Thiết kế phương án tổ chức thi công tuyến đường từ quốc lộ 49b đi biển điền lộc đoạn từ cọc km0 cọc 67 km0 km1 302,53 - Pdf 34

PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Giao thông vận tải là một trong những ngành quan trọng trong công cuộc
công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, đó là một trong những ngành được ưu
tiên phát triển đi trước để hỗ trợ các ngành khác. Nó trở thành một ngành tiên
phong mở đường cho sự phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội,….trong các vùng
trên cả nước.
Hệ thống đường giao thông nông thôn không chỉ là những tuyến đường
huyện để nối các trung tâm huyện với các xã hoặc nối các trung tâm xã với
nhau, hoặc những tuyến đường xã để nối các trung tâm thôn, xóm mà còn là
những tuyến đường liên thôn, liên xóm dùng để nối các thôn, các xóm với nhau,
kể các đường mương, đường bờ vùng, bờ thửa , … để nối các thôn, xóm dân cư
với đồng ruộng, nương rẫy phục vụ đời sống dân sinh tại các vùng nông thôn mà
xe máy, xe thô sơ có thể đi lại được. Tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế - xã
hội cho mỗi khu vực, mỗi vùng miền và mỗi địa phương.
Thừa Thiên Huế là một tỉnh ven biển nằm ở vùng Bắc Trung Bộ Việt
Nam có tọa độ 16-16.8 Bắc và 107,8-108,2 Đông. Diện tích là 5.053,990 km².
Phía Bắc giáp với tỉnh Quảng Trị, phía Đông Nam giáp với tỉnh Quảng Nam,
phía Nam giáp với phố Đà Nẵng, phía Đông giáp với biển Đông, phía Tây giáp
với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Với sự phát triển không ngừng về
mặt kinh tế đã làm thay đổi diện mạo của tỉnh, với những con đường được làm
mới, được sửa chữa và nâng cấp.Theo số liệu của “ Sở giao thông vận tải Tỉnh
Thừa Thiên Huế ” năm 2009, tổng chiều dài là 4.791,2 km, gồm : đường bê tông
xi măng : 1.226,5 km, đường bê tông nhựa :562,9 km, đường đá dăm láng
nhựa: 659,8 Km, Đường cấp phối : 923,4 Km, loại khác: 1.418,7 Km. Dù đã
được đầu tư song vẫn tồn tại những mặt hạn chế : khó đi vào mùa mưa, chưa có
sự đồng bộ giữa từng địa phương. Do hệ thống đường giao thông có tầm quan
trọng như vậy, nên trong việc thực hiện thi công các công trình cần được nghiên
cứu và đưa ra phương án tốt nhất cho mỗi công trình. Để cho công trình được
xây nhanh nhất nhưng phải đảm bảo chất lượng.Vì vậy, với những vấn đề đã
phân tích, tôi chọn đề tài: “Thiết Kế Phương án Tổ Chức Thi Công Tuyến
Đường Từ Quốc Lộ 49B Đi Biển Điền Lộc Đoạn Từ Cọc Km0 – Cọc 67 :

Theo số liệu thống kê, đến 01/7/2011 cả nước đã có 8940 xã, chiếm
98,6% tổng số xã cả nước đã có đường ô tô đến trung tâm xã (tăng 2,3% so với
năm 2006), trong đó đi lại được 4 mùa là 8803 xã, chiếm 97,1% ( tăng 3,5% so
với năm 2006); trong đó xã có đường ô tô đến trung tâm xã đã được nhựa hóa,
bê tông hóa là 7917 xã chiếm 87,3% (tăng 17,2% so với năm 2006). Một điều
đáng chú ý là không chỉ đường đến trung tâm huyện, xã được chú trọng mà
đường đến các thôn, bản miền núi cũng được các cấp chính quyền hết sức quan
tâm đầu tư với số liệu rất ấn tượng đó là có tới 89,5% số thôn, bản có đường ô tô
2


đến được. Điều đó góp phần thay đổi cuộc sống của người dân nơi vùng cao vốn
chịu nhiều thiệt thòi về điều kiện thời tiết, thổ nhưỡng cũng như văn hóa xã hội.
So với năm 2005, tổng số chiều dài km đường giao thông nông thôn tăng thêm
34.811km; trong đó số km đường huyện tăng thêm 1.563km, đường xã tăng
17.414km và đường thôn xóm tăng 15.835km từ những nguồn vốn đầu tư cho
giao thông nông thôn rất đa dạng được huy động từ nhiều nguồn: Ngân sách
trung ương, ngân sách địa phương (chiếm khoảng 50% phần dành cho cơ sở hạ
tầng giao thông của các tỉnh); vốn ODA (các chương trình hạ tầng nông thôn
dựa vào cộng đồng của WB, Chương trình giảm nghèo Miền trung của ADB hay
Giao thông nông thôn của Ngân hàng thế giới WB); vốn huy động của doanh
nghiệp, tín dụng và của cộng đồng nhân dân. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và
đầu tư, các ngồn vốn đầu tư cho giao thông nông thôn trong 10 năm qua ước
tính khoảng 170.000-180.000 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước chiếm
khoảng 70% tổng nguồn vốn được huy động; vốn huy động từ cộng đồng, doanh
nghiệp chiếm khoảng 10-15% tổng nguồn vốn, kể cả việc huy động từ đóng góp
của cộng đồng dân cư để đầu tư; ngoài ra các địa phương còn huy động từ các
nguồn khác như thu phí sử dụng đất, thu sổ số kiến thiết… Chỉ tính riêng giai
đoạn 2003 đến năm 2010, cả nước đã đầu tư 749 dự án đường giao thông đến
trung tâm xã trên địa bàn các xã nông thôn, miền núi thuộc các vùng: Trung du

các cấp nhằm phát huy tối đa hiệu quả các dự án hoàn thàng đưa vào khai thác.
Đào tạo cán bộ kỹ thuật theo dõi, giám sát,hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ,
tập huấn cho cán bộ xã, huyện phụ trách giao thông, quy hoạch bằng các hình
thức đào tạo, kết hợp giữa đào tạo với thực hành nhằm nâng cao trình độ quản lý
và trình độ kỹ thuật.
2.1.4. Sự cần thiết phải nâng cấp và làm mới đường giao thông trong nước
hiện nay .
- Từ khi nền kinh tế việt nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập
trung sang nền kinh tế thị trường thì bức tranh kinh tế của việt nam có nhiều
điểm sáng,mức sống của người dân cải thiện, được bạn bè các nước trong khu
vực và quốc tế hết lòng ca ngợi về những thành tựu đổi mới trong quá trình xây
dựng đất nước. Trong đó nghành giao thông đóng vai trò quan trọng khi vừa là
cầu nối giữa các lĩnh vực trong xã hội ( kinh tế, chính trị, quốc phòng, văn hóadu lịch …) vừa thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
Nhưng thực tế tại các địa phương lại cho thấy hệ thống nông thôn chưa theo kịp
với tốc độ phát triển và tiềm lực của vùng kinh tế sản xuất nông lâm ngư nghiệp.
Hệ thống đường giao thông nông thôn chưa được phủ kín và chưa có sự kết nối
liên hoàn từ hệ thống đường tỉnh, đường huyện xuống nông thôn nhất là đối với
vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo. Ngoài ra tiêu chuẩn kỹ thuật còn
thấp, chủ yếu là đường một làn xe, an toàn giao thông còn nhiều bất cập như :
thiếu hệ thống biển báo, tình trạng hành lang an toàn giao thông đường bộ bị lấn
chiếm để phơi rơm rạ, bề rộng mặt đường hẹp, tầm nhìn người lái bị hạn chế,
nhiều dốc cao và nguy hiểm, chưa đồng bộ trong thiết kế cầu cống và đường
Hiện nay, tỷ lệ mặt đường là đất và cấp phối còn chiếm tỉ lệ cao, gây khó khan
cho đi lại và vận chuyển hang hóa vào mùa mưa. Trước tình hình đó cần phải
tiến hình nâng cấp và làm mới đường giao thông nông thôn hòa nhập vào tiến
trình đổi mới của đất nước trong giai đoạn hiện nay.
4


2.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.2.2. Phương pháp thu nhập tài liệu.
Thu nhập các số liệu về điều kiên tự nhiên, tình hình phát triển kinh tế xã
hội của khu vực tuyến đường đi qua và thu nhập các số liệu liên quan đến tiến
hành tính toán thiết kế tuyến đường.
3.2.3. Phương pháp tính toán.
Sử dụng các hệ thống tiêu chuẩn việt nam đối với các công trình giao
thông để đưa vào tính toán, xác định các chỉ tiêu kỹ thuật cho tuyến đường.
3.2.4. Phương pháp đo vẽ, thiết kế.
Sử dụng các phần mền như : auto cad, nova để lập các bản vẽ thiết kế.

6


PHẦN 4. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Khảo sát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội nơi tuyến đường đi qua.
4.1.1. Khảo sát điều kiện tự nhiên.
4.1.1.1 Vị trí địa lý.
Nằm ở vị trí trung tâm của xã Điền Lộc, cũng là trung tâm của các làng
vùng Ngũ Điền. Cách trung tâm Tỉnh lỵ Thành phố Huế 35km về hướng Đông
Bắc, cách trung tâm Huyện lỵ Thị Trấn Phong Điền 15km về hướng Đông.
Đất xã hình chữ nhật chiều dài 2km , chiều rộng 3,2km, ngoài ra còn có
một số diện tích ở phía Tây Nam 0,6km2 mặt trước Làng Thế Chí Tây, ở phía
Tây Bắc là 1,5km2 mặt trước Làng Kế Môn.
Tổng thể diện tích tự nhiên có 8,5km2, trong đó có 250ha đất canh tác
dành cho trồng lúa và 50ha đất dành cho trồng rau màu.
4.1.1.2. Đặc điểm địa hình
Chạy theo hướng tây bắc – đông nam, từ làng Trung Đồng (giáp ranh
Quảng Trị) đến hai xã Điền Hải và Phong Hải của huyện (giáp ranh Quảng
Điền) dài gần 16km, cao độ 28-30m, rộng từ 3.000 đến 5.000m ở phía bắc và
thu hẹp dần về phía nam. Do gió biển, vùng này thường xuyên hình thành những

nhiệt giữa hai miền Bắc Nam: từ đây trở ra đến biên giới phía Bắc là khí hậu gió
mùa nội chí tuyến, có mùa Đông lạnh, trong khi từ đây trở vào Nam là khí
hậu gió mùa á xích đạo không có mùa Đông lạnh. Ở Điền Lộc không có mùa
Đông lạnh thực sự và kéo dài như ở Bắc bộ mà chỉ có thời tiết lạnh.
Các yếu tố khí hậu :
- Gió Trong năm chịu sự khống chế của hai mùa gió chính là gió mùa
Đông và gió mùa Hè. Gió mùa Đông (từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau) hướng
thịnh hành là tây bắc và đông bắc, mang lại thời tiết xấu, lạnh và gây mưa. Gió
mùa Hè (từ tháng 3,4 đến tháng 9) còn gọi là gió Lào mang lại thời tiết khô và
nóng.
Ngoài ra còn có gió Đông và Đông Nam ( tức Nồm, còn gọi là gió ấm)
đem lại thời tiết tốt trong các tháng chuyển tiếp 3-4, 8-9, và ngay cả trong mùa
Đông, giữa hai đợt gió chính.
- Mưa : Có lượng mưa trung bình năm gần 3.000 mm, tăng dần từ đông
sang tây, từ đồng bằng lên vùng núi. Lượng mưa trong năm tập trung chủ yếu
vào mùa mưa chính từ tháng 9 đến tháng 12, chiếm đến 72-75% lượng mưa
năm. Tám tháng còn lại chỉ chiếm 25-30%. Đây là nguyên nhân chủ yếu gây
tình trạng ngập lụt vào mùa mưa và thiếu nước, khô hạn vào mùa hè.
- Nhiệt độ : Có nền nhiệt độ cao. Nhiệt độ trung bình năm trên đại bộ
phận lãnh thổ đạt 20-25oC, trung bình tháng lạnh nhất (tháng giêng) là 19-20 oC,
tháng nóng nhất (tháng bảy) là 29,4 oC. Nhiệt độ cao nhất vào mùa hè đạt 4041oC, thấp nhất vào mùa Đông xuống 8-9oC.
- Bão, dông, lốc, sương mù :Chịu ảnh hưởng của bão nhiều nhất vào tháng
9 (35%), tháng 10 (28%) và tháng 8 (18%). Có năm không có cơn bão nào,
8


nhưng có năm 3-4 cơn liên tiếp. Nhìn chung số lượng bão không nhiều nhưng
thiệt hại gây ra rất nghiêm trọng vì gió mạnh kèm theo mưa to và rất to, gây lũ
lụt lớn và sạt lở bờ biển.
Ngoài bão còn có dông là hiện tượng phóng điện (sấm sét) thường xảy ra


9


đông bắc, là ranh giới Thừa Thiên Huế và Quảng Trị. Từ Vân Trình, sông đổi
hướng đông nam để vào phá Tam Giang.
Lưu vực sông Ô Lâu có diện tích 900km 2, sông chính dài 66km, độ cao
đầu nguồn 900m trên mực nước biển, dộ dốc trung bình 13,1m/km. Ô Lâu là
sông có nhiều nước, hằng năm đổ vào phá Tam Giang một lượng trung bình 576
triệu m3 nước, trong đó bốn tháng mùa mưa lũ chiếm 424 triệu m 3(73,6%) và
tám tháng còn lại chỉ 152 triệu m3 (26,4%).
Phá Tam Giang :
- Phá Tam Giang đại bộ phận nằm trong lãnh thổ huyện Quảng Điền, ở
Phong Điền chỉ có một dải hẹp ven bờ đông thuộc địa phận Điền Hòa và Điền
Hải, chiếm một diện tích khiêm tốn chưa đầy 1.00ha so với diện tích 5.200ha
của toàn phá. Tuy nhiên vì đây là vùng cửa sông Ô Lâu, nơi tiếp nhận nguồn
phù sa phong phú, thuận lợi về môi trường sinh sống và phát triển, nên tài
nguyên động thực vật khá dồi dào và đa dạng.
4.1.1.5 Tài nguyên môi trường :
Thực vật.
Do hoàn cảnh địa lý tự nhiên thuận lợi, khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mưa
nhiều, ánh sáng đầy đủ, lại có địa hình đất đai phân hóa từ đông sang tây gồm cả
bờ biển, đầm phá, đồng bằng và đồi núi, nên thảm thực vật Phong Điền khá đa
dạng, phong phú và xanh tốt quanh năm. Từ núi xuống biển, do khác nhau về
điều kiện sinh thái, hình thành những thảm thực vật khác nhau về ngoại hình, về
thành phần và loài giống.
Thảm thực vật vùng ven biển
Nằm trên dải bờ biển thuộc các xã vùng Ngũ Điền và Phong Hải. Sườn
hướng ra biển có cây rau muống biển, dừa cạn, cỏ lông chông. Ở lưng chừng
sườn là thực vật hoang dại như xương rồng, dứa dại và phi lao do con người

nhưng chắc chắn số dân đó không ít hơn số dân nội tại trong Làng hiện nay.
Cơ sở hạ tầng .
- Nhiều hạng mục cơ sở hạ tầng đã và đang được đầu tư xây dựng. Các
tuyến đường liên thôn, liên xã phát triển mạnh mẽ. Rõ hơn là các khu trung tâm
cụm xã An Lỗ, Phong An, Phong Hiền, Điền Lộc ngày một sáng, đẹp.
Giao thông phát triển, nhiều ngôi nhà mới khang trang dọc các tuyến
đường mọc lên, tạo bức tranh mới sinh động cho bộ mặt đô thị ở Phong Điền.
Cùng với đó, nhiều tuyến đường kết hợp giao thông, thủy lợi, cứu hộ, cứu nạn ở
Phong Điền đã và đang triển khai, là động lực thúc đẩy các xã vùng Ngũ Điền
phát triển. “Xã đã và đang đầu tư mạnh, tạo bộ mặt mới đô thị loại V theo mục
tiêu đã đề ra. Bên cạnh đầu tư cơ sở hạ tầng, xã tiếp tục đầu tư mở rộng, nâng
quy mô hoạt động bãi tắm Điền Lộc, tạo điều kiện thu hút khách du lịch. Một dự
án lớn trọng điểm là Khu cảng biển Mỹ Hòa - Điền Lộc, hứa hẹn góp phần làm
cho khu trung tâm cụm xã Điền Lộc thêm sôi động.
4.2. Số liệu thiết kế.
11


4.2.1 Quy mô và tiêu chuẩn kỹ thuật.
Tiêu chuẩn thiết kế đường giao thông nông thôn loại B/315- Bộ Giao
Thông Vận Tải.
- Chiều rộng nền đường: 2.75+0.5x2 = 3.75 m
- Chiều rộng mặt đường: 2.75m
- Quy mô công trình: vĩnh cửu
- Tải trọng thiết kế: H13 –X60
- Khổ công trình bằng chiều rộng nền đường.
- Độ dốc ngang của mặt đường: imặt= 1%
- Độ dốc ngang của lề đường: ilề = 4%
- Độ dốc taluy đắp : italuy đắp= 1/1.5
- Độ dốc taluy đào : italuy đào= 1/1.5

các hoạt động của các khu vực xung quanh.
- Trên tổng thể mặt bằng thể hiện vị trí xây dựng các hạng mục công trình,
vị trí các trang thiết bị máy móc, bãi tập kết, đá, sỏi… bãi gia công cốp pha, cốt
thép, kho xi măng, dụng cụ thi công, các tuyến đường tạm thi công, hệ thống
nhà ở, lán trại tạm cho các kỹ sư, hoặc các công nhiên viên của công ty.
- Cố gắng giảm bớt chi phí tổn thất vân chuyển trong quá trình xây dựng,
hệ thống giao thông trong công trường phải thuận lợi. Khi bố trí các xí nghiệp
phụ, các khu bãi, lán trại … được tính toán phù hợp với kinh phí và diện tích
chiếm đất cho việc xây dựng các công trình hạng mục tạm là nhỏ nhất.
4.2.4 Chọn biện pháp thi công cho các hạng mục công trình

13


- Cho đến nay, người ta có thể chia phương pháp tổ chức thi công, công
trình thành phương pháp chính: Phương pháp tuần tự, Phương pháp song song
và phương pháp dây chuyền.
4.2.5. Phương Pháp tuần tự.
- Qúa trình thi công được tiến hành lần lượt từ đối tượng này sang đối
tượng khác theo một trật tự đã quy định Ttt=m.t1
Trong đó:
- m: phân đoạn công trình.
- t1 :thời gian thực hiện từng phân đoạn.
- Ttt : thời gian thực hiện tuần tự m phân đoạn.
Ưu điểm : dễ tổ chức sản xuất và quản lý chất lượng, chế độ tài nguyên
thấp và ổn định.
Nhược điểm : thời gian thi công kéo dài, tính chuyên môn hóa thấp, giá
thành cao.
4.2.6. Phương pháp song song
Các sản phẩm xây dựng được bắt đầu thi công cùng một thời điểmvà kết

Sản xuất dây chuyền trong xây dựng có hai đặc điểm cơ bản sau :
- Phải chuyển các tổ thợ với các trang thiết bị kèm theo trong không gian
công trình từ bộ phận này sang bộ phận khác, từ công trình này sang công trình
khác
- Các dây chuyền sản xuất hầu hết ngắn hạn, thời gian ổn định ít hoặc
không ổn định, nghĩa là sau một khoản thời gian không dài lắm người ta tổ chức
lại để xây dựng công trình khác.
- Ngoài ra, còn phương pháp hòa hợp là phương pháp kết hợp cả ba
phương pháp trên được áp dụng công trình thi công ở những nơi có điều kiện thi
15


công khó khăn, vùng xa dân cư thiếu nhân lực, khó vận chuyển máy móc và vật
tư xây dựng …
4.3. Công tác chuẩn bị thi công.
4.3.1. Thiết kế biện pháp tổ chức thi công.
- Thi công bằng máy kết hợp với thủ công.
- Thi công đúng theo tiêu chuẩn kỹ thuật của hồ sơ mời thầu.
- Thi công tập trung tránh dàn trải.
- Dựng biển báo cấm hoặc chỉnh dẫn lối đi.
- Dựng các rào chắn, biển báo hạn chế tốc độ, đèn chiếu sang vào ban
đêm trong khu vực đang thi công.
- Thi công vào mùa nắng ráo đê đảo bảo nền đường được ổn định khi lu lèn.
- Phải kiểm tra các chỉ tiêu của cấp phối đá dăm, bê tông trước khi thi công.
- Thi công nền đường, mặt đường và các công trình khác phải được thí
nghiệm kiểm định chất lượng vật liệu, kết cấu,…
- Trong quá trình thi công nếu phát hiện ra những sai sót so với hồ sơ thiết
kế thì đơn vị thi công cần phải báo cáo cho chủ đầu tư, đơn vị tư vấn thiết kế và
các đơn vị khác có liên quan để phối hợp xử lý.
4.3.2. Công tác khôi phục cọc và định phạm vi thi công.

thực hiện. Vì lớp đất này có cường độ thấp, không thích hợp để làm nền đường
nên được bóc vỏ và được vận chuyển đến nơi khác hoặc được chuyển đến nơi
trồng trọt.
4.3.4. Công tác lên khuôn đường.
Công tác này nhằm mục đích cố định vị trí tuyến của mặt cẳt ngang nền
đường trên thực địa, để đảm bảo thi công nền đường đúng thiết kế.
4.4. Thi công nền đường.
4.4.1. Thi công bóc phong hóa.
Sau quá trình chuẩn bị, Nhà thầu sẽ tiến hành bóc phong hóa. Công việc
bóc đất phong hóa được tiến hành bằng máy ủi. Bóc bỏ lớp đất hữu cơ phía trên,
gỡ bỏ hoặc di dời các chướng ngại vật ảnh hưởng đến quá trình thi công, xử lý
các đoạn đường yếu .Bằng máy ủi, chúng ta vừa bóc phong hóa và dồn thành
đống, sau đó sử dụng máy xúc và ô tô vận chuyển đến bải thải vật liệu đã được
thỏa thuận từ trước. .
4.4.2. Thi công nền đường.
- Công tác đắp đất nền đường
Trước khi thi công phải, việc chọn loại đất đắp nền đường là rất quan
trọng, để đảm bảo tính ổn định, không lún, không bị biến dạng hoặc bị trượt sau
khi hoàn thành nền đường.
Xác địn các thành phần hạt và độ ẩm của đất để tìm ra thiết bị thi công
phù hợp, để phục vụ công tác đầm nén.
- Công tác đắp đất nền đường đắp hoàn toàn.
Trên từng lớp đất đắp chỉ dùng một loại đất đồng nhất về các chỉ tiêu cơ
lý đã được kiểm duyệt.
17


Đất đắp thành từng đống đã được tính toán trước, dùng máy ủi sang
thành từng lớp và tiến hành lu ngay khi đất còn độ ẩm tốt nhất.
Dùng xe lu đầm đến độ chặt thiết kế.



Dùng máy san, nhân công để thực hiện công việc gọt lại mép của khuôn
đường.
Thường xuyên kiểm tra độ ẩm cấp phối so sánh độ ẩm cấp phối tốt nhất
để kịp thời bổ sung nước. Kiểm tra độ chặt của lớp cấp phối lớp dưới đúng độ
chặt yêu cầu để tiến hành thi công lớp cấp phối tiếp theo.
4.5. Thi công mặt đường.
4.5.1. Đặc điểm của thi công mặt đường.
- Khối lượng công việc phải phân bố đều trên toàn tuyến.
- Quá trình thi công phụ thuộc và điều kiện khí hậu.
- Thi công mặt đường đúng với bản vẽ thiết kế.
- Tốc độ thi công không thay đổi trên toàn tuyến.
4.5.2. Điều kiện thi công.
- Tiến hành đào, đắp, vận chuyển đất.
- Tươi nước tạo dính bám giữa các lớp đắp đất.
- San rải đất.
- Đầm nén đất.
4.5.3. Trình tự thi công
- Thi công mặt đường BTXM M200 dăm 2x4 dày 20cm
- Thi công đệm cát dày 3cm
- Đắp đất cấp phối đối K95 dày 30cm
- Đào khuôn đường
- Bù BTXM M200
- Quét nhựa đường giữa mép bê tông cũ và mới.
- Thi công lớp giấy dầu.
- Thi công lớp mặt đường bê tông xi măng.
- Đắp đất phụ lề, hoàn thiện.
- Vật chuyển vật liệu cấp phối đá dăm (CPĐD) từ nguồn cung cấp về bãi
chứa tại chân công trình bằng ô tô chuyên chở.

- Độ dốc ngang : Theo độ dốc ngang của mặt đường tại điểm đó.
Lòng đường phải bằng phẳng, lu lèn đạt độ chặt K = 0,95

20


4.5.4.3 Công tác lu lèn lòng đường.
Trước hết ta cần dãy cỏ, bóc đất hữu cơ.
Đánh cấp sườn đồi hoặc mặt đường cũ. Mỗi cấp có độ nghiêng vào trong
là 2% chiều rộng mỗi cấp tối thiểu là 1m. Và nếu đánh cấp bằng máy thì mỗi
cấp phải rộng tối thiểu bằng bề rộng lưỡi ủi.
Đất đánh cấp tận dụng để đắp nền đường do đó khi đào cần có phương
pháp giữ lại đất dắp ở nền đường đắp.
Trên cơ sở ưu nhược điểm của các phương pháp xây dựng lòng đường
đắp lề hoàn toàn, đào lòng đường hoàn toàn, đào lòng đường một nữa đồng thời
đắp lề một nữa, chọn phương pháp thi công đắp lề hoàn toàn để thi công.
Với phương pháp thi công này, trước khi thi công đắp lề đất và các lớp
mặt đường bên trên, ta cần phải lu lèn lòng đường trước để đảm bảo độ chặt K =
0,95.
Bề rộng lòng đường cần lu lèn được tính bằng :
Blu= 2.75+0.5x2 = 3.75 m
Tính năng suất lu và số ca máy.
Năng suất đầm nén lòng đường của lu phụ thuộc vào hành trình lu trong
một chu kỳ và được xác định theo công thức :
P = ( km/ca )
Trong đó :
T: Thời gian làm việc trong 1 ca, T = 8h
Kt: Hệ số sử dụng thời gian, Kt = 0,75
L: Chiều dài thao tác của lu khi đầm nén L = 0,04 km
V: Tốc độ lu khi công tác là V = 2km/h

Đọc kỹ hồ sơ kỹ thuật thi công, sau đó kiểm tra lại cao trình, định vị tim
đường, theo đúng yêu cầu thiết kế.
Kiểm tra lại nền đường cấp phối đất đồi, dọn dẹp mặt bằng trước khi thi
công. Cấp phối đồi đắp được lấy từ mỏ đá.
Kiểm tra chất lượng và sàng tiêu chuẩn để xác định chất lượng đá đúng
yêu cầu, xác định dung trọng khô lớn nhất và độ ẩm tốt nhất của cấp phối đất
đồi.
Chuẩn bị các thiết bị phục vụ kiểm tra trong quá trình thi công.
4.5.4.5.1. Vận chuyển cấp phối đất sỏi đồi K95.
Móng cấp phối đất đầm K95 dày 30cm, đá được lấy tại mỏ đá được làm
sạch, đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, vận chuyển bằng xe tới công trường.
Ô tô vận chuyển xe Huyndai 14T, xe có bạt che phủ đảm bảo độ ẩm cho
cấp phối và tránh gấy ô nhiễm môi trường.
Vật liệu được đổ tại công trường từng đống theo cự ly 5m tới 7m.
Khối lượng vật liệu cần vận chuyển có tính đến hệ số rơi vãi khi xe chạy
trên đường, được tính như sau : Qvc = Q × K2 = 851,53 × 1,1 = 936,683 ( m3 )
Qvc : Khối lượng cần vận chuyển.
22


K2 : Hệ số rơi vãi . K2 = 1,1
Sử dụng xe huyndai 14T để vận chuyển vật liệu. Năng suất vận chuyển
của xe được tính theo công thức:
N = nht × P =
Trong đó :
P: Lượng vật liệu mà xe chở được lấy theo mức chở thực tế của xe, P
=14T = 8m3.
Nht: Số hành trình xe thực hiện được trong một cat hi công
T : Thời gian làm việc trong 1 chu kỳ, t=tb + td + tvc
Tb: thời gian bốc vật liệu lên xe, tb = 15 phút = 0,25h

có nhân công phụ làm, rải cấp phối thủ công để rải cấp phối bằng phẳng, đúng
độ dóc ngang, lu hoàn thiện xong ta phun bảo dưỡng 0,2 lít/m2.
- Vật liệu đất đắp lề được vận chuyển và được đổ thành đống với khoảng
cách giữa các đống. Dùng máy san D144 để san đều vật liệu trước khi lu lèn.
Chiều rộng san lấy tối đa đúng bằng chiều rộng phần lề thi công. Trên mỗi đoạn
thi công của mỗi bên lề tiến hành sau 3 hành trình.
Bảng 4.1. Khối lượng thi công mặt đường.
Hạng Mục
Đơn Vị
Mặt đường BTXM M200 Dày 20cm
m3
Bạt ni lông xanh đỏ
m2
Ván khuôn bê tông mặt đường
m2
Bù mặt đường cũ bằng BTXM M200
m3
Đệm cát dày 3cm
m2
Đắp đất K95 dày 30cm
m3
Đào đất nền đường
m3
Đào đất khuôn đường
m3
Đào rảnh thoát nước
m3
Đắp đất nền đường và lề đường K95
m3


Tiến hành thi công.
Bảng 4.2 Nội dung công việc thi công cống
TT
Phương pháp Yêu cầu máy móc, vật tư,
Nội dung công việc
Thao tác
thi công
nhân lực
Định vị cống: Xác định các
Máy thủy bình, máy kinh
1
đường tim ống, phạm vi đào Thủ công
vĩ, cọc định vị, sơn
móng cống
Làm đường công vụ phía thượng
2
Thủ công
Máy múc
lưu cống
Lắp đặt biển báo, rào chắn khu
Cọc tiêu 4 cái. Đèn báo
3
vực thi công phía hạ lưu (nếu Thủ công
hiệu màu đỏ 2 cái.
có)
Đào móng cống hạ lưu, đầm Cơ giới + 1h đầm cọc, 2h máy xúc,
4
chặt đáy móng
Thủ công 2h ô tô. Nhân lực 3 công
Đầm cóc 2h, cấp phối đá

đỉnh cống
lực 3 công
4.6.1 Công tác đổ bê tông.
Vật liệu sử dụng cho các lớp kết cấu mặt đường phải được tuyển chọn tại
các mỏ được tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát và chủ đầu tư chấp nhận. Tiêu
chuẩn kỹ thuật cho từng loại vật liệu phải tuân thủ các quy định hiện hành.
Trước khi thi công đại trà cần tổ chức thi công một đoạn thử 50-100m để
rút kinh nghiệm hoàn chỉnh quy trình và dây chuyền công nghệ thi công trên
thực tế.
Khối lượng bê tong xi măng được tính như sau:
V( tính toàn ) = B.L.h
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status