Chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội xây dựng trang trại làng nhím cúc phương - Pdf 34

LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang trong quá trình đổi mới và phát triển nền kinh tế thị
trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy, việc phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần và khuyến khích mọi người tham gia các hoạt
động kinh tế là rất cần thiết. Nhà nước và các tổ chức, doanh nghiệp hiện
đang có rất nhiều chương trình, cuộc thi để thu hút, tìm những ý tưởng kinh
doanh mới, thiết thực.
Là những sinh viên năm cuối của khoa Kế Hoạch – Trường Đại Học
Kinh Tế Quốc Dân, với những kiến thức đã được học, sau khi xem xét và
nghiên cứu kỹ, chúng tôi quyết định xây dựng một dự án khởi nghiệp với
đề tài: Dự án thành lập trang trại “Làng Nhím Cúc Phương”.
Thông qua Dự án, chúng tôi không chỉ muốn hoàn thành nhiệm vụ làm
đề án môn Chương Trình Dự Án mà còn muốn trau dồi kinh nghiệm về
công tác lập dự án.
Dự án này nếu được triển khai không những tạo ra một hướng đi mới
cho vùng nông thôn trong việc chăn nuôi để nâng cao đời sống cho người
dân mà còn góp phần bảo tồn được loài động vật quý đang ngày càng ít đi
do bị săn bắt quá nhiều. Dự án đã kết hợp được mô hình kinh doanh 3 nhà:
Nhà kinh doanh – Nhà khoa học – Nhà nông.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ths. Vũ Cương đã đóng góp ý kiến để
dự án được hoàn thiện. Đồng thời, chúng tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới bà
con nhân dân xã Cúc Phương đã nhiệt tình giúp đỡ trong quá trình thu thập
thông tin cho dự án.
Do còn nhiều hạn chế về mặt thời gian, tài chính và chuyên môn, dự án
không thể tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong nhận được sự góp
ý của các chuyên gia và bạn đọc để dự án được hoàn thiện hơn và có thể


Chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội
triển khai trong thực tế.
Tập thể tác giả.

quan thiên nhiên tươi đẹp và một không khí tuyệt vời của tự nhiên đem lại,
họ còn được thưởng thức các món ăn đặc sản của rừng như thịt nhím, lợn
rừng, tê tê, rúi, thỏ, rắn, gà rừng, hươu... Bởi thế nhu cầu thịt thú rừng tăng
mạnh sẽ kéo theo nhu cầu về giống các loại thịt thú rừng tăng lên trong đó
có cả loài nhím.
Hơn nữa, Nhím là loài động vật hoang dã lại có nhiều tác dụng. Thịt
nhím nạc, ít mỡ, vừa thơm ngon vừa có giá trị dinh dưỡng cao. Mật nhím
được người ta dùng chữa bệnh đau mắt và dùng để xoa bóp các chấn
thương và chữa đau lưng. Thịt, ruột già, gan và cả phân của nhím đều được
sử dụng để chữa bệnh phong nhiệt. Chính những tác dụng như vậy của
nhím mà dân sành ăn rất khoái khẩu với món thịt nhím. Điều này đã dẫn
đến nhu cầu về thịt Nhím gia tăng. Lý do này đã làm cho lượng nhím trong
tự nhiên giảm hẳn do đã bị săn bắt nhiều cho các nhà hàng đặc sản, gây hại
đến môi trường.
Trang tr¹i "Lµng NhÝm Cóc Ph¬ng"

3


Chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội
Cúc Phương là một trong những xã nghèo của huyện Nho Quan - tỉnh
Ninh Bình. Vườn Quốc gia Cúc Phương là nơi bảo tồn thiên nhiên, bảo tồn
nguyên vẹn 22.000 ha diện tích rừng hiện có. Vì nhu cầu thưởng thức đặc
sản nên việc săn bắt Nhím trong tự nhiên ngày càng nhiều, đã làm cho
Nhím trong rừng giảm hẳn. Mặt khác, đời sống của nhân dân tại 15 xã
vùng đệm rất khó khăn. Việc cải thiện đời sống cho nhân dân, định hướng
họ nuôi con gì, trồng cây gì là rất quan trọng. Đây là một trong những
nguyên nhân chính khiến cho những tác động xâm hại của người dân vùng
đệm đến rừng ngày càng nhiều. Muốn giải quyết vấn đề trên thì ngoài các
hoạt động tuyên truyền để người dân có ý thức hơn trong việc bảo vệ rừng,

nhím giống cho người dân trong xã và các vùng lân cận, sau một thời gian
sẽ chuyển sang cung cấp nhím thịt cho các nhà hàng đặc sản và khách sạn.
Như vậy, trang trại nuôi nhím của chúng tôi vừa đáp ứng được nhu cầu cho
các hộ gia đình muốn làm giàu nhanh chóng từ việc nuôi nhím vừa có thể
bảo tồn được loài động vật hoang dã đang bị săn bắt ngày càng nhiều này.
II. Động lực kinh doanh.
- Xuất phát từ lợi ích kinh tế của bản thân, đồng thời thoả mãn niềm
đam mê kinh doanh của sinh viên Khối kinh tế.
- Xuất phát từ mong muốn làm giàu cho quê hương, giúp người dân
xung quanh rừng cải thiện đời sống.
- Tạo công ăn việc làm cho người lao động đặc biệt là người nông dân
có nhiều thời gian rảnh rỗi khi nông nhàn .
- Giúp bảo vệ rừng nhằm giảm bớt lượng thú rừng bị săn bắt trái phép.
- Do người dân không được đào tạo cách nuôi Nhím giống sao cho có
hiệu quả nên dễ gây thoái hoá giống. Do vậy, khi trang trại đi vào
hoạt động sẽ giúp họ có được kỹ thuật nuôi tốt, chống thoái hoá
giống ở Nhím.
III. Giới thiệu về dự án.
1. Hình thức pháp lý.
Sau khi nghiên cứu và được sự tham vấn của các chuyên gia kinh tế,

Trang tr¹i "Lµng NhÝm Cóc Ph¬ng"

5


Chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội
chúng tôi quyết định chọn mô hình Kinh tế trang trại để tiến hành chăn
nuôi và cung cấp Nhím giống ra thị trường với tên gọi của trang trại là:
“Làng Nhím Cúc Phương”

0.35% tổng doanh số hàng bán dự kiến. Hợp đồng này đã được
kiểm tra và được sự đồng ý của Chính quyền xã.
- Trang trại được xã cho thuê đất dự phòng với diện tích 1000m 2,
Trang tr¹i "Lµng NhÝm Cóc Ph¬ng"

7


Chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội
diện tích sử dụng chăn nuôi là 500m2.
- Tận dụng được chi phí thấp trong chăn nuôi do điều kiện tự nhiên
thuận lợi để cung cấp thức ăn cho Nhím, khí hậu ôn hoà Nhím
phát triển rất nhanh và địa điểm trang trại gần người nuôi nên có
thể hướng dẫn kỹ thuật dễ dàng với chi phí thấp. Hơn thế, tạo
được việc làm cho cộng đồng người dân của xã.
- Cúc Phương nằm ở ngã ba của ba tỉnh Ninh Bình – Hoà
Bình – Thanh Hoá. Có đường giao thông thuận tiện cho việc vận
chuyển Nhím giống sang các tỉnh lân cận.
- Ở vị trí đông người qua lại do trang trại nằm gần khu du lịch
Vườn Quốc Gia Cúc Phương thuận tiện cho việc quảng bá thương
hiệu của trang trại.
3. Quy mô dự án.
Địa điểm của trang trại: Thôn Nga 3 – xã Cúc Phương - Huyện Nho
Quan - Tỉnh Ninh Bình.
Lĩnh vực kinh doanh: Chăn nuôi.
Sán phẩm kinh doanh: Nhím giống.
Quy mô nhân lực:
- Quản lý và kỹ thuật viên: 5 người.
- Công nhân: 2 người.
- Bảo vệ: 2 người.

PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG
I. Phân tích môi trường vĩ mô.
Việt Nam đang trên con đường đổi mới và phát triển. Nền kinh tế tăng
trưởng với tốc độ khá cao và ổn định, thu nhập người dân ngày càng được
nâng cao, mức sống của người dân được cải thiện. Nhu cầu thưởng thức
các món ăn lạ, giàu dinh dưỡng được mọi người quan tâm nhiều hơn, đặc
biệt là thịt thú rừng.
Hơn thế nữa, gần đây có xuất hiện thêm một số dịch bệnh phát triển
trong gia súc, gia cầm như dịch lở mồm long móng ở lợn, dịch cúm gia
cầm H5N1 ở gà, vịt và các loại gia cầm khác đã dẫn đến việc tiêu thụ các
loại mặt hàng này giảm các loại thực phẩm khác được tiêu thụ mạnh hơn
đặc biệt là tiêu thụ các món ăn đặc sản tăng lên bởi nó vừa ngon, vừa giàu
chất dinh dưỡng mà hơn thế còn là thức ăn sạch. Đây là những yếu tố hết
sức thuận lợi cho việc phát triển nghề nuôi Nhím.
Chủ trương, chính sách của Nhà nước đều đang tập trung phát triển kinh
tế ở các vùng nông thôn để nâng cao mức sống của người nông dân thông
qua việc đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển cây trồng,
vật nuôi đem lại lợi ích kinh tế cao. Đặc biệt, Nhà nước rất quan tâm
khuyến khích phát triển và nhân rộng mô hình “Kinh tế trang trại” ở các địa
phương thông qua một số chính sách ưu đãi thể hiện ở Nghị quyết
03/2000/NQ – CP và một số văn bản khác.
Tỉnh Ninh Bình cũng đã có dự án phát triển việc nuôi Nhím, coi đây
như một con vật nhằm xoá đói giảm nghèo cho người dân, nâng cao mức
sống của các hộ nông dân nhằm phát triển kinh tế của tỉnh. Do đó, khi dự
án đi vào hoạt động sẽ được hưởng rất nhiều chính sách ưu đãi, điều kiện
thuận lợi của Nhà nước và địa phương về các vấn đề thuê đất, vay vốn, cấp
Trang tr¹i "Lµng NhÝm Cóc Ph¬ng"

10



11


Chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội
đô thị lớn ngày càng nhiều.
Như vậy, nhu cầu ăn các loại đặc sản, các loại thịt thú rừng rất lớn và
đang tăng mạnh, đặc biệt trong một số năm gần đây.
Nhím có một số ưu điểm sau: Thịt Nhím nạc, ít mỡ vừa thơm ngon, vừa
có giá trị dinh dưỡng cao. Ngoài ra, mật Nhím còn được dùng để chữa bệnh
đau mắt và dùng để xoa bóp các chấn thương và chữa đau lưng. Thịt, ruột
già, gan và cả phân của Nhím đều được dùng để chữa bệnh phong nhiệt.
Bởi những tác dụng của thịt Nhím như vậy mà dân sành ăn rất khoái khẩu
với món thịt Nhím. Do đó, lượng thịt Nhím được tiêu thụ khá cao tại các
nhà hàng đặc sản.
Do điều kiện về thời gian có hạn nên chúng tôi chỉ điều tra qua thị
trường Nhím thịt tại địa bàn Hà Nội và một số địa điểm. Những thông tin
này chỉ được coi là chỉ dẫn sơ bộ cho việc phân tích nhu cầu về Nhím
giống trên thị trường.
Thịt Nhím đã và đang được tiêu thụ tại một số nhà hàng đặc sản với số
lượng tiêu thụ khá lớn, theo điều tra của chúng tôi thì nhu cầu này ngày
càng tăng. Cụ thể:
• Bán đảo Tây Hồ (449 Lạc Long Quân) ở đây chuyên làm các món
đặc sản về rừng. Mỗi ngày nhà hàng tiêu thụ được 2 con nhím. Số
lượng này còn tăng cao hơn nữa vào những tháng cuối năm.
• Phố núi (52 Nguyễn Chí Thanh) trung bình nhà hàng tiêu thụ khoảng
5 con/tháng. Nhưng vào 3 tháng cuối năm thì lượng tiêu thụ thịt
nhím tăng lên 8 – 10 con.
• Tập trung nhiều nhà hàng đặc sản thú rừng (cuối đường Láng Hoà
Lạc ngã ba đi Xuân Mai và Sơn Tây) khả năng tiêu thụ của một số

giá Nhím giống là 350.000đ/kg trong khi giá Nhím thịt vào khoảng
200.000đ/kg).
Như vậy, cầu về Nhím thịt trên thị trường là rất lớn, số lượng Nhím nuôi
chưa thể đáp ứng được đủ cho nhu cầu thị trường mà nguyên nhân chính
của vấn đề này là không có Nhím giống, bởi lượng cung cấp về Nhím
giống là không đáng kể.

Trang tr¹i "Lµng NhÝm Cóc Ph¬ng"

13


Chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội
2. Thị trường Nhím giống.
Hiện nay, lượng Nhím giống chưa đáp ứng đủ được nhu cầu của thị
trường.
Theo điều tra của chúng tôi tại địa điểm đặt dự án là xã Cúc Phương thì
Nhím giống tại xã đang rất khan hiếm, nhiều hộ gia đình có nhu cầu nuôi
Nhím nhưng không thể tìm mua được Nhím giống. Cả xã hiện nay mới chỉ
có 14 hộ nuôi Nhím với số lượng khoảng 60 con.
Theo ý kiến của một số người dân có nuôi Nhím tại xã thì:
- Cúc Phương mới chỉ đáp ứng được tối đa khoảng 8 – 9% nhu cầu
của thị trường (số lượng người hỏi mua rất nhiểu).
- Trong vòng 10 năm nữa, nhu cầu về giống Nhím vẫn chưa thể bão
hoà. (Xem chi tiết trong hộp ý kiến - Phụ lục số 1).
III. Phân tích cung thị trường.
1. Phân tích ngành.
Bởi đây là một loại hình kinh doanh tương đối mới nên các đối thủ cạnh
tranh trong lĩnh vực này của dự án có sức ép không đáng kể. Tuy nhiên,
bên cạnh đó dự án lại phải chịu sức ép khá lớn của các đối thủ tiềm ẩn.


đến.
-

Kỹ thuật chăn nuôi tương đối tốt.

• Đánh giá:
- Bởi các trung tâm này đều là các cơ sở quốc doanh nên họ
chưa chú trọng đúng mức đến vấn đề quảng bá hình ảnh của
trung tâm tới khách hàng, chính vì vậy nên chưa được nhiều
người biết đến. Nhãn hiệu của trung tâm được người dân biết
đến chủ yếu là do những thông tin truyền miệng.
- Các hoạt động Marketing của hai trung tâm này còn yếu, đặc
biệt trong việc mở rộng mạng lưới phân phối và các hoạt động
quảng bá thương hiệu. Cụ thể khi chúng tôi hỏi những người
dân có nhu cầu mua Nhím ở Xã Cúc Phương thì mới chỉ có
một số ít người (khoảng 20%) biết đến hai trung tâm này.
- Vì đây là các trung tâm của Nhà nước nên việc quan tâm chăm
sóc Nhím còn kém, chưa đúng mức (một người phải chăm sóc
hơn 100 con Nhím nên việc theo dõi Nhím, phát hiện Nhím có
bệnh là tương đối khó).
- Ở hai trung tâm này tỷ lệ phối giống thường là 1:1 nên chi phí
Trang tr¹i "Lµng NhÝm Cóc Ph¬ng"

15


Chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội
chăn nuôi cao.
 Công ty ANFA: Chuyên gia tư vấn đầu tư dự án và quản lý nông

Trang tr¹i "Lµng NhÝm Cóc Ph¬ng"

16


Chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội
phân tán nên việc cung ứng chủ yếu chỉ ở chính địa phương
của họ.
- Bởi không có nhân viên được hướng dẫn cụ thể nên kỹ thuật
chăn nuôi của họ không được tốt.
- Số lượng Nhím của các hộ nuôi nhỏ, kỹ thuật phối giống chưa
tốt nên khi phối giống đến đời con F2, F3... rất dễ xảy ra hiện
tượng phối giống cận huyết, gây thoái hoá giống.
- Hộ gia đình vì quy mô nhỏ, lẻ lại thêm thiếu thông tin tiêu thụ
của thị trường.
1.2. Đối thủ tiềm ẩn.
Do đây là loại hình kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế cao nên việc
xuất hiện những đối thủ cạnh tranh mới là điều không thể tránh khỏi. Đối
thủ cạnh tranh mới chủ yếu là những cá nhân, tập thể có khả năng về tài
chính mở ra những mô hình trang trại giống của chúng tôi. Sức ép của dự
án từ các đối thủ tiềm ẩn chủ yếu đến từ các đối tượng này.
Ngoài ra, đối thủ tiềm ẩn còn là các hộ gia đình nuôi Nhím mới tăng lên.
Tuy nhiên, sức ép của các đối thủ này đều có quy mô nhỏ, địa bàn phân tán
và họ khó có khả năng liên kết với nhau để mở rộng thị trường.
Tuy nhiên, khi các đối thủ này xuất hiện thì việc chiếm lĩnh thị trường
không phải là vấn đề đơn giản. Chúng tôi sẽ đẩy mạnh các hoạt động
Marketing để trang trại ngày càng được nhiều người biết đến. Trang trại
cũng sẽ chú ý đến chất lượng giống để nâng cao uy tín, tạo sự tin tưởng
tuyệt đối cho khách hàng đối với sản phẩm của trang trại chúng tôi.
1.3. Sản phẩm thay thế.

2.2.2. Điểm yếu.
- Trang trại mới thành lập nên cần một khoảng thời gian để khách
hàng biết đến và tin tưởng vào chất lượng giống mà trang trại
cung cấp.
- Khó có thể tạo được các kênh bán hàng rộng rãi do địa bàn cung
cấp sản phẩm của dự án trải rộng và khả năng tài chính còn hạn chế.
- Thiếu kinh nghiệm trong quản lý.
2.2.3. Cơ hội.
- Thị trường sản phẩm rất lớn và hiện tại còn đang bị bỏ ngỏ.
- Các đối thủ chưa có kế hoạch Marketing hiệu quả, chưa có đối
Trang tr¹i "Lµng NhÝm Cóc Ph¬ng"

18


Chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội
thủ nặng ký.
- Nhà nước đang có nhiều chính sách ưu đãi cho việc phát triển mô
hình “Kinh tế trang trại”.
- Địa phương đang có dự án phát triển việc nuôi Nhím.
2.2.4. Thách thức.
- Cạnh tranh về việc cung cấp Nhím giống sẽ trở nên gay gắt, đặc
biệt là khi cầu về Nhím giống bão hoà.
- Xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh mới.

Trang tr¹i "Lµng NhÝm Cóc Ph¬ng"

19





Chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội
giống thấp: Chi phí thức ăn và nhân công thấp, chúng tôi áp dụng mô hình
chuyên môn hoá trong chăn nuôi, phân công lao động cụ thể. Đối tượng
khách hàng mục tiêu lại là các hộ gia đình, với mỗi biến động về giá đều
được tính đến thì cách định giá như này là phù hợp.
Tuy nhiên, mức giá đặt ra sẽ không thấp hơn nhiều so với đối thủ cạnh
tranh để tránh cạnh tranh giảm giá cả.
Với cách định giá trên cộng với việc phân phối trực tiếp tới khách hàng
và xúc tiến mạnh mẽ sẽ thu hút được nhiều khách hàng.
Chất lượng giống nhím ổn định, giá cả hợp lý, ít biến động sẽ tạo được
sự tin cậy nơi khách hàng.
Chiến lược giá khi mới kinh doanh là chiến lược “Bám chắc thị trường”
đặt giá thấp hơn để giành thị phần nhưng vẫn đảm bảo có lãi do tận dụng
được lợi thế quy mô trang trại lớn.
3. Phân phối và bán hàng.
Do đặc thù của ngành kinh doanh nên chúng tôi chủ yếu tập trung vào
kênh phân phối trực tiếp.
Nhím giống từ
trang trại

Khách hàng

Hình thức:
Khách hàng sẽ phải hợp đồng và thanh toán 20% giá trị hợp đồng trước
với trang trại để có thể được cung cấp Nhím giống.
Khi Nhím đến tuổi trưởng thành có thể xuất chuồng, sau khi được kỹ
thuật viên kiểm tra và hạt kiểm lâm cấp giấy xác nhận Nhím sẽ được cung
cấp cho khách hàng.

nhập thêm, hơn thế, nhằm phổ biến kỹ thuật nuôi Nhím tới cộng
đồng nhân dân và mời một số cơ quan có uy tín đến tham quan
trang trại.

Trang tr¹i "Lµng NhÝm Cóc Ph¬ng"

22


Chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội
II. Kế hoạch sản xuất.
1. Thiết kế trang trại
Diện tích đất mà xã Cúc Phương cho trang trại chúng tôi thuê là
1000m2. Trong đó, diện tích dùng để xây dựng chuồng trại là 500m 2 với 4
dãy chuồng, mỗi dãy có 50 ngăn chuồng. Diện tích còn lại, chúng tôi dùng
để xây dựng:
- 1 phòng quản lý để làm văn phòng cho cán bộ quản lý và nhân viên
làm việc, điều khiển các hoạt động chung của trang trại.
- 1 phòng bảo vệ.
- 1 nhà kho để chứa dụng cụ lao động và dự trữ thức ăn.
- 1 bể Biogas để xử lý chất thải, tránh gây ô nhiễm môi trường.
( Chi tiết bản thiết kế trang trại xem trong phụ lục số 2).
2. Xây dựng chuồng trại.
Xây dựng chuồng trại trong chăn nuôi là cần thiết và càng quan trọng
hơn trong chăn nuôi Nhím. Mặc dù đã được con người nuôi dưỡng nhưng
chúng còn mang nặng tính hoang dã và còn nguyên vẹn phản xạ tự nhiên
luôn chạy trốn trước những biến động đột ngột. Vì vậy, yêu cầu chuồng trại
phải được đảm bảo các yếu tố sau:
Thứ nhất, trang trại của chúng tôi dự định nuôi Nhím với quy mô đàn là
25 con đực và 75 con cái. Với tỷ lệ sinh sản của Nhím mỗi năm 2 lứa và

trang trại chúng tôi là chọn giống.
Để nuôi được nhím và nhím cho năng suất cao thì cần quan tâm tới vấn
đề: Khi chọn giống cần chọn những con to, khoẻ, nhanh nhẹn, không bệnh
tật. Theo kinh nghiệm chọn giống thì nên chọn các con giống có trọng
lượng tối đa là 8kg, không mua nhím giống trên 10kg, thường là con bị tật
không sinh sản được và là những con đã quá trưởng thành (con cơ bản).
Cách chọn giống được tiến hành như sau:
Đối với những con trưởng thành thì cách chọn con đực là: con đực có
mỏ dài, đầu nhọn, thân hình thon dài, đuôi dài hơn con cái dưới háng có hai
Trang tr¹i "Lµng NhÝm Cóc Ph¬ng"

24


Chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội
dịch hoàn và dương vật nhô ra phía trước bụng cách lỗ hậu môn 4 – 5 cm.
Còn đối với con cái thì nhím cái có mỏ ngắn, đầu hơi tròn, thân ngắn, mập
hơn con đực.
Như vậy, việc chọn nhím giống là rất quan trọng. Khi chọn mua giống
thì cần có nhân viên kỹ thuật lựa chọn để tránh khi mua về sẽ bị nhầm giữa
con đực và con cái. Một cách tốt nhất để có thể phân biệt được con đực và
con cái là cắt một bên tai của con đực. Việc làm này cũng không gây ảnh
hưởng đến sức khoẻ của nhím đực.
Sản phẩm của trang trại chúng tôi là nhím giống nên sẽ được tổ chức
nuôi tập trung với số lượng lớn để có thể giảm được tối đa chi phí về thức
ăn, tận dụng nguồn lao động để theo dõi và chăm sóc nhím hằng ngày cũng
như công việc vệ sinh chuồng trại đảm bảo yêu cầu về môi trường cho
nhím sống và phát triển tốt (1 lao động có thể chăm sóc được 40 – 45 con
nhím), hơn thế, còn đảm bảo được chất lượng giống tốt do trang trại có
thêm đội ngũ kỹ thuật viên theo dõi nhím trong mùa sinh sản và bảo tồn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status