Ảnh hưởng của số lần cho ăn đến hiệu quả sử dụng thức ăn và chất lượng môi trường nước trong ương ấu trùng tôm chân trắng (litopenaeus vannamei) giai đoạn postlarvar 1 12 tại công ty cổ phần chăn nuôi CP tại bình định” - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ

Khoa Thủy Sản

KHÓA LUẬN

TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
Ảnh hưởng của số lần cho ăn đến hiệu quả sử dụng thức ăn và chất
lượng môi trường nước trong ương ấu trùng tôm Chân trắng
(Litopenaeus vannamei) giai đoạn postlarvar 1-12 tại Công ty Cổ phần
Chăn nuôi CP tại Bình Định”

Sinh viên thực hiện: Thái Thị Hằng
Lớp: Nuôi trồng thủy sản 45
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Tôn Thất Chất
Bộ môn: Nuôi trồng thủy sản

NĂM 2015


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp này, trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ quý báu,với tất cả sự trân trọng và lòng chân thành
tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
Quý thầy cô giáo trong khoa thủy sản Trường đại học Nông Lâm Huế đã cung
cấp cho tôi những kiến thức cơ bản trong suốt quá trình học tập, đặc biệt là thầy Phó
Giáo sư Tiến sĩ Tôn Thất Chất, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi với tất cả tinh thần
trách nhiệm và lòng nhiệt huyết từ khâu định hướng chọn đề tài đến quá trình thực
hiện nghiên cứu và viết khóa luận.
Xin chân thành cảm ơn ban Giám đốc, các anh chị tại Công ty Cổ phần chăn

P

: Postlavae

Ppm : Phần triệu


DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1. Lượng thức ăn TNT sử dụng
Bảng 4.2.1. Biến động pH
Bảng 4.2.2. Diễn biến độ kiềm ở 2 nghiệm thức
Bảng 4.2.3. Biến động độ mặn trong 2 nghiệm thức
Bảng 4.2.4. Biến động NH3
Bảng 4.2.5. Biến động NO2
Bảng 4.3.1. Tăng trưởng trung bình chiều dài thân tôm
Bảng 4.3.2. Tỷ lệ sống của ấu trùng qua các giai đoạn
Bảng 4.3.3. Lượng thức ăn sử dụng ở 2 nghiệm thức
Bảng 4.3.4. Hệ số FCR
Bảng 4.3.5. Tổng chi của cả vụ
Bảng 4.3.6. Tổng thu


DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Tôm thẻ chân trắng
Hình 3.1. Sơ đồ huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định
Hình 3.4. Máy đo chiều dài thân tôm
Hình 4.2.1. Biến động pH ở 2 nghiệm thức
Hình 4.2.2. Biến động độkiềm ở 2 nghiệm thức
Hình 4.2.3. Biến động độ mặn ở 2 nghiệm thức

ăn trong ương giống tôm, chính vì vậy mà em chọn đề tài: “ Ảnh hưởng của số
lần cho ăn đến hiệu quả sử dụng thức ăn và chất lượng môi trường nước
trong ương ấu trùng tôm Chân trắng (Litopenaeus vannamei) giai đoạn
postlarvar 1-12 tại Công ty Cổ phần Chăn nuôi CP tại Bình Định”
Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu nhằm tìm ra số lần cho ăn thích hợp
trong ngày để giảm chi phí sản xuất, hạn chế lãng phí gây ô nhiễm môi trường
nước. Theo dõi tốc độ tăng trưởng của ấu trùng tôm Chân trắng.

6


PHẦN 2.
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Một số đặc điểm sinh học của tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei )
2.1.1. Hệ thống phân loại
Ngành: Arthropoda
Lớp: Crustacea
Bộ: Decapoda
Họ: Penaeidea
Giống: Penaeus
Loài: Penaeus vannamei (Boone, 1931)
Tên khoa học: Penaeus vannamei.
Tên tiếng Anh: White Leg shrimp.
Tên Việt Nam: Tôm he chân trắng, tôm thẻ chân trắng.
2.1.2. Đặc điểm hình thái

Hình 1.1. Tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei)
Cấu tạo ngoài tôm thẻ chân trắng giống với tôm he Trung Quốc (Penaeus
chinensis) và tôm bạc (Penaeus merguiensis)

Tôm trưởng thành phần lớn sống ở ven biển gần bờ, tôm ưa sống ở vùng cửa
sông giàu chất dinh dưỡng. Ban ngày tôm vùi mình trong bùn, ban đêm mới mò
đi kiếm ăn.
- Về oxy hòa tan: tôm he chân trắng tăng trưởng thích hợp nhất ở nồng độ
oxy hòa tan >5 ppm. Ngưỡng an toàn thấp nhất là 2,5-3 ppm. Nếu thấp hơn 1,9
ppm tôm sẽ chết.
- Về độ mặn: cỡ tôm 1- 6 cm đang ở độ mặn 20‰ khi chuyển ra ao thì
chúng có thể sống ở độ mặn 5-50‰, khoảng thích ứng nhất là 10-32‰

8


- Về nhiệt độ: Ở tự nhiên chúng ở nhiệt độ nước từ 25-32 oC nhưng thích
nghi được khi nhiệt độ thay đổi lớn.
2.1.5. Đặc điểm sinh trưởng
a. Các thời kì phát triển của tôm chân trắng
- Thời kì phôi
Thời kì phôi bắt đầu từ khi thụ tinh đén khi trứng nở, thời gian phát triển
phôi tùy thuộc vào nhiệt độ nước.
- Thời kì ấu trùng
Ấu trùng tôm thẻ Chân trắng trải qua nhiều lần lột xác và biến thái hoàn
toàn, gồm các giai đoạn sau:
+ Giai đoạn Nauplius (N)
Ấu trùng N của Tôm Thẻ Chân Trắng trải qua 6 lần lột xác vá có 6 giai
đoạn phụ (N1-N6). Ấu trùng N bơi lội bằng 3 đôi chân phụ, vận động theo kiểu
zic zắc, không định hướng và không liên tục. Chúng chưa ăn thức ăn ngoài mà
dinh dưỡng bằng noãn hoàng dự trữ.
+ Giai đoạn Zoea (Z)
Giai đoạn Z có 3 giai đoạn phụ (Z1-Z3) thay đổi hẳn về hình thái so với
N. Ấu trùng Z bơi lội nhờ hai đôi râu và 3 đôi chân hàm phân nhánh. Chúng bơi

sống đáy bắt đầu bò bằng chân và bơi bằng chân bơi. Anten 2 và sắc tố thân
ngày càng phát triển. Thời kì này tương đương với giai đoạn tôm bột và đầu tôm
giống trong sản xuất tức là PL5-PL20.
- Thời kì thiếu niên
Tôm bắt đầu ổn định tỷ lệ chân, thelycum petasma được hình thành nhưng
chưa hoản chỉnh, hai nánh của petasama tách biệt. Giai đoạn này tương đương
với giai đoạn ương giống tôm và nuôi thịt trong sản xuất. Cuối thời kì ấu niên
xuất hiện sự sinh trưởng không đều giữa tôm đực và tôm cái, con cái lớn nhanh
hơn con đực.
- Thời kì sắp trưởng thành
Tôm trưởng thành về mắt sinh dục: cơ quan sinh dục ngoài đã hoàn thiện,
tôm đực bắt đầu có tinh trùng trong túi tinh, tôm cái tha, gia giao vĩ lần đầu.
Hiện tưởng sinh trưởng không đều giữa 2 giới tính thể hiện rõ rệt hơn trong thời
kì này.
- Thời kì trưởng thành
Tôm có khản năng tham gia sinh sản, cúng sống ở vùng nước xa bờ, nơi
có độ trong cao và độ mặn ổn định.
b. Vòng đời của Tôm Thẻ Chân Trắng
Ở thời kì ấu niên và thời kì thiếu niên Tôm sống ở vùng của sông. Ở giai
đoạn sắp trưởng thành và trưởng thành, khi tôm có thể tham gia sinh sản lần đầu
thì chúng sống ở vùng nước có độ sâu 7-20m nước. Đối với những con trưởng
10


thành có sản phẩm sinh dục thành thục thì chúng di chuyển ra vùng biển khơi có
độ sâu khoảng 70m và sinh sản ở đây. Trứng và ấu trùng Mysis sống và phát
triển tại vùng biển khơi theo dòng nước trôi dạt vào bờ. Khi đến vùng triều thì
ấu trùng chuyển qua giai đoạn Postlarvae và tiếp tục theo thủy triều trôi dạt vào
vùng cửa sông phát triển thành ấu niên và tiếp tục vòng đời.
2.1.6. Đặc điểm dinh dưỡng

11


thể, phần còn lại sẽ được chuyển hóa thành năng lượng hoặc bài tiết ra ngoài,
gây lãng phí làm giảm hiệu quả nuôi, gây ô nhiễm môi trường nuôi.


Nhu cầu Lipid
Lipid là hợp phần cấu tạo quan trọng của các màng sinh học, là nguồn
cung cấp năng lượng, cung cấp các vitamin hòa tan trong mỡ (như A, D, E, K),
các acid béo cần thiết cho quá trình sinh trưởng và phát triển của động vật thủy
sản. Nhiều nghiên cứu cho thấy lipid có ảnh hưởng đến sinh trưởng của tôm, đặc
biệt là giai đoạn ấu trùng và tôm giống [2].
Thành phần lipid có trong thức ăn tôm khoảng 6 - 7,5%, không nên quá
10%. Với hàm lượng lipid trong thức ăn >10% sẽ dẫn đến giảm tốc độ sinh
trưởng, tăng tỷ lệ tử vong, có thể do nguyên nhân mất thăng bằng và thiếu dinh
dưỡng.



Acid béo: ở tôm he, bốn loại acid béo không thay thế là: linoleic acid, linolenic
acid, eicosapentaenoic và docosahexanoic [9].



Phospholipid: là thành phần có vai trò quan trọng trong dinh dưỡng của động
vật thủy sản đặc biệt là giáp xác. Nó tham gia vào cấu trúc của tất cả các màng
tế bào cơ bản, giữ vai trò quan trọng trong sự vận chuyển và hấp thu lipid, tham
gia vào quá trình biến dưỡng trung gian trong cơ thể sinh vật. Nguồn cung cấp
phospholipid chủ yếu cho động vật thủy sản là lecithin từ đậu nành.


Vitamin
Vitamin là những chất hữu cơ có bản chất hóa học khác nhau, cơ thể
động vật không thể tự tổng hợp được, có nhu cầu một lượng nhỏ trong thức ăn
để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển bình thường. Hầu hết vitamin có vai trò
như một co-enzyme hoặc các tác nhân hỗ trợ các enzyme thực hiện các phản
ứng sinh hóa trong cơ thể [13].
Nhu cầu về loài vitamin thực tế cho từng loài tôm và cho từng giai đoạn
vẫn chưa được biết nhiều. Vì thế lượng thức ăn thường vượt quá nhu cầu thực tế
của tôm nhằm bù đắp lượng mất đi do hòa tan vào nước, do phân hủy trong quá
trình sản xuất thức ăn và bảo quản. Hơn nữa, lượng vitamin trong các thành
phần nguyên liệu rất biến đổi, nếu phân tích từng thành phần hoặc từng nhóm
thành phần sẽ rất tốn kém. Vì vậy cách đơn giản hơn là bổ sung quá mức lượng
vitamin.



Chất khoáng
Chất khoáng là yếu tố tạo hình (đặc biệt là vỏ) giúp tôm tăng sức đề
kháng đối với sự biến động của môi trường và sự nhiễm trùng [19]. Giống như
các động vật thủy sản khác, tôm có thể hấp thu và bài tiết chất khoáng trực tiếp
từ môi trường vào nước thông qua mang và bề mặt cơ thể. Vì vậy, nhu cầu
khoáng ở tôm phụ thuộc nhiều vào hàm lượng chất khoáng có trong môi trường
tôm đang sống [16].
2.1.7. Đặc điểm sinh sản
* Mùa vụ sinh sản:
Tùy vào nhiệt độ nước mà mùa vụ sinh sản của tôm cũng thay đổi tùy
theo từng khu vực. Ở Bắc Ecuador, tôm thẻ chân trắng sinh sản từ tháng 3 đến
tháng 8, tập trung vào tháng 4 và tháng 5. Ở Peru, tôm sinh sản chủ yếu từ tháng
12 đến tháng 4 [4].

* Nghiên cứu về sản xuất giống
Tôm cái đẻ trứng chủ yếu vào khoảng thời gian từ 21-3 giờ sáng. Thời
gian bắt đầu đẻ trứng đến lúc đẻ xong chỉ khoảng 1-2 phút.
Trứng thụ tinh sau 14-16 giờ nở ra Nauplius, quá trình biến thái của ấu
trùng cũng trải qua 6 giai đoạn Nauplius, 3 giai đoạn Zoea, 3 giai đoạn Mysis và
đến Post-larvae. Post-lavae sống ở vùng cửa sông có độ mặn thấp, nhiệt độ cao,
sau vài tháng tôm con trưởng thành bơi ra biển giao vĩ và tiến hành đẻ trứng.
Trong tự nhiên tôm mẹ thường đẻ ở độ sâu 70 m nước, nhiệt độ 26-28oC.
14


* Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ nước lên số lượng và tỷ lệ dị hình
của tinh trùng trong điều kiện nuôi nhốt 42 ngày, Pazez và CTV nhận thấy ở
26oC thì chất lượng tinh trùng tốt hơn hẳn so với 29 oC và 32oC. Cụ thể ở 26oC
số lượng tinh trùng là 18,6 triệu tế bào, tỷ lệ dị hình 36,7%, ở 29 oC số lượng tinh
trùng là 0,1 triệu tế bào, tỷ lệ dị hình là 99,7%, còn ở 32 oC không thấy xuất hiện
tinh trùng.
Ngoài việc cắt một bên mắt để kích thích sự thành thục và khả năng đẻ,
Vaca và ctv còn dùng kích dục tố setrotonin (5 - hydroxytrytamine), ở nồng độ
15 và 50 µg/g trọng lượng cơ thể để kích thích tôm đẻ lần thứ hai, tuy nhiên sự
thành thục và tỷ lệ đẻ của tôm cắt mắt cao hơn nhiều so với liệu pháp dùng kích
dục tố.
* Nghiên cứu về phòng trị bệnh
Hiện nay một trong những nguyên nhân chính làm giảm sút sản lượng
tôm trên thế giới đó là dịch bệnh. Theo thống kê sơ bộ, dịch bệnh đốm trắng xảy
ra vào 2 năm 1999-2000 đã làm sản lượng tôm he chân trắng giảm sút chỉ còn
chiếm 11% tổng sản lượng tôm trên thế giới, sau một thập kỷ phát triên nghề nuôi
tôm he chân trắng lại trở về thời kỳ ban đầu với mức sản lượng 90.000 tấn/năm.
Công tác phòng trị bệnh có ý nghĩa rất quan trọng, nó quyết định sự thành bại của
quy trình sản xuất.

gia ven biển Tây Thái Bình Dương như Ecuador, Mexico, Colombia, . . ..
Cũng có những chương trình cải thiện chất lượng di truyền đàn tôm he
chân trắng, kết quả bước đầu cho thấy có hy vọng tạo được một thế hệ con có
sức sống và sức đề kháng hơn hẳn đàn bố mẹ.
2.2.2. Tình hình nghiên cứu và sản xuất tôm giống tôm thẻ chân trắng tại Việt
Nam
Do rất thận trọng với đối tượng nhập nội nuôi mới, nước ta cho dù đã đưa
tôm he chân trắng vào nuôi từ năm 1997 ở Bạc Liêu (Công Ty TNHH Duyên
Hải), sau đó ở Phú Yên (Công ty Asia Hawaii Ventures), ở Ninh Thuận (Công
ty TNHH Anh Việt) và Hà Tĩnh (Công ty Công nghệ Việt Mỹ); việc sản xuất
giống tôm he chân trắng chỉ dừng lại ở mức độ tự cung tự cấp trong diện tích
của các đơn vị nói trên, và nhìn chung tỷ lệ sống trung bình từ Nauplius đến
Post-lavae chỉ dừng lại ở mức

Hệ thống sản xuất đa ngành khép kín theo mô hình “FEED-FARM-FOOD”
là một thế mạnh của Công ty CP trong sản xuất thực phẩm chất lượng cao và an
toàn cho người tiêu dùng.
Để hỗ trợ cho nghành chăn nuôi Việt Nam phát triển theo hướng công
nghiệp và nâng cao hiệu quả cho các trang trại, Công Ty đã xây dựng : Nhà máy
dụng cụ và thiết bị chăn nuôi tại khu công nghiệp Biên Hòa 2 Tỉnh Đồng Nai, 3 trại
gà giống Bố Mẹ và 3 Nhà máy Ấp Trứng tại Tỉnh Đồng Nai.
Nhiều trại heo giống ở các tỉnh: Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu...
Trong lĩnh vực chế biến thức ăn gia súc tại Việt Nam, tập đoàn C.P đã xây
dựng 2 nhà máy sản xuất thức ăn một tại miền nam và một tại miền trung. Nhiều
nhà máy và trại nuôi đang được xây dựng tại nhiều tỉnh trong cả nước và chuẩn bị
đưa vào sử dụng như ở Kiên Giang, Quảng Bình, Vũng Tàu...Vơi đội ngũ nhân
viên giàu kinh nghiệm của phòng thu mua, phòng thí nghiệm phòng bán hàng,
phòng kỹ thuật và được sự hỗ trợ của các chuyên gia của tập đoàn C.P trên Thế
Giới. Nghành thức ăn gia súc của công ty C.P Việt Nam luôn đứng đầu về chất
lượng và doanh số bán trên thị trường.
Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam chi nhánh Bình Đinh 3 nằm ở
thôn Xuân Thạnh, xã Mỹ An, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định 3. Giám đốc chi
nhánh là ông Piyapong Chatkul người Thái Lan, với tổng diện tích trại giống hơn
12ha, Đây là mọt trong những trại sản xuất tôm giống lớn nhất Việt Nam, sản
xuất giống dựa trên công nghệ tiên tiến của Thái Lan. Hệ thống trại bao gồm:
-

Hệ thống văn phòng làm việc của ban giám đốc

-

Khu nhà nghỉ của giám đốc và công nhân viên.


Từ ngày 06/01/2015 đến ngày 08/05/2015
3.1.2. Địa điểm nghiên cứu
Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P Việt Nam - Chi nhánh Bình Định 3, thôn
Xuân Thạnh, xã Mỹ An, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

Trại giống CP

Hình 3.1. Sơ đồ huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Tên tiếng Việt: Tôm chân trắng
Tên la tinh: Litopenaeus vannamei (Boone, 1931)
Tên tiếng anh: White Leg shrimp
3.3. Nội dung nghiên cứu
- Theo dõi biến động các yếu tố môi trường trong thời gian ương nuôi ấu
trùng tôm Chân trắng.
- Theo dõi ảnh hưởng của số lần cho ăn đến tốc độ sinh trưởng, tỷ lệ sống
của tôm Chân Trắng trong các bể ương ở Công ty Cổ Phần Chăn nuôi CP Việt
Nam – chi nhánh Bình Định 3, thôn XuânThạnh, xã Mỹ An, huyện Phù Mỹ, tỉnh
Bình Định.
20


- Thử nghiệm các thời gian cho ăn khác nhau trong các bể ương nuôi ấu
trùng tôm thẻ Chân trắng rút ra kết luận số lần cho ăn trong ngày phù hợp nhất.
Sơ đồ nội dung nghiên cứu

G

3.4. Phương pháp nghiên cứu
21

B2

12 lần
B3

B4

B5

B6



Nghiệm thức 1: 3 giờ cho ăn một lần, vào các thời gian: 8h, 11h, 14h, 17h, 20h,
23h, 2h, 5h



Nghiệm thức 2: 2 giờ cho ăn một lần, vào các thời gian: 7h, 9h, 11h, 13h, 15h,
17h, 19h, 21h, 23h, 1h, 3h, 5h
3.4.3. Phương pháp theo dõi các yếu tố môi trường
- Độ mặn đo bằng khúc xạ kế
- Độ kiềm đo bằng Ankality test kit
- NH3 và NO-2 đo bằng test kit
- pH đo bằng pH test kit
Mỗi yếu tố đo 1 ngày 1 lần
3.4.4. Phương pháp theo dõi khản năng sinh trưởng của ấu trùng tôm Chân
trắng giai đoạn postlarvar 1–12
3.4.4.1. Theo dõi chiều dài
- Phương pháp thu mẫu: Dùng vợt có mắt lưới 2a = 125µm để thu ấu

tổng số lượng tôm thu hoạch được
Tổng số lượng tôm ban đầu

x 100

* Phương pháp đánh giá chất lượng tôm giống: Tôm được đánh giá chất
lượng thông qua các chỉ tiêu, các phản ứng shock môi trường:
+ Quan sát các chỉ tiêu cảm quan của tôm giống: Màu sắc, trạng thái hoạt
động, các phụ bộ, sự đồng đều,…

23


+ Shock độ mặn: Thả tôm giống vào bát nước, tỷ lệ nước ngọt 50% (V =
1 lít) theo dõi tỷ lệ sống của tôm sau 60 phút tỷ lệ sống đạt trên 95% là đạt yêu
cầu. Ta lặp lại 3 lần.
+ Kiểm tra qua kính hiển vi.
3.4.5. Lượng thức ăn sử dụng
%cho ăn x khối lượng đàn tôm(g)

Lượng thức ăn sử dụng (g/ngày) =

1000

3.4.6. Hệ số tiêu tốn thức ăn
Công thức tính hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) như sau:
FCR =

Tổng lượng thức ăn sử dụng
Tổng khối lượng tôm


PL10-PL12

30g/bể/lần

35g/bể/lần

Giai đoạn P1-P3 ở 2 nghiệm thức cho ăn TNT2, các giai đoạn sau cho ăn
TNT3
24


3.5.2. Chế độ thay nước
-Thay nước vào mỗi buổi sáng 7h-8h, đồng thời vệ sinh thành bể.
-Thay từ 20-30% lượng nước trong bể.
- Nước thay phải qua kiểm tra đạt tiêu chuẩn môi trường nuôi.
3.5.3. Chăm sóc ấu trùng
Phải theo dõi tôm hằng ngày, thường xuyên kiểm tra tôm.
Chỉ tiêu theo dõi: lượng thức ăn tôm đã sử dụng, sự lột xác, màu sắc tôm
và khả năng hoạt động của tôm.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status