ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ HẢI NHƯ
PHÁP LUẬT VỀ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số
: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS VŨ TRỌNG HÁCH
Hà Nội – 2015
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính
xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh
toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc
gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
: Liên đoàn luật sư Việt Nam
UBND
: Ủy ban nhân dân
TP/ tp
: Thành phố
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Luật sư và vai trò của luật sư trong đời sống xã hội
Luật sư là một chức danh tư pháp độc lập, chỉ những người có đủ điều
kiện hành nghề chuyên nghiệp theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện
việc tư vấn pháp luật, đại diện theo ủy quyền, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp cho cá nhân, tổ chức và nhà nước trước tòa án và thực hiện các dịch vụ
pháp lý khác. Sứ mệnh xã hội của luật sư là góp phần bảo vệ công lý, công
bằng xã hội và pháp chế xã hội chủ nghĩa.
1.2. Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với nghề luật sư
Ở nước ta, từ khi Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ra đời cùng các
văn bản pháp luật liên quan khác luôn chứa các quy định về lĩnh vực luật sư,
từ những quy định nhỏ lẻ cho đến việc hình thành một mục riêng biệt cho
thấy cách nhìn nhận vị trí và vai trò của hoạt động hành nghề Luật sư ngày
càng được Đảng và Nhà nước quan tâm.
1.3. Những đóng góp và tác động của nghề luật sư
Có thể nói, Luật sư với tư cách là người có kiến thức sâu, rộng về pháp
luật có chức năng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, tham
tăng cường trật tự, kỷ cương quản lý nhà nước trong các hoạt động tư pháp” Nguyễn Thắng Lợi, Phó Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp – ngày 26/09/2013.
- Bài viết “Vai trò của Luật sư trong tố tụng hành chính” của luật sư
Nguyễn Thành Vĩnh;
- Sách pháp luật “Một số vấn đề về luật sư và nghề luật sư” (2013) TS.Nguyễn Văn Tuân - Nhà xuất bản Tư pháp;
Tuy nhiên các đề tài, chuyên đề và bài viết nêu trên mới chỉ cụ thể hóa
một khía cạnh hay một cách khái quát về hành nghề luật sư ở Việt Nam. Chưa
có đề tài nào đi sâu vào pháp luật về các hành vi và biện pháp xử lý vi phạm
hành chính trong hành nghề luật sư với tư cách cá nhân ở Việt Nam. Đề tài
6
“Pháp luật về vi phạm hành chính trong hành nghề Luật sư ở Việt Nam hiện
nay” là một vấn đề mới cần nghiên cứu để bổ sung vào hệ thống tài liệu về
Pháp luật hành chính để có những góc nhìn đa dạng và hoàn thiện toàn bộ hệ
thống quy định pháp luật của nước ta.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Mục đích:
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về vi phạm hành chính, phân tích,
đánh giá thực trạng về các hành vi, hoạt động xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực hành nghề Luật sư, cụ thể là những luật sư hành nghề với tư cách cá
nhân ở nước ta hiện nay. Từ đó đưa ra những biện pháp hoàn thiện cả về cơ sở
pháp lý và thực tiễn áp dụng pháp luật.
- Nhiệm vụ:
Từ mục đích chung nêu trên, trong nội dung luận văn cần phải làm rõ
một số vấn đề như sau:
+ Nghiên cứu nội hàm của khái niệm vi phạm hành chính trong hành nghề Luật
sư, xem xét quá trình phát triển của chế định này trong hệ thống pháp luật
Việt Nam, tham khảo một số quy định của pháp luật quốc tế về xử lý vi phạm
hành chính trong hành nghề Luật sư.
- Phương pháp nghiên cứu:
Các phương pháp nghiên cứu của Luận văn được xây dựng trên cơ sở
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch
sử, và đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Các phương pháp mà luận văn sử dụng bao gồm: phương pháp phân
tích quy phạm, phân tích vụ việc, và phân tích lịch sử; phương pháp tổng hợp,
thông kê, tập hợp các thông tin, số liệu và vụ việc; phương pháp điển hình
hoá, mô hình hóa các quan hệ xã hội; phương pháp hệ thống hóa các quy
phạm pháp luật; phương pháp so sánh pháp luật; và phương pháp đánh giá
thực trạng pháp luật.
6. Những điểm mới của luận văn
Vấn đề vi phạm hành chính không còn mới lạ nhưng khi xem xét trên
nhiều phương diện, nhiều khía cạnh và các lĩnh vực khác nhau, có không ít đề
8
tài về xử lý vi phạm hành chính hay các hành vi vi phạm hành chính nhưng
chưa có một đề tài nào chuyên sâu phân tích về các hành vi và hình thức xử lý
vi phạm hành chính trong hành nghề Luật sư, cụ thể đối với luật sư hành nghề
với tư cách cá nhân.
Đề tài “Pháp luật về vi phạm hành chính trong hành nghề Luật sư ở
Việt Nam hiện nay” là một vấn đề mới cần nghiên cứu, phân tích và đưa ra
phương hướng hoàn thiện cho phù hợp với công cuộc cải cách tư pháp ở Việt
Nam hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận
Đề tài giúp người nghiên cứu và những người đọc có được cái nhìn
thực tế trong thực trạng vi phạm hành chính trong hành nghề luật sư ở Việt
Nam và thực tiễn áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này.
Tư pháp (Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp), Tòa án Tối cao, Tòa án tiểu bang, Tòa án
Liên bang.
Đa số các nước trên thế giới không có sự phân biệt về luật sư tranh tụng
và luật sư tư vấn. Trong khi đó, nước Anh và Úc thì vẫn còn đang phân chia
luật sư thành hai loại là luật sư tranh tụng và luật sư tư vấn. Luật sư ở
Singapore, Pháp và Hoa Kỳ có mối liên hệ chặt chẽ với cơ quan Toà án, tồn
tại song song hoặc trực thuộc các toà án.
Luật sư ở Singapore thuộc Toà án tối cao Singapore; các luật sư Pháp
thành lập mỗi đoàn luật sư bên cạnh mỗi toà án thẩm quyền rộng. Luật sư ở
Hoa Kỳ, ở Úc được công nhận và cho phép hành nghề theo lãnh thổ từng
bang, trong phạm vi thẩm quyền tài phán của tòa án từng bang hoặc liên bang.
Một luật sư có thể được phép hành nghề tại nhiều bang và phải tuân theo quy
chế của từng bang đặt ra. Luật sư hành nghề tại tòa án tiểu bang cũng có thể
xin công nhận và được phép hành nghề tại các Tòa án tối cao của liên bang.
Luật sư hành nghề bằng kiến thức pháp luật, kỹ năng nghề nghiệp của
cá nhân luật sư. Nói cách khác, phẩm chất và năng lực cá nhân của luật sư là
10
yếu tố quyết định trong nghề luật sư. Người muốn hành nghề luật phải được
công nhận là luật sư. Pháp luật các nước trên thế giới thường không đưa ra
khái niệm luật sư mà chỉ quy định về tiêu chuẩn để trở thành luật sư. Tùy theo
quy định mỗi nước khác nhau về tiêu chuẩn luật sư và điều kiện hành nghề
luật sư mà xác định cơ quan hay tổ chức có thẩm quyền công nhận một người
là luật sư, cũng như thời điểm nào một người được công nhận là luật sư và
giấy tờ gì chứng minh một người là luật sư ở mỗi nước là khác nhau.
Tuy nhiên, nhìn chung, tiêu chuẩn phổ biến để được công nhận luật sư
là: Là công dân ở nước sở tại; Có bằng cử nhân luật; Có phẩm chất đạo đức
tốt. Ngoài các tiêu chuẩn trên, muốn trở thành luật sư phải qua đào tạo nghề,
nghề luật sư”. Thực ra như vậy không hoàn toàn chính xác về mặt ngôn ngữ.
Bởi vì “luật sư” là một danh từ chỉ người, chứ không phải dùng để chỉ một
nghề. Vì vậy trong tiếng Anh người ta dùng “Lawyer” (luật sư) và “Practice
law” (hành nghề luật). Tuy nhiên, theo chúng tôi việc sử dụng các cụm từ
“nghề luật sư” và “hành nghề luật sư” là phù hợp với thực tiễn của nước ta, có
thể chấp nhận được.
Khi bàn tới khái niệm nghề luật sư, về phương diện lý luận, cần đặt nó
trong bối cảnh so với các nghề nghiệp khác của xã hội, các giá trị, chuẩn mực
nghề nghiệp và vị trí, vai trò của nó trong sự phát triển của xã hội. Nghề Luật
sư là một nghề xuất hiện từ xa xưa và đang ngày càng phát triển, trở thành
nghề có phương thức hành nghề tự do, được các văn bản pháp luật của Nhà
nước quy định. Lịch sử nghề Luật sư ở mỗi nước gắn liền với chế độ chính trị
ở nước đó và phục vụ quyền lợi của giai cấp thống trị nước đó.
Vai trò của Luật sư có sự khác nhau trong các nền văn minh khác nhau,
tuy nhiên đều có chung một điểm cho rằng, Luật sư là một nghề trong xã hội ,
là công cụ hữu hiệu góp phần đảm bảo công lý. Hoạt động Luật sư trong cơ
chế thị trường được coi là một loại hình dịch vụ nghề nghiệp, được điều chỉnh
bằng các đạo luật về hành nghề Luật sư và các luật lệ về kinh doanh. Nghề
12
Luật sư được phát triển và giữ vai trò quan trọng trong các nước dân chủ phát
triển, và là một hoạt động chịu sự quản lý của Nhà nước. Nghề Luật sư rất
chú ý đến vai trò cá nhân, uy tín nghề nghiệp của Luật sư và tính chất của
nghề tự do trong tổ chức hành nghề Luật sư.
Về hành nghề Luật sư: Cụm từ “hành nghề luật sư” phải hiểu là việc
luật sư tham gia hoạt động tố tụng, thực hiện tư vấn pháp luật, các dịch vụ
pháp lý khác theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật.
cho khách hàng theo sự phân công của tổ chức hành nghề.
Có thể thấy rõ nếu so sánh hai hình thức hoạt động hành nghề trong
lĩnh vực Luật sư này thì luật sư hành nghề theo tư cách cá nhân ngoài có mối
quan hệ giữa luật sư với khách hàng như Luật sư hành nghề trong một tổ chức
hành nghề Luật sư, thì họ còn tồn tại một mối quan hệ nữa là Người lao động
với Người sử dụng lao động. Cũng vì vậy mà Luật sư hành nghề trong một
Văn phòng Luật sư hay Công ty Luật có tính độc lập về các tư vấn pháp lý
của mình hơn so với luật sư hành nghề theo tư cách cá nhân do còn bị rành
buộc bởi các quy định về nghĩa vụ của người lao động.
Dù có những điểm khác nhau nhưng mục đích chung của các luật sư dù
hoạt động dưới hình thức nào cũng đều là đưa ra lời khuyên về mặt pháp lý và
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.
1.1.1.2. Đặc điểm của luật sư và hành nghề Luật sư
Luật sư là những người được trọng vọng trong xã hội bởi vai trò quan
trọng của họ trong việc góp phần bảo vệ quyền cơ bản của công dân và phát
triển xã hội. Cũng vì vậy mà nghề luật sư không giống như những nghề bình
thường khác vì ngoài những yêu cầu về kiến thức và trình độ chuyên môn thì
người luật sư còn phải tuân thủ theo quy chế đạo đức nghề nghiệp.
Nghề Luật sư có đặc thù riêng của nó, đây là một nghề mang tính trí tuệ
rất cao, đòi hỏi kiến thức luật, vốn sống, suy nghĩ độc lập, bản lĩnh, sự nhanh
14
nhạy để tìm hiểu vụ việc, bảo vệ quyền lợi thân chủ và đấu trí với các đối
tượng liên quan đến vụ việc. Bởi vậy, người hành nghề Luật sư, bên cạnh kỹ
năng nghề nghiệp và kiến thức pháp luật, còn phải hiểu biết sâu sắc về cuộc
sống, nói cách khác là giàu vốn sống và có tinh thần nhân đạo. Luật sư thông
qua hoạt động nghề nghiệp của mình để đưa pháp luật vào cuộc sống, góp
phần vào việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật, nâng cao ý
truyền pháp luật, hướng cho mọi người thực hiện các hành vi ứng xử trên cơ
sở các quy định của pháp luật;chống mọi biểu hiện vi phạm pháp luật.
Thứ tư, Nghề luật sư là nghề liên quan đến lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của cá nhân, tổ chức: Các hoạt động
của luật sư trước hết hướng tới bảo vệ các giá trị vật chất và tinh thần của Nhà
nước lợi ích của dân tộc, tránh mọi biểu hiện xâm phạm độc lập, chủ quyền,
tự do và an ninh của Nhà nước, chống mọi biểu hiện và hành vi xâm phạm
đến tài sản của Nhà nước cũng như luôn luôn bảo vệ các giá trị Quốc thể.
Hoạt động nghề nghiệp của luật sư là bảo vệ các quyền, lợi ích chân
chính của mọi công dân, cá nhân như tài sản, danh dự, nhân phẩm… Hoạt
động của luật sư cũng liên quan đến việc bảo vệ quyền, lợi ích của các tổ chức
đặc biệt là các doanh nghiệp, các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh thuộc
mọi thành phần khác nhau trong nền kinh tế quốc dân…
Thứ năm, Nghề luật sư là nghề cao quý bởi hàm chứa những mục đích
và phẩm chất cao đẹp đòi hỏi có trình độ và năng lực cao, có văn hoá và đạo
đức trong sáng: Mọi hoạt động hành nghề của luật sư hướng tới mục đích bảo
vệ công lý, bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ
chức và cá nhân. Về phẩm chất, Luật sư là người có tư cách phẩm chất đạo
đức trong sáng, có ý thức tổ chức kỷ luật và xã hội cao; Người hành nghề luật
sư đòi hỏi phải có trình độ cao về kiến thức chuyên môn, thành thạo, chuyên
sâu về nghiệp vụ, có năng lực độc lập giải quyết các tình huống phát sinh
16
trong quá trình thực hiện hoạt động nghề nghiệp; Luật sư cũng phải là người
có văn hoá ở trình độ chuyên môn, mọi hành vi ứng xử đều chứa đựng các giá
trị về chân thiện mỹ.
Qua các đặc điểm nêu trên, có thể thấy vị thế và chức năng xã hội của
nghề luật sư là rất quan trọng thể hiện đậm nét trong cả lĩnh vực truyền thông,
Ở Việt Nam, tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư, đồng thời là
thành viên của Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Liên Đoàn Luật sư Việt Nam có
nhiệm vụ phối hợp với Bộ Tư pháp trong công tác quản lý luật sư và hành
nghề luật sư theo nguyên tắc kết hợp quản lý nhà nước với phát huy vai trò tự
quản của tổ chức xã hội – nghề nghiệp, nhằm nâng cao chất lượng của đội
ngũ luật sư cũng như chất lượng dịch vụ pháp lý của Luật sư, đảm bảo việc
tuân theo pháp luật, quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của Luật sư với
phương châm:“Đoàn kết – hợp tác – dân chủ – kỷ cương – lương tâm và
trách nhiệm”.
Tổ chức luật sư toàn quốc đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của luật sư, các Đoàn luật sư trong phạm vi cả nước; ban hành và giám sát
việc tuân theo Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư; tổ chức bồi
dưỡng thường xuyên về kiến thức pháp luật; đào tạo và bồi dưỡng nâng cao
kỹ năng hành nghề cho luật sư; tham gia xây dựng pháp luật, nghiên cứu khoa
học pháp lý, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; thực hiện công tác trợ
giúp pháp lý và các hoạt động hợp tác quốc tế về luật sư...
Với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của nghề Luật sư trong xã hội,
cần phải có một tổng thể các quy phạm và chế định pháp luật dành cho luật
sư, do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận với nội dung điều chỉnh mối quan
hệ của Luật sư với khách hàng, với các cơ quan Nhà nước, cơ quan tiến hành
tố tụng và người tiến hành tố tụng, với tổ chức xã hội nghề nghiệp của Luật
sư và cơ quan, tổ chức khác, phát sinh trong quá trình tổ chức và hoạt động
nghề nghiệp Luật sư; quản lý Nhà nước đối với nghề nghiệp Luật sư và tự
18
quản của tổ chức xã hội nghề nghiệp của Luật sư, được Nhà nước đảm bảo
thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế Nhà nước.
Trong quá trình phát triển và hòa nhập với thế giới, hoạt động hành
phạt/xử lý vi phạm hành chính 1989, 1995 và 2002, tuy nhiên về bản chất
hành vi vi phạm hành chính thì các định nghĩa trong các văn bản pháp luật
này, về cơ bản, không có gì khác nhau.
Theo đó, định nghĩa “vi phạm hành chính” có 04 dấu hiệu cơ bản sau đây:
Thứ nhất, vi phạm hành chính là hành vi trái pháp luật, vi phạm các
quy định của pháp luật về quản lý nhà nước; tác hại (tính nguy hiểm) do hành
vi gây ra ở mức độ thấp, chưa hoặc không cấu thành tội phạm hình sự và hành
vi đó được quy định trong các văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành
chính. Đây chính là dấu hiệu “pháp định” của vi phạm.
Thứ hai, hành vi đó phải là một hành vi khách quan đã được thực hiện
(hành động hoặc không hành động), phải là một việc thực, chứ không phải chỉ
tồn tại trong ý thức hoặc mới chỉ là dự định, đây có thể coi là dấu hiệu “vật
chất” của vi phạm.
Thứ ba, hành vi đó do một cá nhân hoặc pháp nhân (tổ chức) thực hiện,
đây là dấu hiệu xác định“chủ thể” của vi phạm.
Thứ tư, hành vi đó là một hành vi có lỗi, tức là người vi phạm nhận
thức được vi phạm của mình, hình thức lỗi có thể là cố ý, nếu người vi phạm
nhận thức được tính chất trái pháp luật trong hành vi của mình, thấy trước hậu
quả của vi phạm và mong muốn hậu quả đó xảy ra hoặc ý thức được hậu quả
và để mặc cho hậu quả xảy ra; hình thức lỗi là vô ý trong trường hợp người vi
phạm thấy trước được hậu quả của hành vi nhưng chủ quan cho rằng mình có
thể ngăn chặn được hậu quả hoặc không thấy trước hậu quả sẽ xảy ra dù phải
thấy trước và có thể thấy trước được hậu quả của vi phạm. Đây có thể coi là
dấu hiệu “tinh thần” của vi phạm.
Hành vi vi phạm hành chính là hành vi vi phạm các quy định của pháp
luật về quản lý nhà nước do cá nhân, tổ chức thực hiện và vi phạm này không
20
Các biện pháp xử lý hành chính khác là những biện pháp hành chính có
tính đặc thù và tính cưỡng chế cao hơn các hình thức xử phạt hành chính
thông thường, chỉ áp dụng đối với chủ thể vi phạm là cá nhân, căn cứ vào
nhân thân và quá trình vi phạm pháp luật của đối tượng; bao gồm giáo dục tại
xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa
vào cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính.
Nhìn chung, xử lý vi phạm hành chính, xử phạt vi phạm hành chính, áp
dụng các biện pháp xử lý hành chính khác có thể hiểu chung là việc áp dụng
các biện pháp, chế tài mang tính cưỡng chế hành chính của Nhà nước đối với
chủ thể có hành vi vi phạm hành chính.
1.1.2.2. Pháp luật vi phạm hành chính trong hành nghề luật sư
Đối với các chế định chính điều chỉnh hành vi của luật sư, trong đó có
cả hành vi vi phạm hành chính, bao gồm: Pháp lệnh luật sư năm 1995; Pháp
lệnh luật sư năm 2001; Luật luật sư năm 2006; Luật luật sư 2006 được sửa
đổi, bổ sung một số điều năm 2012. Ngoài các Pháp lệnh và Bộ luật nói trên,
các quy định pháp luật còn được hướng dẫn chi tiết tại các Nghị định, thông
tư do Chính phủ và Bộ tư pháp thông qua nhằm làm rõ hơn việc áp dụng pháp
luật vào thực tiễn đời sống. Mỗi giai đoạn lịch sử lại có những chế định điều
chỉnh phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội.
Nghị định số 76/2006/NĐ-CP ngày 02/08/2006 quy định xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp. Căn cứ Pháp lệnh Xử lý vi phạm
hành chính năm 2002 và Pháp lệnh Luật sư năm 2001; Nghị định 76 quy định
quy định các hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức phạt, thẩm
quyền xử phạt, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Tư pháp,
trong đó có hoạt động luật sư. Cụ thể, quy định về Hành vi vi phạm quy định
trong hoạt động hành nghề của luật sư nằm tại Điều 21 của Nghị định.
22
Hiện nay, các hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt và biện
pháp khắc phục hậu quả trong hoạt động luật sư được quy định cụ thể từ Điều
5 đến Điều 8 thuộc Mục 1 Chương II tại Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày
24/09/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong một
số lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp.
Từ các dữ liệu nêu trên, ta có thể thấy hiện nay, trải qua nhiều sự thay
đổi, bổ sung và ngày càng hoàn thiện, văn bản pháp luật có hiệu lực điều
chỉnh các hành vi và hoạt động của luật sư, cũng như quy định biện pháp xử
lý các hành vi vi phạm của luật sư tại thời điểm này là: Luật xử lý vi phạm
hành chính năm 2012; Luật luật sư 2006 được sửa đổi, bổ sung một số điều
năm 2012 (LLS 2012); Nghị định 110/2013/NĐ-CP.
1.1.2.3. Đặc điểm của pháp luật vi phạm hành chính trong hành nghề luật sư
Cũng như bất cứ hoạt động nghề nghiệp nào khác, nền tảng hoạt động
của nghề luật sư phải dựa trên pháp luật và các quy chế trách nhiệm nghề
nghiệp. Pháp luật về luật sư được coi là hệ thống các quy phạm pháp luật xác
định vị trí, vai trò của luật sư trong xã hội, quy định các quyền và nghĩa vụ
của luật sư trong hành nghề, phạm vi quản lý Nhà nước đối với hoạt động luật
sư và tính tự quản trong tổ chức nghề nghiệp luật sư; xử lý vi phạm trong hoạt
động nghề nghiệp…
Tuy đối tượng và phạm vi điều chỉnh của pháp luật và quy chế trách
nhiệm nghề nghiệp luật sư có khác nhau, nhưng giữa chúng có mối liên hệ
mật thiết và chi phối lẫn nhau. Pháp luật về luật sư có tác dụng như “hành
lang”, “khuôn mẫu chung” cho luật sư hoạt động với các quyền và nghĩa vụ
cụ thể trước pháp luật, còn quy chế trách nhiệm nghề nghiệp luật sư lại chủ
yếu điều chỉnh hành vi ứng xử của luật sư trong hoạt động nghề nghiệp và
trong xã hội, tuy không hoàn toàn mang tính bắt buộc nhưng cũng đòi hỏi
phải được sự tôn trọng từ phía các luật sư.
25