Đôi nét về tín ngưỡng, tôn giáo và phong tục tập quán của cư dân Mã Châu. - Pdf 34

LỜI MỞ ĐẦU
Là một sinh viên năm thứ tư, đã được trang bị tương đối đầy đủ kiến thức
của chuyên ngành Lịch sử Văn hoá, tôi phải hoàn thành luận văn tốt nghiệp và
cũng là bước đầu làm quen với công việc nghiên cứu.
Tôi có may mắn là được người hướng dẫn Luận văn tốt nghiệp của tôi -
TS Lâm Mỹ Dung gợi ý và tạo mọi điều kiện cho tôi vào Duy Xuyên - Quảng
Nam để tìm hiểu về đời sống văn hoá của một làng nghề truyền thống ở đây.
Lần đầu tiên đặt chân đến miền Trung và với mục đích tìm hiểu về đời
sống văn hoá của một làng nghề, do kiến thức cá nhân còn ít ỏi và điều kiện thời
gian thực tế hạn hẹp, nên dù đã có được sự chỉ bảo, hướng dẫn, góp ý tận tình
của thầy cô và bạn bè trong quá trình tìm kiếm tư liệu và cũng như khi hoàn
thành luận văn nhưng luận văn vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu sót. Tôi rất mong có
sự chỉ dẫn, góp ý thêm.
Để hoàn thành được luận văn này, tôi xin cảm ơn các thầy cô của Bộ
môn Lịch sử Văn hoá và Khoa Lịch Sử, trường ĐH KHXH&NV HN - nơi tôi đã
và đang học tập; cảm ơn Phòng Văn hoá huyện Duy Xuyên, đặc biệt là chú
Dương Đức Quí và chị Nguyễn Thị Tuyết; cảm ơn thầy Nguyễn Chiều đã góp ý
và cung cấp tư liệu cho tôi; cảm ơn Ban dân chính, các cụ phụ lão và bà con
thôn Châu Hiệp đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian tôi thực tập ở đây.
Cuối cùng, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn của tôi với TS Lâm Mỹ Dung -
giáo viên hướng dẫn của tôi - người đã dẫn dắt và chỉ bảo cho tôi không chỉ
trong quá trình làm luận văn tốt nghiệp này.
1
1. Mục đích nghiên cứu
Người Việt từ xưa (và cho đến nay) đa phần là nông dân. Môi trường
sống của họ là Nông thôn - Nông nghiệp - Xóm làng. Phổ xã hội Việt Nam
truyền thống là Gia đình - Họ hàng - Làng nước. Trong tiến trình lịch sử dân tộc,
làng xã có một vai trò hết sức to lớn. Nó là tế bào sống của xã hội Việt Nam, là
môi trường sinh tụ và hoạt động của nông dân Việt Nam. Mỗi bước thăng trầm
của dân tộc thường để lại những dấu ấn đậm nét trong đời sống làng xã.
Làng nghề truyền thống là nguồn tài sản quý giá của đất nước cần được

trị văn hoá từ xưa để lại) và Nay (hiện đại), tôi không có ý định so sánh, mà dựa
trên tinh thần "ôn cố tri tân" (tìm cũ để biết mới). Bởi chỉ có hiểu biết sâu sắc về
làng nghề và những yếu tố văn hoá truyền thống của làng nghề thì khi gia nhập
vào công cuộc CNH-HĐH chúng ta mới có thể phát huy tốt vai trò của làng
nghề mà không làm mất đi những giá trị văn hoá riêng đặc sắc của nó.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Làng xã là đối tượng nghiên cứu của Khoa học Lịch sử và nhiều ngành
khoa học khác với diện nghiên cứu đa dạng và phong phú. Đến nay việc nghiên
cứu đã đạt được nhiều kết quả. Các công trình nghiên cứu chung hoặc mang tính
chất chuyên khảo về làng nghề cũng đã được nhiều người công bố.
Làng dệt Mã Châu và làng xã vùng Duy Xuyên- Quảng Nam nói chung,
vì nhiều lý do, việc nghiên cứu mới có những kết quả chung có tính chất khái
3
quát, ít có những công trình nghiên cứu chuyên sâu. Và về làng nghề Mã Châu
chỉ có một số bài viết chung, gián tiếp đề cập đến.
- Bài viết: Câu ca làng nghề của Văn Thành Lê đăng trên tạp chí Văn hoá
Quảng Nam số 18 tháng 12.1999. Trên cơ sở tìm hiểu nghề dệt ở Duy Xuyên,
ông nói đến ảnh hưởng của nghề dệt với đời sống cư dân ở đây.
- Bài báo: Duy Xuyên ngày mai xanh lại những biền dâu? của Hoàng
Thơ trên báo Quảng Nam chủ nhật ngày 9.3.2003. Từ những số liệu của nghề
dâu tằm ở Duy Xuyên trong những năm gần đây, tác giả khẳng định khả năng
phát triển của nghề dệt ở vùng này.
- Bài viết: Ông Cửu Diễn - người du nhập kỹ thuật dệt mới vào Duy
Xuyên (tư liệu của chị Nguyễn Thị Tuyết - Phòng Văn hoá huyện Duy Xuyên)
nói về sự cải tiến kỹ thuật dệt ở Duy Xuyên hồi đầu thế kỷ XX.
3. Các nguồn tư liệu
Để hoàn thành luận văn, tôi đã sử dụng những nguồn tư liệu sau:
3.1. Tư liệu chữ viết
3.1.1. Thư tịch cổ gồm có:
- Thuỷ kinh chú [9]

Dựa trên những nguồn tư liệu thu thập được tôi đã sử dụng phương pháp
so sánh, phân tích và tổng hợp tư liệu. Từ đó hệ thống hoá những tư liệu đã thu
thập được để đưa vào hoàn thành luận văn.
5
Phương pháp tiếp cận liên ngành là phương pháp quan trọng được tôi sử
dụng từ khi khảo sát điền dã lấy tư liệu cho tới khi hoàn thành luận văn. Bởi văn
hoá làng là "một phức thể thống nhất trong đa dạng"[36.25] cần được tiếp cận và
nghiên cứu từ nhiều hướng.
5. Bố cục luận văn
Luận văn gồm có ba phần: Phần mở đầu (6 trang); Phần nội dung (52
trang) và phần kết luận (3 trang).
Nội dung của luận văn được chia làm 3 chương:
- Chương 1: Khái quát về điều kiện tự nhiên-lịch sử, xã hội và con người.
- Chương 2: Làng nghề truyền thống.
- Chương 3: Đôi nét về tín ngưỡng, tôn giáo và phong tục tập quán của cư
dân Mã Châu.
Ngoài ra luận văn còn có phần tài liệu tham khảo, sách dẫn và phụ lục
gồm 20 trang.
6
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN-LỊCH SỬ,
XÃ HỘI VÀ CON NGƯỜI

1.1. Điều kiện tự nhiên
Làng Mã Châu (theo tên địa giới hành chính là thôn Châu Hiệp) thuộc thị
trấn Nam Phước, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, nằm cách thành phố Đà
Nẵng 30 km đi theo Quốc lộ 1A, đoạn từ Đà Nẵng đi Tam kỳ - Quảng Nam.
Vị trí địa lý của làng Mã Châu, phía Tây tiếp giáp sông Cầu Chìm (một
đoạn của sông Bà Rén, vì ở đoạn sông này có cây cầu Chìm bắc qua sông nên
gọi như vậy), bên kia sông là Ngũ xã Trà Kiệu. Phía Đông - Nam giáp làng Mậu
Hoà cũng cách nhau ở nhánh thượng lưu sông Bà Rén. Phía Bắc tiếp giáp với

khụ cn, nc ti tiờu cho ng rung hon ton ph thuc vo "nc tri".
Duy ch cú vựng h lu cỏc sụng, c bit l h lu sụng Thu Bn (vựng Duy
Xuyờn, in Bn) nh phự sa hng nm bi p nờn hai bờn b sụng to thnh
nhng ng rung phỡ nhiờu thun li cho vic canh tỏc, trng trt, nht l trng
lỳa, trng dõu [22.202].
11 GS Trần Quốc Vợng đã mô hình hoá miền Trung thành một hình hộp chữ nhật và mỗi xứ,
vùng là những hình hộp chữ nhật ngang với những thành tố: Núi đồi - Đèo - Sông - Đầm phá -
Cảng ven sông, ven biển - Hải đảo và các thành tố Núi - Biển - Sông - Đèo tuy có yếu tố chia
cắt các vùng miền song lại mang yếu tố gạch nối nhiều hơn [37.309-340].
8
Huyện Duy Xuyên nằm dọc về phía bờ Nam sông Thu Bồn, địa hình trải
dài từ núi ra biển, có bốn nhánh sông lớn là Vu Gia, Thu Bồn, Bà Rén và Trường
Giang. Đất đai ở đây được thừa hưởng nguồn phù sa dồi dào từ thượng nguồn
các nhánh sông Thu Bồn đổ về làm cho màu mỡ, dần dần đẩy lùi nước biển từ
bãi cát Tây An, xã Duy Trung tạo thành những giải đất phì nhiêu kéo dài từ miếu
Thành Hoàng Mã Châu cho đến Phụng Châu, Long Châu, Triều Châu... của xã
Duy Phước, Duy Vinh ngày nay. Làng Mã Châu với địa thế ở đỉnh tam giác châu
lại được bao quanh bởi sông Bà Rén nên hàng năm, sau mỗi mùa lũ đã nhận
được một lượng phù sa đáng kể, rất thuận lợi cho sự phát triển nghề nông tang ở
đây.
Nói chung, địa hình ở Duy Xuyên đồi núi, sông hồ, đầm phá gắn kết với
nhau khá chặt chẽ. Vùng đồng bằng sông Thu Bồn sông hồ lầy lội, đi ghe thuyền
tiện hơn đi chân. Việc đặt tên các xứ đất ở Mã Châu: Đồng Rẫy, Lục Nhơn, Bàu
Trước, Bàu Tự, Bàu Răm, Bàu Mạn, Bàu Tỉnh, Bàu Khế, Bàu Chùa, đất bồi xóm
bãi (Thượng tự phù sa đồng canh xứ)... cũng đã phần nào nói nên điều này.
Mã Châu trong bối cảnh Duy Xuyên - Quảng Nam nói chung thuộc đới
khí hậu Á xích đạo, với lượng cân bằng bức xạ 95 kcal/cm2/năm (tổng nhiệt độ
9500°C). Đất Quảng Nam nằm trong gianh giới vĩ tuyến 14°B đến 16°B, không
có mùa khô rõ rệt do tác dụng bức chắn của khối núi Bắc Kon Tum. Cũng vì vậy
mà trong mùa gió Đông Bắc, Quảng Nam vẫn giữ được một lượng mưa đáng kể.

10
Bàu Dũ là một di chỉ cồn sò điệp, căn cứ vào cấu tạo tầng văn hoá, được
xếp vào loại hình di tích đống rác bếp. Bàu Dũ có nhiều nét tương tự với văn
hoá Hoà Bình ở miền Bắc (có niên đại 15000 đến 8-6000 năm cách ngày nay)
bởi kỹ thuật chế tác và công cụ đá; và di tích văn hoá Quỳnh văn ở ven biển
Nghệ An (đầu thời đại đá mới) ở hình thức mộ táng (huyệt tròn, trôn người bó
gối trong đống vỏ sò điệp).
Những hiện vật khai quật được ở Bàu Dũ cho biết nền kinh tế của cư dân
Bàu Dũ là kinh tế săn bắt (bắn), hái lượm theo phổ rộng của hệ sinh thái bờ biển.
Địa bàn cư trú của họ là những vùng cửa sông ven biển. Tại đây đã thu lượm
được một số lượng lớn xương cốt động vật và vỏ nhuyễn thể (nhưng chưa thấy
di cốt của loài vật đã được thuần dưỡng) cho thấy trước đây vùng này là vùng
rừng xen lẫn với những trảng cỏ rộng lớn và những bàu nước ngọt như Bàu Dũ,
Bàu Mê, Bàu Trám... [33].
Quảng Nam hiện nay vẫn là nơi phân bố dày đặc nhất những di tích khảo
cổ học của văn hoá Sa Huỳnh. Tính riêng ở huyện Duy Xuyên đã phát hiện hàng
chục di chỉ trong vòng vài năm gần đây. Những di tích này được phát hiện ở
những khu vực sinh thái đa dạng: núi, đồi, gò, ven sông... với mật độ chum mộ
và đồ tuỳ táng dày đặc. Đa số các di tích phân bố ở trên những cồn cát cổ, dọc
theo các con sông Thu Bồn và Bà Rén.
Các di tích Sa Huỳnh ở Duy Xuyên tìm thấy, đặc biệt phân bố rất dày đặc
ở các cồn cát cổ ven theo bờ Nam sông Bà Rén, thuộc khu vực thôn Mậu Hoà,
xã Duy Trung (tức là cách làng Mã Châu hiện nay một bờ sông) như: gò Mả
Vôi, gò Miếu Ông (đã được khai quật), gò Tây An, gò Cấm, gò Bờ Rang, gò Bà
Hòm, gò Ông Nhan... [14].
Mộ táng Sa Huỳnh ở đây có nhiều táng thức khác nhau, với những loại
hình: mộ chum, mộ vò và mộ huyệt đất, nhưng phổ biến nhất là mộ chum.
11
Chum mộ hình cầu với những kiểu biến thể ở miệng, thân, đáy thành hình trái
xoan, trái đào, hình trứng... mộ chum kép (chum đôi lồng nhau), với nắp đậy

. ú l vng quc Chmpa ca
ngi Chm vi ụ thnh S T (Simhapura), nay l Tr Kiu - Duy Xuyờn. Ti
õy, trờn ngn nỳi Bu Chõu - gia kinh ụ Tr Kiu, trong mt ln i in dó
t u thp k 80, GS Trn Quc Vng ó "n ng" ra mụ hỡnh quy hoch cỏc
tiu quc Chmpa nh sau:
Nỳi Sụng Thu Bn
Tõy Thỏnh a Thnh S T Cng th Hi An Bin ụng Tin
cng
M Sn (Simhapura) (Chmpapura) (Cự Lao Chm)
Trong ú sụng bin, sụng nc l yu t kt ni gia cỏc thnh t trờn
[37.322].
Duy Xuyờn vi din tớch 27.533 ha vi a hỡnh tri di t Tõy sang ụng
theo hỡnh hp ch nht vi phc th a hỡnh Nỳi - i - ng bng - Duyờn hi
- Bin vi yu t kt ni l dũng sụng Thu Bn, ó mang trong mỡnh Thỏnh a
M Sn - trung tõm tụn giỏo ca tiu vựng Amaravõti (Qung nam), m theo GS
22 Thời Sơ Bình nhà hậu Hán (190 - 192) Khu Liên, một công tào huyện Tợng Lâm đã lợi dụng
lúc nhà Hán suy yếu, nổi dậy chiếm quận Nhật Nam và xng Vua ở Tợng Lâm-một huyện cực
Nam của quận Nhật Nam, lập ra nớc Lâm ấp. Tên Lâm ấp có thể do bắt nguồn từ chữ Tợng
Lâm (rừng voi). Còn tên Chămpa thì không biết ra đời từ khi nào, bia ký sớm nhất nhắc đến
tên này là bia đợc lập vào thế kỷ VI [33.9-10].
13
Trn Quc Vng thỡ ngoi chc nng tụn giỏo, thỏnh a M Sn cũn cú chc
nng giao lu kinh t, vn hoỏ gia Chmpa v cỏc dõn tc thiu s vựng nỳi;
Kinh ụ Tr Kiu (Simhapura) ni úng ụ ca Vng quc Chmpa t th k
III n th k IX - X. Vic khai qut thnh Tr Kiu ó c Khoa S trng
H KHXH&NV H Ni tin hnh (ln mt nm 1989 v ln hai vo thỏng 3
nm 2003). Kt qu nghiờn cu cho thy õy l ngụi thnh c xõy dng bng
gch u tiờn Vit Nam vi mt k thut xõy thnh rt cao
3
; Vựng ng bng

Lịch sử Chămpa cũng đã lưu lại trường hợp người Việt là Lưu Kế Tông - quân
Quản Giáp trong quân đội đi đánh Chiêm Thành của Lê Hoàn đã trốn ở lại,
chiếm ngôi vua Chămpa từ năm 986 đến năm 988, khi vua Chămpa Inđravarman
chết vào năm 986 [12.26].
Năm 1069 Lý Thánh Tông đánh Chiêm Thành,vua Chiêm Ruđravarman II
phải cắt ba châu Bố Chánh, Địa Lý, Ma Linh (nay là Quảng Bình và Bắc Quảng
Trị) cho nhà Lý. Đến thời Trần, năm 1305 vua Trần (Nhân Tông) gả Huyền
Chân Công Chúa cho vua Chămpa là Chế Mân và thu nhận lễ vật là hai châu Ô,
Rí (nay là đất Thừa Thiên). Năm 1402 nhà Hồ đánh Chiêm, Chiêm dâng đất
Chiêm Động, Hồ Quý Ly bắt phải dâng cả đất Cổ Luỹ (từ Quảng Nam đến Phú
Yên) và đặt bốn châu Thăng - Hoa - Tư - Nghĩa. "Lại bắt người dân có của mà
không có ruộng ở các lộ khác đem vợ con vào ở, để khai khẩn đất ở những châu
ấy, bởi vì khi vua Chiêm nhường đất Chiêm Động và Cổ Luỹ, người CHiêm đều
bỏ đất ấy mà đi cả"[34.184].
15
GS Trần Quốc Vượng đã nhận xét quá trình "Nam tiến" của người Việt có
chiến tranh, có chết chóc nhưng không hề có sự khu trục người Chàm ra khỏi
vùng Thuận Hoá - Quảng Nam. Lịch sử đã ghi lại nhiều cuộc hôn nhân Việt -
Chăm (đặc biệt là thời kỳ đầu, người Việt vào đây chủ yếu là đàn ông - những
người lính thú, những phạm nhân bị đi đày viễn xứ (tội lưu viễn châu) họ đã kết
hôn với những phụ nữ người Chăm), có nhiều dòng họ Việt gốc Chàm (Ông,
Ma, Chà, Chế...) và thậm chí cho đến nay vẫn tồn tại các ốc đảo người Việt gốc
Chăm ở Quảng Nam [37.447].
Tuy nhiên trên thực tế những vùng đất đó vẫn là đất của Chămpa và nó
chỉ thực sự được sát nhập vào Đại Việt với sự kiện năm 1470 Lê Thánh Tông
đánh Chiêm Thành và lập nên đạo thừa tuyên thứ 13 là Đạo thừa tuyên Quảng
Nam.
Theo Nguyễn Xuân Hồng và Trần Thị Thu Hà thì ở Quảng Nam có những
đợt di dân lớn sau:
1 - Đợt di dân theo Huyền Trân Công Chúa.

th t, theo nhng gỡ mỡnh mong c hoc l ly tờn lng quờ c ca h. Tờn
lng Mó Chõu ( ) cú l c t theo th t, tc l mnh t hỡnh
con nga, cng nh mt s lng khỏc ly tờn Long Chõu - mnh t hỡnh con
rng, Phng Chõu - mnh t hỡnh chim Phng, Bu Chõu - hũn ngc bỏu,
Hon Chõu - viờn ngc trũn...
44 13 vị Hậu hiền có công khai canh lập xã Trà Kiệu đợc Sắc phong năm Khải Địng thứ 9 gồm:
Lê Đức Khoan, Nguyễn Văn Xứ, Nguyễn Văn Đơng, Phạm Văn Hoa, Nguyễn Viết Tuế, Lê
Phớc Đệ, Đoàn Công Khúc, Nguyễn Viết Dũng, Lê Văn D, Đặng Ngọc Đài, Trơng Văn Tốt,
Lê Văn Hợp, Nguyễn Cảnh Vạn [10].
55 Năm 1558 để tránh sự ám hại của ngời anh rể là Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng đã xin vào làm
Trấn thủ Thuận Hoá, một vùng đất đầy khó khăn hiểm trở với hi vọng "Hoành sơn nhất đái,
vạn đại dung thân". Trịnh Kiểm lúc đó đang có ý định loại bỏ ảnh hởng của họ Nguyễn, thấy
đây là vùng đất ngèo, đầy rẫy khó khăn nên đã đồng ý.
17
Vỡ c dõn vựng ny trự mt nờn thi Minh Mng ci cỏch hnh chớnh ó
chia lng Mó Chõu thnh bn thụn l Mó Chõu ụng, Mó Chõu Thnh, Mó Chõu
Tõy v Mó Chõu Thng thuc tng ụng An, huyn Duy Xuyờn. S phõn chia
a gii hnh chớnh õy vo thi Minh Mng ch yu da vo ngun t liu
hi c ca cỏc c gi trong lng do ngun t liu ch vit ca lng trc cỏch
mng thỏng 8 khụng cũn
6
.
ng Khỏnh a d chớ, mc huyn Duy Xuyờn, tnh Qung Nam v Phỳ
ý ca h Trnh (õy l bn Phỳ ý ch Hỏn duy nht cũn gi li c nguyờn vn.
H Phm thụn Mó Chõu Thng cng cũn Phỳ ý ch Hỏn nhng ch cũn mt
phn nh), bn ch Hỏn hin c lu trong nh th h Thnh thụn Mó Chõu
ụng, son vo nm Duy Tõn th 2 thỡ Mó Chõu gm bn thụn (ụng -
Thnh - Tõy - Thng) thuc tng ụng An
7
, huyn Duy Xuyờn, ph in Bn,

chức thành 9 xóm theo khu vực cư trú là: tứ Phú (Phú Khương, Phú Thuận, Phú
Bình, Phú Hoà), tứ Bình (Bình Khương, Bình Thuận, Bình Yên, Bình Hoà) và
Hợp Thành. Các xóm xếp cạnh nhau thành những ô bàn cờ và tách nhau bằng
những lối đi tương đối thẳng. Mỗi xóm có một cuộc sống riêng của nó với một
sự cộng cảm riêng, kết tinh lại quanh việc thờ phụng ở miếu của mỗi xóm. Tên
xóm thể hiện ước vọng bình dị của những người dân làng Mã Châu phú yên, phú
thuận, bình khương, bình hoà... và ở đây xóm đơn thuần chỉ là một đơn vị văn
hoá, một đơn vị tụ cư chứ không phải là một đơn vị hành chính hay đơn vị kinh
tế.
Bộ máy lý dịch thời Trung - Cận đại ở Mã Châu cũng tương đối giống
làng xã ở Bắc Bộ với các chức danh:
19
- Lý trưởng: là người về nguyên tắc, được uỷ quyền và thay mặt dân làng
giao tiếp với chính quyền phong kiến. Lý trưởng phụ trách chung về các mặt
chia ruộng, thu thuế và các việc liên quan đến vấn đề hành chính.
- Hương Kiểm (Trương Tuần, Tuần Châu ở Bắc Bộ): là người đặc trách
đảm bảo an ninh trật tự cho làng xóm bằng cách chủ yếu là tổ chức canh gác,
tuần tra...
- Hương Mục (Thủ Bạ): đảm trách vấn đề dân số của làng.
- Hương Bộ (Thủ Bạ): đảm trách vấn đề ruộng đất.
Các tầng lớp xã hộ ở Mã Châu trên đại thể, có ba tầng lớp chính là:
+ Quan viên - chức sắc: là những người có bằng cấp hoặc chức tước của
chính quyền phong kiến.
+ Lão nhiêu: là những người già cả trong làng.
+ Dân đinh: là những người dân ở làng, hầu như khôngg phân biệt dân
ngụ cư. Nếu một người đến làng lập nghiệp, dựng nhà, lấy vợ, sinh con, tự
nguyện tham gia các sinh hoạt và tuân thủ các sinh hoạt của làng thì chậm nhất
đến đời con anh ta là được nhận vào làng và trở thành "người làng".
Từ sau khi đất nước thống nhất thì mô hình quản lý làng xã ở Mã Châu
(ũng như những làng xã khác trong cả nước) là sự kết hợp giữa bộ máy hành

8

vn t trc l t cú hc, l t cú l [22.38]. "Hc trũ chm hc hnh, nụng
88 "Ngũ phụng tề phi": Khoa thi Đình năm Mậu Tuất 1898 niên hiệu Thành Thái, năm ngời ở
Quảng Nam đi thi đều đỗ cao là: Phạm Liệu, Phan Quang, Phạm Tuấn (Tiến sĩ), Ngô Tuân, D-
ơng Hiển Tiến (Phó bảng).
21
phu chm ng rung, siờng sn xut m ớt em cho; vui lm vic ngha, st sng
vic cụng"[19.339]. Mó Chõu t trc v cho n hin nay, vic hc hnh vn
luụn c t nờn hng u, dự õy ó cú ngh dt. Khụng hc c na thỡ
mi chuyn sang lm ngh khỏc. Cng cú trng hp nh nghốo quỏ khụng th
nuụi con em n hc nờn phi b d, nhng a s l nu cũn cú th thỡ cho con
i hc ch khụng bt i lm ngh quỏ sm. V trong lch s, t thi Thiu Tr
tr i, lng Mó Chõu cng cú nhiu ngi C nhõn v mt ngi ừ Phú
bng. Trong ú dũng h Phm l dũng h cú truyn thng hc hnh nht lng
vi nhiu i cha con, anh em tip ni nhau t
9
.
õy cng l mnh t giu truyn thng yờu nc. Ngay t giai on cỏch
mng 1930-1931, trờn a bn thụn ó thnh lp c chi b ng cng sn
gm 8 ng viờn do H Duy T lm Bớ th, ó lónh o nhõn dõn trong thụn,
phi hp cựng nhõn dõn c nc ng lờn chng gic. Trong thi k khỏng
chin chng Phỏp, chựa Ba Phong, Miu Nh (trong chin tranh ó b phỏ mt,
hin ch cũn nn c)... l nhng a im an ton nuụi du nhng ng chớ hot
ng cỏch mng nh: Vừ Chớ Cụng, Phm Vn ng, H Mõn , Vừ Tn
Bn...
99 Theo số liệu thống kê cha đầy đủ của ông Nguyễn Hiền Tâm, ngời làng đã su tầm và cung
cấp cho tôi thì ở Mã Châu có 11 ngời đỗ Cử nhân là: Phạm Thanh Chân, Huỳnh Kim Minh (đỗ
năm Thiệu Trị 1:1841), Trần Minh Hớng, Phạm Thanh Nhã (Thiệu Trị 6: 1846), Trần Thiện
(Tự Đức 14: 1861), Phạm Thanh Thục (Tự Đức 17:1864), Lơng Văn Bá (Tự Đức 23: 1873),

Bàn... "ruộng đồng rộng rãi, các thứ lúa xanh tốt"[16.337]. Ở đây từ rất sớm sử
cũ đã ghi lại lúa hai vụ, tằm tám lứa tơ một năm. Sách Thuỷ kinh chú chép:
"Ruộng gọi là "Bạch điền" (ruộng trắng) thì giống lúa trắng, tháng 7 đốt rẫy thì
tháng 10 có lúa chín; ruộng gọi là "Xích điền" (ruộng đỏ) thì giống lúa đỏ, tháng
chạp làm thì tháng tư có lúa chín; người ta gọi lúa hai mùa là thế. Còn như có
24
nơi nảy mầm, hoa màu thay lúa, lúa sớm lúa muộn tháng nào cũng tốt. Cày giống
công nhiều, mà thu hoạch lợi ít, vì mùa màng chóng chín. Gạo không phân tán ra
ngoài nên trong nước thường nhiều gạo. Việc tằm tang thì một năm tám lứa kén
chín. Trong bài Tam đô phú bảo là tơ tám lứa tằm là thế"[9.114].
Đại Nam nhất thống chí cũng ghi lại ở đây: "thổ nghi mùa màng thì có
năm bậc; ruộng Hạ thì mùa Đông cấy, mùa Hạ gặt; ruộng Thu thì mùa Hạ cấy,
mùa Đông gặt; ruộng Hạ, ruộng Thu (ở miền Trung và Nam thì ruộng Hạ là
ruộng Mùa, ruộng Thu là ruộng Chiêm, khác với miền Bắc - chú thích của người
dịch) đã gặt về mùa Hạ lại gặt về mùa Thu... Phần nhiều theo thời tiết mà cày
cấy"[19.338].
Mã Châu với vị trí sát sông Bà Rén nên có thuận lợi chủ động được nước
tưới, việc nông tang ít phải phụ thuộc vào khí hậu, thời tiết. Người Việt vào đây
đã kết hợp hệ thống thuỷ lợi của người Việt và người Chăm để đưa nước vào
đồng ruộng. Họ đặt ở sông những guồng quay nước dùng sức trâu hoặc sức
người kéo, đưa nước từ kênh mương vào chứa ở những ao chứa nước được đào
ở góc đầu mỗi thửa ruộng và sau đó người ta dùng gầu tre để tát nước vào
ruộng. Hệ thống kênh mương ở đây có từ rất sớm, "nước trời" là một nguồn
nước quan trọng nhưng không phải là chủ yếu. Sau này, khi có điện, người dân ở
đây đã chuyển sang dùng máy bơm nước bằng dầu và sau đó là xây dựng những
trạm bơm; Xây dựng và sửa chữa lại hệ thống kênh mương để "dẫn thuỷ nhập
điền". Hệ thống thuỷ lợi hiện nay đã đảm bảo cung cấp đủ nước tưới cho các
thửa ruộng và một phần cho các bãi đất trồng màu.
Về giống lúa, trước đây người Chăm và sau đó là người Việt vào đây đều
cấy giống lúa Chiêm, bởi giống lúa này chịu hạn tốt nhưng cho năng suất thấp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status