vào
các ngày: ngày mất của những người trong gia đình và ngày “mừ tấu” (đây là
ngày không có gì, nếu chôn người chết vào ngày này thì con cháu ở lại sẽ không
làm ăn được). Tuy nhiên hiện nay, để thực hiện theo nếp sống văn hoá, người
Thái sẽ không để người chết trong nhà quá lâu.
Theo phong tục, thường trước khi qua đời, người chết đã dặn nên chôn cất ở
đâu trong bãi tha ma của bản. Nếu chưa kịp dặn thì con cái hoặc Khươi cốc sẽ
chọn. Khi chọn được chỗ ưng ý, Khươi cốc sẽ dọn sạch một khoảng nhỏ bằng
chiếc chiếu và làm nghi lễ xin phép thổ địa bằng cách lấy một con gà luộc, một
nắm xôi và một chút tro bếp mang theo từ nhà đặt giữa khoảng đất lót lá cây, rồi
lấy thanh kiếm cắm trước những lễ vật trên sao cho phía lưỡi kiếm quay về phía
mình và khấn những lời xin phép thổ địa trao đất cho người chết. Tiếp theo,
Khươi cốc tung hai thanh tre vào lưỡi kiếm. Nếu hai thanh tre rơi xuống một
thanh xấp, một thanh ngửa thì việc chọn nơi chôn cất đã xong. Ngược lại phải đi
tìm nơi khác.
Trước khi đưa người chết đi chôn, người ta làm nghi lễ từ biệt con cháu, đó là
khiêng quan tài đi một vòng quanh nhà, dâng lên hạ xuống ba lần chào con cháu
mong ở lại mạnh khỏe, làm ăn phát đạt. Đi đầu là Khươi cốc tay cầm bó đuốc,
đeo dao, lưng đeo cờ v.v… Bó đuốc phải được châm lửa từ bếp, trên đường đi
nếu bị tắt phải chạy về nhà châm tiếp không được xin người khác. Nếu người
khác cho lửa thì hồn của người đó sẽ đi theo người chết. Còn nếu lửa bị tắt phải
Sự độc đáo, khác lạ so với người miền xuôi (dân tộc kinh) không chỉ thể hiện ở các
đám tang ma của dân tộc H’Mông, Thái đen mà còn được thể hiện ở một số dân
tộc khác nữa, họ cũng sinh sống trên vùng núi cao Tây bắc.
Đồng bào Tày - Nùng
Khi một gia đình nào đó của đồng bào Tày - Nùng vùng núi cao phía Bắc có đám
hiếu, đám ma… thì không cần ai nhắc, không cần ai bảo, mỗi người trong làng tự
ý thức cần phải đóng góp để việc, bớt được gánh nặng về vật chất cho gia chủ.
Người có của, người có công cứ vậy kéo đến giúp sức. Ai có gì mang nấy, có khi là
con gà, chai rượu, đôi khi là yến gạo, chục trứng, người không có của thì góp
công dựng rạp, bếp núc dọn dẹp, mượn đồ, xào nấu…
Người Mường
Người Mường ở Hoà Bình với nghi lễ tang ma của họ có đặc điểm chung là những
đêm mo. Một lễ tang có thể kéo dài từ một đêm, hai đêm, hoặc mười đêm, mười
hai đêm hoặc lâu hơn nữa. Điều này phụ thuộc vào tuổi tác và địa vị xã hội làng,
bản của người chết.
Người Brau
Phong tục của người Brâu, sinh sống trên các dòng sông Sê San và Nậm Khoong
(Mê Kông) người chết được đưa ra khỏi nhà, cho vào quan tài độc mộc và quàn
tại một căn nhà riêng do dân làng dựng lên. Mọi người đến chia buồn, gõ chiêng
cồng, mấy ngày sau mới mai táng. Những ché, gùi, dao, rìu... bỏ lại trong nhà mồ
là số của cải gia đình cho người chết.
2.4. Nhà ở, ẩm thực và trang phục của đồng bào dân tộc Tây Bắc
2.4.1. Nhà ở
2.4.1.1. Nhà ở truyền thống của đồng bào dân tộc Mông (Hà Giang)
Nhắc đến văn hóa người Mông là nói đến kiến trúc độc đáo của những ngôi nhà
truyền thống
Với môi trường sống ở trên các sườn núi cao, khí hậu lạnh khắc nghiệt, đã ảnh