Sử dụng Nghiệp vụ TTM trong việc điều hành CSTTQG ở VN Nhóm 4 - Đêm1 TCDN- K20
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp
Phòng Đào Tạo Sau DH
TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI 9:
“Sử Dụng Nghiệp Vụ Thị Trường Mở
Trong Việc Điều Hành Chính Sách Tiền Tệ
Quốc Gia Ở Việt Nam Hiện Nay”
GV HD: PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
Nhóm thực hiện: Nhóm 4
Lớp: Đêm 1 – TCDN K20
Tp. Hồ Chí Minh, Ngày 30 tháng 03 năm 2012
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Đăng Dờn Trang 1
Sử dụng Nghiệp vụ TTM trong việc điều hành CSTTQG ở VN Nhóm 4 - Đêm1 TCDN- K20
DANH SÁCH NHÓM 4_ TCDN ĐÊM 1
STT Họ và tên Email Điện thoại Ghi chú
1 Lê Thị Ngọc Mai [email protected] 0983922687
2 Nguyễn Thị Kim Hoàng [email protected] 0983311480
3 Mai Thị Lệ Huyền [email protected] 0983198703
Nhóm
trưởng
4 Nguyễn Thị Kim Oanh [email protected] 0908070644
5 Phạm Ngọc Thảo [email protected] 0902203488
6 Vương Văn Thuận [email protected] 0919611228
7 Trần Thị Xuân Thùy [email protected] 0979112434
Nhóm
phó
8 Nguyễn Thị Bích Thủy [email protected] 0908628009
triển kinh tế vĩ mô đều phải sử dụng các chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách tài
chính, chính sách thu nhập, chính sách kinh tế đối ngoại và chính sách tiền tệ (CSTT).
Thông qua việc điều hành các chính sách này để tác động đến các mục tiêu như tăng
trưởng, lạm phát, việc làm … Vì vậy, CSTT đóng vai trò là một bộ phận quan trọng và
không thể thiếu trong hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước.
1.1. Khái niệm về chính sách tiền tệ
CSTT là một chính sách kinh tế vĩ mô mà trong đó NHTW sử dụng các công cụ của
mình để điều tiết và kiểm soát các điều kiện tiền tệ của nền kinh tế nhằm đảm bảo sự ổn
định giá trị tiền tệ, tạo nền tảng thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và duy trì các mục tiêu xã
hội hợp lý.
Theo nghĩa rộng, CSTT là chính sách điều hành toàn bộ khối lượng tiền tệ trong nền
kinh tế nhằm phân bổ một cách hiệu quả nhất các nguồn lực nhằm thực hiện các mục tiêu
tăng trưởng, cân đối kinh tế trên cơ sở đó ổn định giá trị đồng tiền quốc gia. Theo nghĩa
hẹp, CSTT là chính sách đảm bảo sao cho khối lượng tiền cung ứng tăng thêm trong một
năm tương ứng với mức tăng trưởng kinh tế và chỉ số lạm phát nhằm ổn định giá trị của
đồng tiền, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô.
NHTW có vai trò rất quan trọng trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến
CSTT vì mọi hoạt động của NHTW và hệ thống ngân hàng đều ảnh hưởng đến hệ thống
điều kiện tiền tệ của nền kinh tế được thể hiện qua các chỉ tiêu như khối lượng tiền, tín
dụng, lãi suất, tỷ giá … Vì thế công t xây dựng và điều hành CSTT là trọng tâm hoạt động
của một NHTW.
1.2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ
Nội dung của CSTT thể hiện thông qua việc thiết kế hệ thống mục tiêu của CSTT
trong từng thời kỳ bao gồm các mục tiêu tổng quát và hệ thống mục tiêu điều hành.
1.2.1. Mục tiêu tổng quát (mục tiêu cuối cùng)
Mục tiêu CSTT hầu như thống nhất ở các nước. Sự điều chỉnh lượng tiền cung ứng
nhằm mục tiêu trước hết là ổn định giá trị tiền tệ, trên cơ sở đó góp phần tăng trưởng kinh
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Đăng Dờn Trang 4
Sử dụng Nghiệp vụ TTM trong việc điều hành CSTTQG ở VN Nhóm 4 - Đêm1 TCDN- K20
tế và tạo công ăn việc làm. Ngoài các mục tiêu vĩ mô trên, một số nước còn tập trung vào
Mục tiêu hoạt động
Mục tiêu hoạt động là các chỉ tiêu có phản ứng tức thời với sự điều chỉnh của công
cụ CSTT đồng thời có mối quan hệ chi phối tới các mục tiêu trung gian. Việc lựa chọn hệ
thống chỉ tiêu thích hợp làm mục tiêu hoạt động có ý nghĩa quan trọng quyết định hiệu
quả tác động của CSTT. Hệ thống chỉ tiêu này vừa đóng vai trò phản ánh tình trạng CSTT
đồng thời phản ánh dấu hiệu về định hướng CSTT của NHTW.
Các tiêu chuẩn lựa chọn chỉ tiêu làm mục tiêu hoạt động cũng tương tự như tiêu
chuẩn lựa chọn mục tiêu trung gian, bao gồm: (1) Phải đo lường được nhằm tránh những
suy diễn thiếu chính xác làm sai lệch dấu hiệu của CSTT; (2) Phải có mối quan hệ trực
tiếp và ổn định với các công cụ của CSTT; (3) Phải có mối quan hệ chặt chẽ và ổn định
với mụcc tiêu trung gian được lựa chọn. Căn cứ vào tiêu chuẩn trên, các chỉ tiêu thường
được lựa chọn làm mục tiêu hoạt động của NHTW bao gồm: lãi suất liên ngân hàng và dự
trữ ngân hàng.
1.3. Các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ
Để thực hiện CSTT theo các mục tiêu đã xác định trong từng thời kỳ, NHTW sử dụng
một số công cụ CSTT nhằm tác động đến khối lượng tiền trong lưu thông và lãi suất (chi phí)
vay vốn. Công cụ CSTT là các hoạt động được thực hiện trực tiếp bởi NHTW nhằm tác động
trực tiếp tới các mục tiêu hoạt động, qua đó ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới mục tiêu
trung gian, từ đó đạt được các mục tiêu cuối cùng của CSTT.
1.3.1. Các công cụ chủ yếu
Đây là nhóm công cụ tác động trước hết vào các mục tiêu hoạt động của CSTT như lãi
suất thị trường liên ngân hàng, dự trữ không vay, dự trữ đi vay, … và thông qua cơ chế thị
trường mà tác động này truyền tới các mục tiêu trung gian là khối lượng tiền cung ứng và lãi
suất. Nhóm công cụ này bao gồm:
Dự trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc (DTBB) là số tiền mà các NHTM buộc phải duy trì trên một tài
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Đăng Dờn Trang 6
Sử dụng Nghiệp vụ TTM trong việc điều hành CSTTQG ở VN Nhóm 4 - Đêm1 TCDN- K20
khoản tiền gửi tại NHTW trong một thời kỳ nhất định. DTBB được tính trên cơ sở tỷ lệ
DTBB do NHTW quy định đối với từng loại tiền gửi cấu thành nên nguồn vốn hoạt
1.3.2. Các công cụ bổ trợ
Bên cạnh những công cụ chủ yếu nêu trên thì NHTW còn sử dụng các công cụ bổ trợ để
thực hiện CSTT.
Lãi suất
Hạn mức tín dụng
Tỷ giá hối đoái
1.4. Khái quát về nghiệp vụ thị trường mở
1.4.1. Vai trò và sự cần thiết của nghiệp vụ thị trường mở
Đối với ngân hàng trung ương
Để thực hiện nhiệm vụ ổn định giá trị đồng tiền, NHTW đã xây dựng và thực thi các
công cụ CSTT nhằm đưa tiền ra và rút tiền về từ lưu thông theo tín hiệu thị trường. Trong
đó, OMO là công cụ CSTT gián tiếp quan trọng nhất tại nhiều quốc gia làm thay đổi cung
- cầu tiền tệ dẫn đến thay đổi lãi suất trên thị trường tiền tệ. Thông qua việc mua bán
GTCG tại thị trường mở, NHTW có thể mở rộng hoặc thu hẹp khối lượng tiền dự trữ
trong hệ thống ngân hàng và tác động một cách tốt nhất đến cơ số tiền tệ, lượng tiền cung
ứng. Như vậy, OMO đã tạo điều kiện cho NHTW hạn chế sử dụng các công cụ mang tính
trực tiếp trong điều hành CSTT.
Bên cạnh mục đích điều tiết vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng, thông qua mua
bán GTCG trên thị trường mở, NHTW còn cấp tín hiệu cho thị trường về định hướng điều
hành CSTT trong tương lai là nới lỏng hay thắt chặt. Đặc biệt khi thực hiện OMO thường
xuyên và hiệu quả, lãi suất thị trường mở có ý nghĩa rất quan trọng trong việc định hướng,
chỉ đạo lãi suất thị trường và qua đó NHTW có thể hạn chế những biến động của lãi suất
thị trường.
OMO là một công cụ CSTT có tính chủ động cao. OMO do NHTW chủ động khởi
xướng, khác với các nghiệp vụ cho vay hỗ trợ vốn khác của NHTW thường do các ngân
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Đăng Dờn Trang 8
Sử dụng Nghiệp vụ TTM trong việc điều hành CSTTQG ở VN Nhóm 4 - Đêm1 TCDN- K20
hàng có nhu cầu vay vốn chủ động khởi xướng. Như vậy, NHTW có thể chủ động thực
hiện OMO theo định kỳ hoặc vào các thời điểm cần thiết. OMO có thể được thực hiện linh
hoạt xét trên góc độ về khối lượng cũng như thời gian giao dịch. NHTW có thể thực hiện
vay, bảo lãnh, dịch vụ … mà còn sử dụng một nguồn vốn nhất định để thực hiện nghiệp
vụ kinh doanh mới là mua bán các GTCG. OMO cũng thúc đẩy các mối quan hệ mang
tính kinh doanh giữa các thành viên tham gia thị trường.
OMO do các ngân hàng tự nguyện tham gia thực hiện theo các nguyên tắc thị
trường, không mang tính chất bắt buộc như DTBB và cũng không có tác động như một
hình thức "đánh thuế" đối với hoạt động của các ngân hàng như DTBB. Lãi suất trên thị
trường mở cũng mang tính chất thị trường chứ không bị áp đặt như trong công cụ chiết
khấu GTCG của NHTW.
Như vậy, thị trường mở tạo điều kiện cho các ngân hàng sử dụng nguồn vốn tạm thời
nhàn rỗi hiệu quả hơn và đa dạng hoá thêm các nghiệp vụ kinh doanh của các ngân hàng.
Đối với nền kinh tế
Mặc dù thành viên của OMO chủ yếu là các tổ chức tín dụng, tài chính và NHTW
nhưng OMO cũng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế.
Thông qua việc phát hành, mua bán GTCG trên thị trường mở, các chủ thể của thị
trường mở đã làm tăng thêm tính thanh khoản cho các GTCG này. Điều này góp phần
thúc đẩy các thị trường tài chính phát triển. Từ đó, tạo điều kiện cho các trung gian tài
chính thu hút vốn trong nền kinh tế và thay đổi thói quen tiết kiệm, tiêu dùng của các hộ
gia đình trong nền kinh tế.
Thị trường mở có sự gắn kết chặt chẽ với các thị trường tiền tệ, đặc biệt là thị trường
nội tệ liên ngân hàng. Sự phát triển của thị trường mở tác động mạnh đến sự hoàn thiện và
phát triển của thị trường liên ngân hàng.
Mặt khác, hiện nay Việt Nam đang trong quá trình mở cửa và hội nhập vào nền kinh
tế thế giới. Việt Nam phải thực hiện các cam kết yêu cầu của các tổ chức tài chính, tiền tệ,
thương mại quốc tế hay các quốc gia phát triển, trong đó có yêu cầu về cải cách hệ thống
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Đăng Dờn Trang 10
Sử dụng Nghiệp vụ TTM trong việc điều hành CSTTQG ở VN Nhóm 4 - Đêm1 TCDN- K20
ngân hàng và nâng cao tính minh bạch trong các hoạt động của NHTW. Tại các quốc gia
phát triển hay các quốc gia trong khu vực Đông Nam á đều sử dụng OMO trong điều hành
CSTT để đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Chính vì vậy, việc sử dụng OMO là một
điều kiện cần thiết để hội nhập nền kinh tế vào khu vực và thế giới.
lượng TD
giảm
Cung
tiền
giảm
Sử dụng Nghiệp vụ TTM trong việc điều hành CSTTQG ở VN Nhóm 4 - Đêm1 TCDN- K20
thị trường nó sẽ tác động đến dự trữ của các ngân hàng, làm ảnh hưởng đến khối lượng tín
dụng, từ đó ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng.
Về mặt giá - Tác động qua lãi suất
Hành vi mua bán GTCG của NHTW trên thị trường mở có thể ảnh hưởng gián tiếp
đến mức lãi suất thị trường thông qua 2 con đường sau:
Thứ nhất, khi dự trữ của ngân hàng bị ảnh hưởng sẽ tác động đến cung cầu vốn
NHTW trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Đến lượt nó, cung cầu tiền trung ương thay
đổi sẽ dẫn đến lãi suất thị trường tiền NHTW thay đổi. Mức lãi suất ngắn hạn này, thông
qua dự đoán của thị trường và các hoạt động arbitrage về lãi suất, sẽ truyền tác động tới
các mức lãi suất trung và dài hạn trên thị trường tài chính. Tại một mức lãi suất thị trường
xác định, tổng cầu AD của nền kinh tế, và do đó tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ được quyết
định.
Sơ đồ 1.2. Cơ chế tác động của OMO qua lãi suất
Thứ hai, việc mua bán GTCG sẽ làm ảnh hưởng ngay đến quan hệ cung cầu về loại
GTCG đó trên thị trường và giá cả của nó. Khi giá chứng khoán thay đổi, tỷ lệ sinh lời của
chúng cũng thay đổi. Nếu khối lượng chứng khoán này chiếm tỷ trọng lớn trong các giao
dịch trên thị trường tài chính thì sự thay đổi tỷ lệ sinh lời của nó sẽ tác động trở lại lãi suất
thị trường, và vì thế mà tác động đến tổng cầu AD và sản lượng.
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Đăng Dờn Trang 12
Cung TPKB
tăng
NHTW bán
TPKB
Dự trữ NH
NHTW ở các nước. Các tiêu chuẩn này nhằm mục đích: (i) Các đối tác phải đảm bảo độ
tin cậy nhất định và (ii) Việc giao dịch với các đối tác phải có hiệu quả xét trên khía cạnh
can thiệp của NHTW. Thông thường, thành viên OMO bao gồm:
Ngân hàng trung ương
NHTW là người tổ chức, xây dựng và vận hành hoạt động của thị trường mở theo
các mục tiêu CSTT. NHTW là người quyết định lựa chọn sử dụng các loại OMO và tần
suất sử dụng OMO. NHTW tham gia thị trường thông qua việc mua bán các GTCG nhằm
tác động đến dự trữ của hệ thống ngân hàng để đảm bảo khả năng thanh toán và gián tiếp
tác động đến các lãi suất thị trường theo mục tiêu CSTT. NHTW cũng là người can thiệp
thị trường khi cần thiết thông qua thực hiện chức năng người cho vay cuối cùng nhằm
kiểm soát tiền tệ, đảm bảo đủ phương tiện thanh toán cho các TCTD cũng như nhu cầu tín
dụng của nền kinh tế.
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Đăng Dờn Trang 13
Sử dụng Nghiệp vụ TTM trong việc điều hành CSTTQG ở VN Nhóm 4 - Đêm1 TCDN- K20
Như vậy, NHTW tham gia thị trường mở không phải vì mục tiêu kinh doanh mà để
quản lý, chi phối, điều tiết thị trường làm cho CSTT được thực hiện theo các mục tiêu xác
định của nó.
Các đối tác của ngân hàng trung ương
Các ngân hàng thương mại
Các NHTM là thành viên chủ yếu tham gia OMO của NHTW và là đối tác quan
trọng của NHTW xét trên 2 phương diện độ tin cậy và tính hiệu quả. Các NHTM tham gia
thị trường nhằm điều hoà vốn khả dụng để đảm bảo khả năng thanh toán và đầu tư các
nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để hưởng lãi.
Sự tham gia của các NHTM trong các giao dịch OMO có ý nghĩa quan trọng xét trên
góc độ hiệu quả CSTT do: (i) NHTM là trung gian tài chính lớn nhất, có mạng lưới hoạt
động rộng. NHTM đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế, nhất
là ở các nước đang phát triển; (ii) Hơn nữa NHTM vừa là người đi vay, vừa là người cho
vay trên thị trường tiền tệ.
Các tổ chức tài chính phi ngân hàng
Tại một số quốc gia, các tổ chức tài chính phi ngân hàng cũng được tham gia OMO.
năm nhưng trái phiếu Chính phủ được sử dụng khá rộng rãi trong các giao dịch OMO ở
một số nước bởi tính an toàn, ổn định trong phát hành và khối lượng phát hành thường
lớn, có khả năng tác động trực tiếp giá cả trên thị trường tài chính.
Trái phiếu Chính quyền địa phương
Tương tự như trái phiếu Chính phủ, nhưng trái phiếu chính quyền địa phương khác
về thời hạn và các điều kiện ưu đãi về thuế thu nhập từ trái phiếu và thường do các chính
quyền địa phương lớn phát hành. Sự can thiệp của NHTW thông qua việc mua bán loại
trái phiếu này cũng tương tự như trái phiếu Chính phủ.
Chứng chỉ tiền gửi
Chứng chỉ tiền gửi (CCTG) là giấy nhận nợ của ngân hàng hay tổ chức tài chính phi
ngân hàng phát hành, xác nhận một món tiền đã được gửi vào ngân hàng với một kỳ hạn
và lãi suất nhất định. Thời hạn của CCTG thường là ngắn hạn.
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Đăng Dờn Trang 15
Sử dụng Nghiệp vụ TTM trong việc điều hành CSTTQG ở VN Nhóm 4 - Đêm1 TCDN- K20
1.4.6. Phương thức giao dịch của thị trường mở
1.4.6.1. Các loại giao dịch của nghiệp vụ thị trường mở
Có 2 loại giao dịch trên thị trường mở là giao dịch không hoàn lại (mua bán hẳn) và
giao dịch (mua bán) có kỳ hạn.
• Giao dịch không hoàn lại (mua bán hẳn)
Giao dịch không hoàn lại (mua bán hẳn) là các giao dịch mua bán GTCG của
NHTW theo phương thức mua đứt, bán đoạn trên cơ sở giá thị trường. Theo phương thức
này, quyền sở hữu của GTCG là đối tượng giao dịch được chuyển sang cho NHTW hoặc
ngược lại cho các thành viên tham gia giao dịch. Do vậy tác động của giao dịch này đối
với dự trữ ngân hàng thường là dài hạn.
• Giao dịch mua bán có kỳ hạn
Phương thức giao dịch này thường được sử dụng cho mục đích giao dịch tạm thời
thông qua các hợp đồng mua lại (Repos) hoặc hợp đồng mua lại đảo ngược. Repos được
sử dụng khi NHTW thực hiện mua GTCG với thoả thuận là sau một thời gian ngắn trong
tương lai người bán sẽ mua lại các GTCG đó. Repos đảo ngược được sử dụng khi NHTW
thực hiện bán GTCG với thoả thuận người mua sẽ bán lại vào một ngày xác định trong
bổ trước cho đến khi khối lượng phân phối được sử dụng hết.
- Trường hợp NHTW cần hút tiền từ lưu thông về thông qua việc bán GTCG thì các
quy trình diễn ra ngược lại.
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Đăng Dờn Trang 17
Sử dụng Nghiệp vụ TTM trong việc điều hành CSTTQG ở VN Nhóm 4 - Đêm1 TCDN- K20
CHƯƠNG 2: SỬ DỤNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ TRONG VIỆC ĐIỀU
HÀNH CSTT QUỐC GIA HIỆN NAY
2.1 Sử dụng nghiệp vụ thị trường mở trong việc điều hành CSTT Quốc gia hiện nay
Ở Việt Nam, nghiệp vụ thị trường mở được biết tới từ lâu nhưng chính thức triển
khai kể từ khi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước phê duyệt Đề án triển khai nghiệp vụ thị
trường mở theo Quyết định số 340/1999/QĐ- NHNN14 ngày 30/9/1999.
Đến năm 2007, Ngân hàng nhà nước ban hành quy chế nghiệp vụ thị trường mở với
Quyết định số 01/2007/QĐ – NHNN ngày 5 tháng 1 năm 2007. Theo điều 8 của quyết
định này, các loại giấy tờ có giá được Ngân hàng Nhà nước chấp nhận giao dịch qua
nghiệp vụ thị trường mở phải có đủ các điều kiện sau đây:
* Có thể mua, bán được và nằm trong danh mục các loại giấy tờ có giá được giao
dịch qua nghiệp vụ thị trường mở;
* Được phát hành bằng đồng Việt Nam
* Được lưu ký tại Ngân hàng Nhà nước trước khi đăng ký bán
* Giấy tờ có giá được mua hẳn hoặc bán hẳn có thời hạn còn lại tối đa là 90 ngày
Thực tế, các loại giấy tờ có giá được giao dịch phổ biến hiện nay trên thị trường mở chủ
yếu gồm 4 loại sau:
- Tín phiếu kho bạc
- Tín phiếu NHTW
- Trái phiếu chính phủ
- Trái phiếu chính quyền địa phương.
Do các loại trên có tính thanh khoản cao, độ an toàn tuyệt đối, khó có thể làm giả và mức
độ rủi ro thấp.
Mục tiêu ban đầu đặt ra là thông qua hoạt động của OMO, Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam (NHNN) có thể chủ động điều tiết vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng
Sử dụng Nghiệp vụ TTM trong việc điều hành CSTTQG ở VN Nhóm 4 - Đêm1 TCDN- K20
Mặc dù nghiệp vụ thị trường mở là một công cụ điều hành chính sách hoàn toàn
mới và được vận hành lần đầu tiên ở Việt Nam đã thu hút đông đảo thành viên là các
TCTD tham gia, chi tiết như sau: (Bảng 1)
BẢNG 1: KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ
(Từ năm 2000 đến năm 2007)
Đơn vị: Tỷ đồng
Thời
gian
Số
phiên
Khối lượng
chào thầu
KHỐI LƯỢNG TRÚNG THẦU
% năm
sau so
với
năm
trước
Lãi suất
trúng
thầu
Tổng
số
Trong đó
Mua
hẳn
Mua có
kỳ hạn
Bán hẳn
0
70
0 165% 3.7-7.4
2006 162 140,850 124,235
36,83
3
87,20
2
20
0 121% 0.8-7.1
2007 355 2,027,600 417,977
61,13
3
356,84
4 336% 3.75-8
Tổng số 1,055 2,469,117 742,795 540 280,849
459,50
6 1,900
Nhìn vào số liệu ở Bảng 1 cho thấy, kết quả hoạt động hết sức ấn tượng, cả về sự
đa dạng trong các phương thức giao dịch cũng như khối lượng trúng thầu tăng mạnh mẽ
qua từng năm. Cụ thể, năm 2000, khối lượng trúng thầu mới chỉ là 1.904 tỷ đồng, thì đến
năm 2007, khối lượng trúng thầu đạt 417.977 tỷ đồng. Trong 7 năm qua (2000 - 2007),
NHNN đã bơm tiền ra lưu thông qua việc mua kỳ hạn và mua hẳn GTCG là 281.389 tỷ
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Đăng Dờn Trang 20
Sử dụng Nghiệp vụ TTM trong việc điều hành CSTTQG ở VN Nhóm 4 - Đêm1 TCDN- K20
đồng, hút tiền về từ lưu thông qua việc bán kỳ hạn và bán hẳn GTCG là 461.406 tỷ
đồng.
Trên cơ sở theo dõi sát diễn biến kinh tế và tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước đã điều
hành khá linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ, điều tiết kịp thời cung - cầu vốn trên thị
trường tiền tệ và nhu cầu thiếu hụt vốn khả dụng của các NHTM.
Thêm vào đó, thời điểm những tháng cuối năm 2008 đầu năm 2009 là thời kỳ nền
kinh tế trong nước chịu rất nhiều sự tác động tiêu cực bởi sự bất ổn tài chính của các
nước trên thế giới và vấn đề nợ công của khu vực Châu Âu. Các ngân hàn gặp khó khăn
về thanh khoản, khi đó, NHNN đã thực hiện cung một khối lượng tiền đáng kể để hỗ trợ
các ngân hàng. Có thời điểm, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng lên tới hơn
40%/năm, NHNN kịp thời can thiệp thông qua nghiệp vụ thị trường mở bằng việc tăng
lượng cung tiền và áp dụng phương pháp đấu thầu khối lượng, dường như ngay lập tức,
lãi suất liên ngân hàng giảm quanh mức 20%/năm.
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Đăng Dờn Trang 22
Năm
2008 2009 2010 2011
Cung
ứng
Hấp
thụ
Cung
ứng
ròng
Cung
ứng
Hấp
thụ
Cung
ứng
ròng
Cung
ứng
Hấp
thụ
Cung
3.100
267.393 238.494
28.899
446.510 365.326
81.184
IV
83.860 10.273
73.587
570.050 489.943
80.107
920.385 821.439
98.946
Tổng 1.014.196 913.692 100.685 966.879 844.049 122.830
2.108.715 1.814.411
294.304
2.300.062 2.287.006 13.056
Sử dụng Nghiệp vụ TTM trong việc điều hành CSTTQG ở VN Nhóm 4 - Đêm1 TCDN- K20
Bảng 2: Lượng tiền cung ứng ròng qua nghiệp vụ thị trường mở
Đơn vị: Tỷ
đồng
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Đăng Dờn Trang 23
Sử dụng Nghiệp vụ TTM trong việc điều hành CSTTQG ở VN Nhóm 4 - Đêm1 TCDN- K20
Biểu đồ 2: Lượng tiền cung ứng ròng qua nghiệp vụ thị trường mở
2,500,000
2,000,000
1,500,00
0
1,000,00
0
mua
Doanh
số
b
á
n
Tổng
doanh số
giao dịch
% so
vớ
i
n
ă
m
t
rướ
c
Số
phi
ê
n
Doanh
số
bình
qu
â
n
/
phi