RỦI RO TRONG THANH TOÁN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
.......................

Đề cương chi tiết
NGHIỆP VỤ NGOẠI THƯƠNG
GV: Ths. Lê Phương Dung

RỦI RO TRONG THANH TOÁN TÍN DỤNG ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU

NHÓM 1


Danh sách thành viên nhóm 1 :

Phùng Cao Chánh
Chế Trung Huy
Nguyễn Văn Lâm
Phạm Hoàng Vũ
Nguyễn Hữu Thịnh

DKQ131335
DKQ131326
DKQ131336
DKQ131328
DKQ131327


__________

MỤC LỤC

Phương pháp thu thập dữ liệu từ sách báo, tài liệu , thông tin báo chí , internet
và các nghiên cứu trước đây.
Phương pháp phân tích, tổng hợp dữ liệu sơ cấp , so sánh đáng giá trên cơ
sở dữ liệu thực tế.

5. Ý nghĩa :
Xuất nhập khẩu là việc mua hàng hoá của nước ngoài nhằm phát triển sản xuất
kinh doanh và đời sống. Song việc mua hàng ở đây có những nét riêng phức tạp hơn
mua bán trong nước: như giao dịch với những người có quốc tịch khác nhau, thị
trường rộng lớn khó kiểm soát, mua bán qua trung gian chiếm tỷ trọng lớn, đồng tiền
thanh toán là ngoại tệ mạnh, hàng hoá phải vận chuyển qua biên giới, cửa khẩu các
quốc gia khác nhau, phải tuân thủ các tập quán, thông lệ quốc tế cũng như của địa
phương.
Hoạt động xuất nhập khẩu được tổ chức thực hiện với nhiều nghiệp vụ nhiều
khâu từ điều tra nghiên cứu thị trường nước ngoài, lựa chọn hàng hoá nhập khẩu, đối
tác, tiến hành giao dịch đàm phán, ký két hợp đồng và tổ chức thực hiện hợp đồng.
Mỗi khâu, mỗi nghiệp vụ phải được nghiên cứu thực hiện đầy đủ, kỹ lưỡng và đặt
trong mối quan hệ lẫn nhau.
Vì vậy, các chứng từ trong thanh toán quốc tế rất quan đối với công ty, doanh
nghiệp nhằm tranh thủ nắm bắt được những lợi thế đảm bảo cho hoạt động kinh doanh
nhập khẩu đạt hiệu quả cao nhất, đem lại lợi nhuận cao và phát triển sau này cho
doanh nghiệp.

6. Kết cấu đề tài :
Chương 1 : Tổng quan về đề tài
Chương 2 : Cơ sở lý thuyết.
Chương 3 : Nội dung nghiên cứu
Chương 4 : Kết luận



ngân hàng của các nước liên quan. TTTD trong hoạt động kinh tế là việc thực hiện thanh toán
trên cơ sở hàng hóa xuất nhập khẩu và cung ứng dịch vị thương mại cho nước ngoài theo giá
cả của thị trường quốc tế. Cơ sở để các bên tiến hành mua bán và thanh toán cho nhau là hợp
đồng ngoại thương.
III.Vai trò của thanh toán tính dụng:
TTTD có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, được thể hiện
chủ yếu trên các mặt sau:

a. Thúc đẩy và mở rộng hoạt động dịch vụ du lịch, hợp tác quốc tế.
b. Tăng cường thu hút kiều hối và các nguồn lực tài chính.


c. Không chỉ có tác dụng thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng háo và dịch vụ, mà
còn thúc đẩy đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp.

d. Thúc đẩy thị trường tài chính quốc gia hội nhập quốc tế, mở rộng hoạt động
sane xuất ra thị trường thế giới.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới hoạt động
thì thanh toán quốc tế đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của đất
nước. Một quốc gia không thể phát triển với chính sách đóng cửa, chỉ dựa vào tích luỹ
trao đổi trong nước mà phải phát huy lợi thế so sánh, kết hợp với sức mạnh trong nước với
môi trường kinh tế quốc tế. Hiện nay, khi các quốc gia đều đặt kinh tế đối ngoại lên hàng
đầu, coi hoạt động kinh tế đối ngoại là con đường tất yếu trong chiến lược phát triển kinh
tế đất nước thì vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng được khẳng định.
Thanh toán quốc tế là mắt xích không thể thiếu trong dây chuyền hoạt động kinh tế
quốc dân.Thanh toán quốc tế là khâu quan trọng của giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ
giữa các cá nhân, tổ chức thuộc các quốc gia khác nhau. Thanh toán quốc tế góp phần giải
quyết mối quan hệ hàng hoá tiền tệ, tạo nên sự liên tục của quá trình sản xuất và đẩy
nhanh quá trình lưu thông hàng hoá trên phạm vi quốc tế. Nếu hoạt động thanh toán quốc
tế được tiến hành nhanh chóng, an toàn sẽ khiến cho quan hệ lưu thông hàng hoá tiền tệ

xuất nhập khẩu cũng chính là rủi ro của ngân hàng vì chính họ là những người mà ngân hàng
phục vụ.

CHƯƠNG 3 : NỘI DUNG ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
A.CÁC RỦI RO TRONG CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN
QUỐC TẾ :
PHẦN I.RỦI RO KHÁCH QUAN :

1.Rủi ro nền kinh tế không ổn định:
- Quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế: Việc gia nhập vào tổ chức
kinh tế thế giới như WTO, và sắp tới là hiệp định TPP đã đem đến cho Việt Nam
nhiều cơ hội và thách thức.Việt Nam cũng bị ảnh hưởng ít nhiều là điều tất yếu.
- Sự biến động liên tục và khó dự đoán được của nền kinh tế Thế giới: Nền
kinh tế hưng thịnh, khách hàng làm ăn có hiệu quả thì sẽ mua nhiều hàng hóa,
doanh nghiệp xuất nhập khẩu phát triển ổn định. Kinh tế suy thoái, sản xuất bị ngừng
trệ, doanh nghiệp dễ bị thua lỗ, phá sản, mất khả năng thanh toán .
-Rủi ro môi trường pháp lý chưa thuận lợi: Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa
hiệu quả, thụ động và thiếu sót của Nhà nước. Hệ thống thông tin quản lý còn bất
cập. Cho dù cấp tín dụng dưới hình thức nào, doanh nghiệp cũng phải nắm một
lượng thông tin nhất định từ phía khách hàng, vì thiếu thông tin sẽ khó xác định năng
lực hiện có của khách hàng, nếu thông tin không chính xác có thể đưa ra kết quả
phân tích sai lệch.
-Tỷ giá hối đoái biến động : Tỷ giá hối đoái luôn biến động không ngừng do
nhiều yếu tố tác động. Do có sự chênh lệch về kỳ hạn, về loại ngoại tệ phát sinh khi
ngân hàng cho tổ chức xuất khẩu vay ngoại tệ để nhập nguyên liệu của từ nước
ngoài và vì thế làm cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu có thể gánh chịu thua lỗ khi tỷ
giá ngoại hối biến động. Ngoài ra một số quốc gia họ không muốn hoặc không thể
thanh toán một món nợ, số tiền ngoại tệ cho nước ngoài.
-Sự can thiệp của chính phủ: Doanh nghiệp còn gặp rủi ro do sự can thiệp của
chính phủ thay đổi đột ngột chính sách tiền tệ, cơ cấu kinh tế, lĩnh vực ưu tiên,…điều

suất, yếu nghiệp vụ chuyên môn dẫn đến tổn thất không đáng có.
-Chiến lược sai lầm của doanh nghiệp Phát sinh từ các thay đổi trong môi
trường hoạt động của doanh nghiệp trên phạm vi rộng hơn về kinh doanh và tài
chính, việc xâm nhập lĩnh vực mới mà thiếu nghiên cứu đầy đủ và thiếu các nguồn
lực cần thiết để khai thác thị trường này có thể làm cho doanh nghiệp gặp phải khó
khăn và dẫn đế thua lỗ.
PHẦN 2 : RỦI RO CHỦ QUAN:

I.Phương thức chuyển tiền ( Remittance ):
1.Khái niệm chung:
1.1 Khái niệm:
Là phương thức thanh toán trong đó khách hàng yêu cầu ngân hàng phục vụ
mình chuyển một số tiền nhất định cho nhười hưởng lợi tại một thời điểm nhất định
trong một khoản thời gian nhất định.
1.2 Hình thức : Có 2 hình thức chuyển tiền

• Chuyển tiền bằng điện T/T : Telegraphic Transfer
Chuyển tiền bằng điện có bồi hoàn TTR là từ viết tắt của Telegraphic Transfer
Reimbursement, thường được sử dụng trong thanh toán L/c.
Nghĩa là ngân hàng chiết khấu được phép đòi hoàn trả bằng điện. Thực tế cho
thấy rất ít L/C cho phép đòi tiền hoàn trả bằng điện, trừ khi đó là L/C xác nhận bởi
Ngân hàng xác nhận thường yêu cầu điều kiện này nhằm bảo đảm có thể nhận
được tiền hoàn trả sớm hơn so với việc đòi tiền bằng thư kèm chứng từ giao hàng.

• Chuyển tiền bằng thư M/T : Mail Transfer


2.Phương thức chuyển tiền trả sau:
2.1 Khái niệm:
Trong thực tế, người ta có thể thực hiện chuyển tiền theo một trong hai hình

3.1 Khái niệm:
Là hình thức chuyển tiền tương tự như chuyển tiền trả sau chỉ khác ở chỗ
Nhà nhập khẩu lập lệnh chuyển tiền và do đó, Nhà xuất khẩu nhận được tiền trước
khi giao hàng.
3.2 Nội dung và quy trình thực hiện:
NH chuyển tiền

NH đại lý
(2)

(1)

(5)

(3)
(4)

Nhà nhập khẩu

Nhà xuất khẩu

(1) Người nhập khầu lập lệnh chuyển tiền yêu cầu ngân hàng phục vụ mình
chuyển tiền cho người thụ hưởng.

(2) Ngân hàng phục vụ Nhà xuất khẩu chuyển tiền cho người thụ hưởng
thông qua ngân hàng đại lý.

(3) Ngân hàng đại lý ghi có và báo có cho Nhà xuất khẩu.
(4) Nhà xuất khẩu giao hàng và bộ chứng từ cho Nhà nhập khẩu để họ có thể
nhận hàng.

Phương thức này gây nhiều khó khăn về dòng tiền và tăng rủi ro cho nhà
nhập khẩu nên thông thường họ ít khi chấp nhận trả tiền trước khi nhận được hàng.
5.Rủi ro:
5.1 Rủi ro đối với nhà xuất khẩu:
Rủi ro đối với nhà xuất khẩu xảy ra khi nhà nhập khẩu không chịu thanh toán
hoặc vì một lý do náo đó không muốn nhận hàng dẫn đến việc từ chối thanh toán.
Một dố nguyên nhân khiến nhà nhập khẩu không chịu nhận hàng là:
Nhà nhập khẩu không có khả năng chi trả. Trong trường hợp này thì nhà xuất
khẩu có thể thu được tiền nếu như nhà nhập khẩu xin gia hạn thanh toán và chuyển
tiền cho nhà xuất khẩu sau một thời gian nhất định so với thỏa thuận. Rủi ro đối với
bên xuất khẩu là nguồn vốn về chậm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh
như: không quay được vòng vốn, thiếu vốn để đầu tư mở rộng sản xuất, phải bỏ chi
phí cho việc tìm kiếm nguồn vốn thay thế.
Rủi ro chính trị, pháp lý từ phía nhà nhập khẩu. Nhà xuất khẩu có thể không
nhận được khoản tiền từ nhà nhập khẩu, đây là một tường hợp mà nhà xuất khẩu
khó kiện nhà nhập khẩu ra tòa án quốc tế được vì đó là vấn đề bắt nguồn từ nguyên
nhân của một quốc gia.
Nhà nhập khẩu cố tình không trả tiền cho nhà xuất khẩu, đây là rủi ro pháp lý
đối với bên xuất khẩu.Nhà xuất khẩu có thể không lấy được tiền hoặc lấy được tiền
nhưng phải bỏ ra nhiều chi phí như: phí thuê tòa án khi kiện nhà nhập khẩu, chi phí
cơ hội, chi phí chi trả cho nguồn vốn thay thế nguồn vốn chưa thu được.
5.2 Đối với nhà nhập khẩu:
Nhà nhập khẩu có thể gặp rủi ro trong trường hợp nhà nhập khẩu thanh toán
trước hoặc ứng trước một phần tiền hàng mà không nhận được hàng như thỏa
thuận từ nhà xuất khẩu. Các nguyên nhân khiến nhà xuất khẩu không giao hàng là:
Do nhà xuất khẩu cố tình không giao hàng. Khi xảy ra sự việc này nhà nhập
khẩu thường tìm các biện pháp buộc nhà xuất khẩu phải giao hàng đồng thởi bồi


thường thiệt hại do việc chậm trễ này. Nếu không được thì nhà xuất khẩu có thể bị

(4)

Ngân hàng trả tiền

(5)

(2)
(1)

Nhà nhập khẩu

Nhà xuất khẩu

Giải thích quy trình :
(1) Người bán giao hàng hoặc dịch vụ cùng với gửi chứng từ hàng hóa cho
người mua


(2) Nhà nhập khẩu thực hiện lệnh chuyển tiền gửi đến ngân hàng chuyển tiền
và yêu cầu ngân hàng chuyển tiền cho người thụ hưởng
(3) Sau khi kiểm tra , Ngân hàng chuyển tiền sẽ trích tài khoản của đơn vị để
chuyển tiền gới giấy báo nợ cho Nhà nhập khẩu.
(4) Ngân hàng chuyển tiền ra lệnh cho ngân hàng trả tiền ở nước ngoài
chuyển trả cho người thụ hưởng
(5) Ngân hàng chuyển tiền sẽ thực hiện việc chuyển tiền cho người thụ hưởng
và gới giấy báo có cho đơn vị
2.Ưu và nhược điểm :
2.1 Ưu điểm:

Đối với nhà nhập khẩu:

soát tín dụng và tiền thu.


3.2 Rủi ro đối với nhà nhập khẩu:
Nếu hóa đơn thanh toán ghi bằng ngoại tệ, nhà nhập khẩu có thể gặp rủi ro tỷ
giá khi ngoại tệ lên giá.
Nhà xuất khẩu có thể không giáo hàng, hoặc hàng giao không đúng thời gain,
không đúng chủng loại và chất lượng.

III.Phương thức nhờ thu (collection of payment)
1.Khái niệm chung :
Phương thức nhờ thu là phương thức mà người bán sau khi chuyển hàng hóa
hay cung ứng dịch vụ cho khách hàng, ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ
tiền của người mua trên cơ sở hối phiếu mà người bán lập ra.
Các bên tham gia bao gồm: người ủy thác thu (người hưởng lợi) là nhà xuất
khẩu; người trả tiền là nhà nhập khẩu; ngân hàng nhận ủy thác thu: ngân hàng phục
vụ nhà xuất khẩu; ngân hàng đại lý (ngân hàng thu tiền): ngân hàng phục vụ nhà
nhập khẩu.
Có hai loại nhờ thu: nhờ thu phiếu trơn và nhờ thu có chứng từ.
2.Nhờ thu trơn ( D/A):
2.1 Khái niệm:
Nhờ thu hối phiếu trơn là phương thức nhờ thu trong đó Nhà xuất khẩu ủy
thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở Nhà nhập khẩu căn cứ vào hối phiếu do mình lập
ra còn chứng từ hàng hóa thì gởi thẳng cho Nhà nhập khẩu, không gởi cho ngân
hàng.

2.2 Nội dung và quy trình thực hiện:

Nhà xuất khẩu
Nhà nhập khẩu


Ngân hàng đại lỳ chuyển hối phiếu cho Nhà nhập khẩu để yêu cầu
chấp nhận hay thanh toán. Nếu hợp đồng thỏa thuận điều kiện thanh toán
D/A (document against acceptance) Nhà nhập khẩu chỉ cần chấp nhận
thanh toán, nếu là D/P (Document against Payment) Nhà nhập khẩu phải
trả tiền ngay cho Nhà xuất khẩu.

(5)

Nhà xuất khẩu thông báo đồng ý trả tiền hay từ chối thanh toán.

(6)

Ngân hàng đại lý trích tiền từ tài khoản của Nhà nhập khẩu chuyển
sang ngân hàng ủy thác thu để ghi có cho Nhà xuất khẩu trong trường
hợp Nhà nhập khẩu đồng ý trả tiền hoặc thông báo cho ngân hàng ủy thác
thu biết trong trường hợp Nhà nhập khẩu từ chối trả tiền.

(7)

Ngân hàng ủy thác thu ghi có và báo có cho Nhà xuất khẩu hoặc
thông báo cho Nhà xuất khẩu biết việc Nhà nhập khẩu từ chối trả tiền.

2.3 Ưu nhược điểm:
Qua toàn bộ quy trình thực hiện nhờ thu trơn, chúng ta thấy rằng trong
phương thức nhờ thu hối phiếu trơn ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian trong
thanh toán bởi vì bộ chứng từ hàng hóa đã giao cho Nhà nhập khẩu nên ngân hàng
đại lý không thể khống chế Nhà nhập khẩu được. Ngân hàng không có cam kết hay
đảm bảo gì đối với Nhà xuất khẩu và Nhà nhập khẩu mà chỉ đơn thuần là hành xử
theo những chỉ dẫn mà Nhà xuất khẩu thể hiện trên chỉ thị nhờ thu và hối phiếu.

3.1 Khái niệm:
Nhờ thu hối phiếu kèm chứng từ là phương thức nhờ thu trong đó Nhà xuất
khẩu sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hay cung ứng dịch vụ tiến hành ủy
thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền ở Nhà nhập khẩu không chỉ căn cứ vào
hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ hàng hóa gởi kèm theo với điều kiện nếu
Nhà nhập khẩu thanh toán hoặc chấp nhận trả tiền thì ngân hàng mới trao bộ chứng
từ cho Nhà nhập khẩu nhận hàng hóa.
3.2. Nội dung và quy trình thực hiện:

Ngân hàng nhận ủy thác thu
Ngân hàng đại lý
Nhà xuất khẩu
Nhà nhập khẩu
(3)
(7)


(2)
(8)
(5)
(4)
(6)
(1)
Quy trình thực hiện

(1) Nhà xuất khẩu giao hàng cho Nhà nhập khẩu nhưng không giao bộ chứng từ
hàng hóa.

(2) Nhà xuất khẩu gởi chỉ thị nhờ thu, hối phiếu và bộ chứng từ hàng hóa đến
ngân hàng nhận ủy thác để nhờ thu hộ tiền ở Nhà nhập khẩu.

Nhà xuất khẩu ngoài việc ủy thác cho ngân hàng thu tiền còn nhờ ngân hàng
thông qua việc khống chế bộ chứng từ hàng hóa để buộc Nhà nhập khẩu phải trả


tiền hoặc chấp nhận trả tiền, nhờ vậy phương thức này đảm bảo khả năng thu tiền
hơn phương thức chuyển tiền trả sau và nhờ thu hối phiếu trơn.
3.3.2 Nhược điểm:
Nhưng như vậy mới chỉ khống chế được hàng hóa đối với Nhà nhập khẩu,
chưa chắc khống chế được việc trả tiền đối với Nhà nhập khẩu, chẳng hạn như trong
trường hợp thị trường biến động bất lợi cho Nhà nhập khẩu, họ không thiết tha với
việc nhận hàng nên sẽ kéo dài thời gian thanh toán và gây áp lực đối với Nhà xuất
khẩu. Lúc này, Nhà xuất khẩu rơi vào trạng thái bị động, nếu chậm giải phóng tàu sẽ
chịu phạt với đại lý vận tải, hoặc chịu thêm tiền thuê kho bãi để giữ hàng hóa hoặc
nếu chở hàng về sẽ tốn thêm tiền vận chuyển, hoặc là bị Nhà nhập khẩu ép giá. Để
tránh tình huống như vậy, hai bên có thể thương lượng với nhau nên sử dụng
phương thức tín dụng chứng từ.
3.4.Rủi ro:
Trong phương thức này nhà xuất khẩu mất quyền kiểm soát hàng hóa và
chưa được thanh toán cũng như không có bảo lãnh thanh toán ngay từ lúc gửi hàng
đi. Rủi ro thanh toán ngay từ lúc hàng gửi đi. Rủi ro thanh toán hoàn toàn thuộc về
nhà xuất khẩu khi nhà nhập khẩu không trả tiền sau nhận hàng. Ngân hàng lúc này
chỉ đóng vai trò trung gian đơn thuần, cho dù có thu được hay không thì ngân hàng
vẫn tính phí và không chịu trách nhiệm nếu bên nhập khẩu không thanh toán. Nên
nếu là tổ chức xuất khẩu thì ta chỉ nên sử dụng phương thức này khi có tín nhiệm
hoàn toàn với nhà nhập khẩu, hoặc có giá trị xuất khẩu nhỏ , mang tính thăm dò thị
trường hoặc là hàng hóa khó tiêu thụ ….
Phương thức nhờ thu kèm chứng từ này có thủ tục đơn giản và chi phí rẻ,
nhưng mức độ rủi ro đối với nhà xuất khẩu , nhập khẩu vẫn tương đối cao
3.4.1 Rủi ro đối với nhà xuất khẩu:
Chủ yếu là việc không thực hiện thanh toán sau khi giao hàng bao gồm :

nhận được tiền chậm hoặc không nhận được tiền.
Nhà nhập khẩu đơn phương hủy thanh toán khi nhà xuất khẩu đã gửi hàng .
Dù nhà xuất khẩu có kiện nhà nhập khẩu vi phạm hợp đồng đi chăng nữa thì việc
này cũng mất nhiều thời gian , công sức trong khi đó hàng hóa không kịp giao, không
có chỗ lưu kho , lúc này này xuất khẩu chỉ có 2 lựa chọn là bán rẻ hàng hóa cho
người khác hoặc chỡ hàng về nước .
Rủi ro về bảo hiểm hàng hóa, nếu xảy ra tổn thất thì nhà xuất khẩu hoàn toàn
chịu trách nhiệm .
Ngân hàng hoàn toàn không chịu trách nhiệm nếu xảy ra trường hợp chậm trễ
hay mất chứng từ.
Nhà xuất khẩu không được hưởng lợi từ biến động tỷ giá cho tới khi nhận
được tiền.
Nhà xuất khẩu sẽ chịu mọi chi phí phát sinh nếu như nhà nhập khẩu từ chối
thanh toán những khoản chi phí này.
3.4.2 Rủi ro với nhà nhập khẩu:
Nhà nhập khẩu đứng trước rủi ro nhà xuất khẩu làm giả bộ chứng từ , có sai
sót hoặc họ cố tình gian lận trong thương mại và ngân hàng không chịu trách nhiệm
nếu sai sót hay gian lận xảy ra hoặc hàng hóa hay phương tiện vận tải không khớp
với chứng từ.
Sau khi thanh toán hối phiếu kỳ hạn , nhà xuất khẩu có thể kiện nhà nhập
khẩu vì không thanh toán khi hối phiếu đến hạn. Thậm chí nhà nhập khẩu không thể
dùng các lý do “chính đáng” để bào chữa cho việc không thanh toán : hàng hóa có
sai sót , hàng chưa giao , hàng hóa sai quy cách v.v…. Điều đó có nghĩa là nhà nhập
khẩu phải thanh toán hối phiếu kỳ hạn vô điều kiện một khi đã ký vào đó .
Không thanh toán đúng hạn sẽ ảnh hưởng lớn uy tín thương mại của nhà
nhập khẩu.

IV.Phương thức giao chứng từ nhận tiền (Cash Against Documents)
1.Khái niệm chung:
• CAD ( Cash against documents ) : Giao chứng từ nhận tiền

ngân hàng .
(2) Ngân hàng thông báo cho nhà xuất khẩu biết .
(3)Nhà xuất khẩu giao hàng cho Nhà nhập khẩu theo đúng thỏa thuận trong
hợp đồng .
(4) Nhà xuất khẩu lập chứng từ xuất trình cho ngân hàng.
(5)Ngân hàng kiểm tra chứng từ , đối chiếu với bản ghi nhớ ,nếu phù hợp thì
thanh toán cho nhà xuất khẩu.
(6) Ngân hàng chuyển bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu và quyết toán tài
khoản tín thác.
2.2 Qui trình của COD :
Nhà nhập khẩu  Người vận chuyển ( 1,2,n,..) 

(2)

Nhà xuất khẩu


(1) Nhà nhập khẩu trả tiền cho Nhà xuất khẩu qua người vận chuyển cuối
cùng.
(2) Người vận chuyển ở kho ngoại giao và trả tiền ngay khi trao đổi hàng .
3 Ưu và nhược điểm:
3.1 Ưu điểm:
Thủ tục thanh toán cho bên xuất khẩu nhanh chóng và đơn giản.
Nhà xuất khẩu có lợi vì giao hàng xong đã được chuyển tiền luôn, bộ chứng
thừ xuất trình đơn giản.
Nhà nhập khẩu không làm việc mua bán hàng hóa được nhà nhập khẩu ủy
thác cho ngân hàng trực tiếp giao dịch với nhà xuất khẩu
3.2 Nhược điểm:
Phương pháp này chỉ được áp dụng trong trường hợp tổ chức nhập khẩu rất
tin tưởng nhà xuất khẩu và tổ chức nhập khẩu có văn phòng đại diện tại nước xuất



hưởng lợi L/C ), ngân hàng thông báo, ngân hàng thanh toán, ngân hàng chiết
khấu…còn hợp đồng ngoại thương chỉ có giá trị pháp lý ràng buộc về quyền lợi và
nghĩa vụ giữa hai bên nhập khẩu và xuất khẩu.
Nhà nhập khẩu có thể sử dụng L/C để cụ thể hóa, chi tiết hóa hoặc để bổ
sung , đính chính, sữa chữa những điều khoản mà hợp đồng mua bán còn sót.

Ngân hàng mở L/C
Ngân hàng thông báo L/C
Nhà nhập khẩu
Nhà xuất khẩu
(3)
(2)
(11)
(10)
(9)
(6)
(4)
(8)
(7)
(5)
(1)
Sơ đồ: Quy trình thực hiện phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
2.NỘI DUNG VÀ QUY TRÌNH THỰC HIỆN

(1) Hai bên xuất khẩu và nhập ký kết hợp đồng thương mại.


(2) Nhà xuất khẩu làm thủ tục yêu cầu ngân hàng mở L/C mở L/C cho Nhà xuất

Phương thức thanh toán này tốn nhiều thời gian do phải thực hiện qua nhiều
bước, việc lập chứng từ đòi hỏi phải có độ chính xác cao, ít sai sót và kiểm tra chứng
từ tiến hành qua nhiều bên nếu có sai sát phải sửa lại làm cho nhà nhập khẩu lâu
nhận được chứng thừ thanh toán để nhận hàng, tốn kém chi phí cho việc bào quản
hàng hóa ở cảng nhập khẩu; nhà xuất khẩu chập nhận được tiền thanh toán. Chi phi
giao dịch với ngân hàng lớn .
3.Rủi ro:
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán đảm
bảo quyền lợi cao nhất cho nhà sản xuất so với các phương thức thanh toán khác.
Tuy nhiên nó không phải là phương thức thanh toán tuyệt đối an toàn cho các bên
tham gia.Vẫn còn một số rủi ro cho các nhà xuất nhập khẩu và ngân hàng tham gia.
3.1 Rủi ro đối với nhà Xuất khẩu:
Khi tham gia phương thức thanh toán TDCT, nhà XK hay gặp những rủi ro
sau:


Khi nhận được L/C từ NH thông báo, nếu nhà XK kiểm tra các điều kiện
chứng từ không kĩ, chấp nhận cả những yêu cầu bất lợi mà nhà XK không thể đáp
ứng được trong khâu lập chứng từ sau này. Khi các yêu cầu đó không được thoả
mãn, NH phát hành từ chối bộ chứng từ và không thanh toán. Lúc đó, nhà NK sẽ có
lợi thế để thương lượng lại về giá cả nằm ngoài các điều khoản của L/C và nhà XK
sẽ gặp bất lợi.
Trong thanh toán TDCT, ngân hàng mở L/C đứng ra cam kết thanh toán cho
người XK khi họ xuất trình bộ chứng từ phù hợp với nội dung của L/C, NH chỉ làm
việc với các chứng từ quy định trong L/C. Phương thức thanh toán TDCT đòi hỏi sự
chính xác tuyệt đối giữa bộ chứng từ thanh toán với nội dung quy định trong L/C. Chỉ
cần một sơ suất nhỏ trong việc lập chứng từ thì nhà XK cũng có thể bị NH mở L/C và
người mua bắt lỗi, từ chối thanh toán. Do đó, việc lập bộ chứng từ thanh toán là một
khâu quan trọng và rất dễ gặp rủi ro đối với nhà XK.
Có thể gặp nhiều khó khăn hoặc không thể thực hiện được các điều khỏan

khi nhà nhập khẩu nhận được hàng và từ chối thanh toán.Như vậy nhà nhập khẩu
phải chấp nhận rủi ro.
3.2 Rủi ro đối với nhà Nhập khẩu:
Không có sự đảm bảo nào cho nhà NK rằng hàng hoá sẽ đúng như đơn đặt
hàng hay không. Nhà NK có thể nhận được hàng kém chất lượng hoặc bị hư hại
trong quá trình vận chuyển mà vẫn phải hoàn trả đầy đủ tiền thanh toán cho NH phát
hành.
Khi nhà NK chấp nhận bộ chứng từ hàng hoá sẽ có nguy cơ gặp rủi ro. Bộ
chứng từ là cơ sở pháp lý đầu tiên về tính đúng đắn của hàng hoá. Nếu nhà NK
không chú ý kiểm tra kỹ bộ chứng từ như :chính tả, câu chữ, số lượng các loại
chứng từ, cơ quan có thẩm quyền cấp các loại giấy chứng nhận… mà chấp nhận bộ
chứng từ có lỗi sẽ bị thiệt hại và gặp khó khăn trong việc khiếu nại sau này.
Một rủi ro mà nhà NK hay gặp là hàng đến trước bộ chứng từ, nhà NK chưa
nhận được bộ chứng từ mà hàng đã cập cảng. Bộ chứng từ bao gồm vận đơn, mà
vận đơn lại là chứng từ sở hữu hàng hoá nên thiếu vận đơn thì hàng hoá không
được giải toả. Nếu nhà NK cần gấp ngay hàng hoá thì phải thu xếp để NH phát hành
phát hành một thư bảo lãnh gửi hãng tàu để nhận hàng. Để được bảo lãnh nhận
hàng, nhà NK phải trả thêm một khoản phí cho NH. Hơn nữa, nếu nhà NK không
nhận hàng theo qui định thì tiền bồi thường giữ tàu quá hạn sẽ phát sinh.
Trong một số trường hợp, hàng đã được giao đến nơi nhưng nhà nhập khẩu
vẫn chưa nhận được các chứng từ thanh toán và như vậy không thể nhận hàng
được.nếu nhà nhập khẩu cần gấp hàng hóa hay sợ chịu chi phí lưu kho thì phải thu
xếp để NHPH phát hành một bảo lãnh hàng gửi tàu để nhận hàng , nhà nhập khẩu
phải chịu thêm chi phí không nhỏ trả cho ngân hàng.

B . GIẢI PHÁP VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ PHÒNG NGỪA RỦI
RO CHO DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU :
Rủi ro trong thanh toán quốc tế một phần là do nhũng nguyên nhân chủ quan từ phía
các đơn vị kinh doanh XNK. Chính những yếu kém về nghiệp vụ đã khiến họ là người phải
gánh chịu những thiệt hại nặng nề nhất. Vì vậy, nhũng biện pháp hữu hiệu nhằm ngăn ngừa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status