LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS.Trịnh Thị Lan - người đã
trực tiếp, tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, thực
hiện và hoàn thành luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong tổ LL và
PPDH bộ môn Văn – Tiếng Việt, Ban Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn, Phòng Sau
đại học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong
quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã hết sức tạo điều kiện, ủng
hộ và giúp đỡ tôi trong quá trình học.
Hà Nội, ngày 01 tháng 06 năm 2015
Học viên
Đinh Thị Thùy Linh
1
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
2
DA
:Dự án
DH
: Dạy học
DHDA
TPVC
: Tác phẩm văn chương
MỤC LỤC
3
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Việc đổi mới giáo dục trung học phải dựa trên những đường lối,
quan điểm chỉ đạo giáo dục của nhà nước; đó là những định hướng quan trọng
về chính sách và quan điểm trong việc phát triển và đổi mới giáo dục trung
học. Những quan điểm và đường lối chỉ đạo của nhà nước về đổi mới giáo
dục nói chung và giáo dục trung học nói riêng được thể hiện trong nhiều văn
bản, đặc biệt trong các văn bản sau đây:
Nghị quyết 29 của Ban chấp hành TW Đảng lần thứ 8 (khóa XI) đã yêu
cầu đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam. Trong đó, việc đổi
mới giáo dục phổ thông được xem là khâu đột phá. Nội dung trọng tâm của
việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông là phát triển năng lực(NL)
của người học, từ đó nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực trong quá trình
phát triển đất nước.
Nghị quyết số 44/NQ-CP, ngày 09/06/2014 ban hành Chương trình
hành động của Chính phủ thực hiện nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng
11 năm 2013 Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương khóa XI về đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa,
hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và
quen thuộc trong chương trình và SGK phân ban thí điểm, SGK Ngữ văn
trung học cơ sở, SGK Ngữ văn trung học phổ thông(THPT) hiện hành còn
giới thiệu thêm những tác giả khác. Không phải là “người mở đường tinh
anh” như Nguyễn Minh Châu, không đổi mới hình thức triệt để như Phạm Thị
Hoài và cũng không phải là một hiện tượng phức tạp như Nguyễn Huy Thiệp
nhưng Nguyễn Khải là một gương mặt riêng. Vương Trí Nhàn khi viết lời
giới thiệu Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Khải đã khẳng định: “Muốn hiểu
con người thời đại với tất cả những cái hay cái dở của họ, nhất là muốn hiểu
cách nghĩ của họ, cuộc sống tinh thần của họ phải đọc Nguyễn Khải”.Vì thế,
việc dạy và học văn học Việt Nam sau 1975 nói chung, truyện ngắn Nguyễn
5
Khải trong thời kì đổi mới nói riêng là rất cần thiết. Sự có mặt của thể loại
truyện ngắn, cũng như sự xuất hiện đều đặn của Nguyễn Khải trong đời sống
văn học cũng như trong nhà trường phổ thông qua nhiều lần thay đổi, chỉnh lí
SGK, từ Tầm nhìn xa, Mùa lạc, Nắng chiều đến Một người Hà Nội không
những thể hiện sự năng động của văn học nhà trường để hòa chung với xu thế
đổi mới tiến bộ trên thế giới trong lĩnh vực giáo dục mà còn thể hiện sự trân
trọng của xã hội, của các nhà nghiên cứu và các thế hệ bạn đọc đối với những
đóng góp to lớn của nhà văn ở mỗi thời kì lịch sử khác nhau. Trong chương
trình SGK hiện hành (2000), tác phẩmMột người Hà Nội của Nguyễn Khải
được giảng dạy chính ở Chương trình nâng cao và đọc thêm ở Chương trình
chuẩn có giá trị tư tưởng và ý nghĩa giáo dục cao, đáp ứng yêu cầu đổi mới PP
giáo dục và phân hóa đối tượng người học. Do đó, việc dạy và học văn học
Việt Nam sau 1975 nói chung, DH truyện ngắn Một người Hà Nội của
Nguyễn Khải nói riêng nhằm phát triển NL không chỉ là vấn đề mang tính
thời sự, cập nhật của chương trình, SGK Ngữ văn mới mà còn là một đòi hỏi
tự thân của văn học nhà trường để phát triển.
1.3. Văn xuôi sau 1975 đã đi được một chặng đường khá dài song việc
cách là áp dụng một cách sáng tạo những thành quả cải cách giáo dục của các
nước tiên tiến vì những thành quả này là kết tinh của nhiều nghiên cứu, thử
nghiệm. Tác giả đã trình bày trong bài viết một phương thức cải cách bộ môn
Ngữ văn, hướng đến phần ngôn ngữ (verbal) trong bộ đánh giá NL Bloom,
hiện được xem là cơ sở nền tảng để thiết kế các đề thi đại học (SAT, viết tắt
của cụm từ Scholastic Aptitude Test) và sau đại học (GRE, viết tắt của cụm từ
Graduate Record Examination) phổ biến trên thế giới hiện nay, đặc biệt là ở
Mỹ. Theo tác giả, phần ngôn ngữ trong các đề thi SAT và GRE tránh được
những tranh cãi hàn lâm về khái niệm, và quan trọng hơn cả, là tạo điều kiện
để đánh giá toàn diện các NL cần phải có của người học, với tư cách là những
tiền đề để đảm bảo cho giáo dục thành công.
TS. Nguyễn Thị Hồng Vân trong bài viết Phát triển chương trình
GDPT môn Ngữ văn theo hướng tiếp cận năng lực đã đưa ra quan điểm phát
7
triển NL trong chương trình ngôn ngữ và văn học của một số nước như
Chương trình Quebec (Canada), Chương trình Singapore. Chương trình tiếng
Anh của Canada đã nêu rõ quan điểm phát triển NL, quan điểm này được thể
hiện rất nhất quán trong tất cả các yếu tố của chương trình. Chương trình của
hai nước trên cho thấy quan điểm xây dựng chương trình theo định hướng NL
của các nước được thể hiện ở các mức độ, với các cách diễn đạt khác nhau khi
xác định mục tiêu và các mạch nội dung của môn học. Bài viết còn nêu rõ về
sự tiếp cận phát triển NL trong chương trình Ngữ văn hiện hành của Việt
Nam về mục tiêu môn học, về nội dung học tập, về PPDH, về đánh giá kết
quả học tập… Từ đó rút ra những nhận xét về chương trình giáo dục phổ
thông Ngữ văn hiện hành của Việt Nam. Cho rằng bên cạnh một số vấn đề
còn nảy sinh thì về cơ bản, chương trình đã thể hiện khá rõ quan điểm hình
thành và phát triển NL của người học, từ việc đưa NL vào một trong các mục
tiêu của chương trình, xây dựng bài học theo sự gắn kết các nội dung văn học,
kĩ năng tiếp nhận theo lí thuyết hiện đại. Ở phần trọng tâm công trình, từ việc
phân tích sâu sắc đối tượng, mục đích, phương thức tiếp nhận thẩm mĩ cho
đến cơ chế liên tưởng, tưởng tượng, tác giả đi sâu vào thực tiễn của hoạt động
tiếp nhận tác phẩm văn chương (TPVC) trong nhà trường, gắn các vấn đề của
lí thuyết mĩ học tiếp nhận với việc tổ chức DH tác phẩm, với các hoạt động
của HS. Quan trọng hơn, trong các giải pháp cụ thể nhằm rèn luyện tư duy
sáng tạo, TS. Nguyễn Trọng Hoàn đã đưa ra giải pháp xây dựng câu hỏi liên
tưởng, tưởng tượng, sáng tạo và giải pháp đa dạng hóa các hình thức luyện
tập sáng tạo. Đây là những biện pháp tích cực để hướng HS vào quá trình tiếp
nhận, hình thành NL độc lập, tự chủ trong tiếp nhận thẩm mĩ.
2.2. Tình hình nghiên cứu tác giả Nguyễn Khải và truyện ngắn
“Một người Hà Nội”.
Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã mở ra một thời kì mới trong lịch sử
dân tộc, đồng thời cũng đưa nền văn học Việt Nam bước vào một chặng
đường mới. Từ mốc lịch sử đó, văn học Việt Nam có chuyển biến rõ rệt, đóng
một vai trò quan trọng trong việc phản ánh công cuộc xây dựng và đổi mới.
Những thành tựu, cống hiến của văn học thời kì này vào quá trình phát triển
và đổi mới văn học dân tộc đang dần dần được ghi nhận va thu hút sự chú ý
9
khá sâu rộng trong giới nghiên cứu phê bình văn học. Cho đến nay, đã có rất
nhiều công trình nghiên cứu, bài báo, luận văn Thạc sĩ, Luận án Tiến sĩ của
sinh viên, học viên các trường Đại học thuộc chuyên ngành văn học đã nghiên
cứu, tổng hợp, khái quát những dấu hiệu đổi mới và đóng góp của văn học
giai đoạn này. Tiêu biểu là các công trình như: Văn học Việt Nam trong thời
đại mớicủa PGS.TS Nguyễn Văn Long; Những đổi mới của văn xuôi nghệ
thuật Việt Nam sau 1975của PGS.TS Nguyễn Thị Bình, trường Đại học Sư
phạm Hà Nội. Mỗi tác giả có những kiến giải khác nhau nhìn từ nhiều bình
diện của văn học Việt Nam sau 1975, song đều thống nhất trên những nét lớn:
Trong lời giới thiệu Tuyển tập Nguyễn Khải (tập 1, NXB Văn học Hà
Nội 1996). Vương Trí Nhàn đã chứng tỏ một khả năng khái quát, tổng hợp,
một thái độ khách quan khoa học cần thiết trong khi theo sát những chặng
đường sáng tác của đời văn Nguyễn Khải. Những trang viết của Vương Trí
Nhàn về sáng tác của Nguyễn Khải hôm nay, trong đó có nhắc đến Một người
Hà Nội là những gợi ý quý báu cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu và
triển khai đề tài.
Một công trình nghiên cứu khác rất công phu của Bích Thu: Giọng
điệu trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Khải từ những năm 80 đến
naytrong Nguyễn Khải về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục Hà Nội, 2002 đã
ghi nhận sức chinh phục của truyện ngắn Nguyễn Khải thời đổi mới trước hết
là bởi nghệ thuật kể chuyện, trong đó giọng điệu trần thuật có thể nói là một
trong những yếu tố quan trọng nhất.
Một người Hà Nội của Nguyễn Khải lần đầu tiên đến với bạn đọc qua
tập Một người Hà NộiNxb Hà Nội – 1990 (Lần thứ hai in trong tập truyện
ngắn Hà Nội trong mắt tôi, Nxb Hà Nội – 1995) và in lần thứ 3 trong tập
Nguyễn Khải truyện ngắn – Nxb Hội Nhà văn 1996. Tác phẩm này đã gây
được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình.
Đinh Quang Tốn trong bài viết Nguyễn Khải với Hà Nội (Báo Văn
nghệ sĩ số 19 – 1997) có đề cập tới nhân vật cô Hiền: “Cô Hiền trong “Một
người Hà Nội” là một người làm chủ của cuộc sống, có thể nói là làm chủ
thời thế trước những biến đổi lớn lao như sự cực đoan của cách mạng những
11
năm đầu giải phóng, hay sự cực đoạn của cơ chế thị trường. Ta hãy nghe cô
nói thản nhiên: “Tao có bộ mặt tư sản, một cách sống rất tư sản nhưng lại
không bóc lột ai cả thì làm sao thành tư sản được”. Đó là sự thản nhiên của
người có nhân cách sống “dĩ bất biến vạn biến”.
Trần Thanh Phương cũng đưa ra nhận xét về nhân vật cô Hiền: “Nhờ
tài một cách khoa học, từ đó xây dựng được một số phương hướng trong tổ
chức các hoạt động DH đọc hiểu văn bản Một người Hà Nội của Nguyễn
Khải nói riêng và các văn bản truyện ngắn sau 1975 ở trường THPT nói
chung nhằm phát triển NLHS.
2.3. Tình hình nghiên cứu về dạy học truyện ngắn Việt Nam sau 1975.
Với thể loại truyện ngắn, đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên
cứu ở các cấp độ khác nhau. Bàn về con đường và cách thức DH truyện
ngắn có:
PGS.TS Nguyễn Viết Chữ trong công trình nghiên cứu Phương pháp
dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể đã có những đề xuất về phương
pháp và biện pháp DH truyện ngắn như sau: “Vấn đề cơ bản của truyện ngắn
là tình huống của nó. Dù là trữ tình hay tự sự thì cũng phải quan tâm đến tình
huống cụ thể của nó. (…). Với những truyện ngắn tự sự, biết được thi pháp
tác giả có thể theo bước tác giả, theo nhân vật… để tìm ra tư tưởng chủ đề.
Nhưng lại có những nhà văn đi tới những triết luận bất ngờ mà sâu sắc kiểu
Nam cao, những trữ tình ngoại đề giàu chất suy tưởng kiểu Nguyễn Khải,
những phát hiện độc đáo từ suy tư đến ngôn ngữ và hình ảnh của Nguyễn
Tuân, những liên tưởng duyên dáng mà sắc sảo, trong sáng kiểu Nguyễn
Minh Châu…, ta phải tùy từng tác phẩm cụ thể mà có PP và biện pháp thích
hợp. Những đoạn văn trữ tình hay, nếu cần thiết phải thuộc bằng biện pháp
tích cực qua đọc diễn cảm kết hợp với giảng bình. Tránh những quy trình
nhàm chán lặp đi lặp lại như: giới thiệu, chủ đề, bố cục, phân tích, tổng kết.
Đây vẫn có thể là lô-gic bên trong của một tiết dạy học tác phẩm văn chương
nói chung, nhưng không phải là công thức chung cho mọi giờ dạy học tác
phẩm mà phải hết sức linh hoạt. Đi vào mỗi truyện ngắn cụ thể lại có một
cách tổ chức kể cấu, một cách vận hành riêng”.
13
Chuyên luận Đọc hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường của
Hướng dẫn học sinh đọc hiểu truyện ngắn “Một người Hà Nội” theo hướng
tiếp cận phương thức trần thuật của Nguyễn Khải (2009),…
Tóm lại, những kết quả, những thành tựu của những người nghiên cứu
đi trước đã là cơ sở, nền tảng để chúng tôi thực hiện đề tài của mình – một đề
tài thú vị nhưng còn bỏ ngỏ từ trước đến nay. Chúng tôi hi vọng công trình
của mình có thể góp phần tìm ra được những giá trị còn đang tiềm ẩn của lĩnh
vực truyện ngắn nói riêng, văn xuôi Việt Nam sau 1975 nói chung và góp một
phần vào sự đổi mới giáo dục, nâng cao hiệu quả giảng dạy hiện nay. Tất
nhiên, tất cả đó mới chỉ là bước đầu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn xây dựng cơ sở khoa học, đồng thời đề xuất cách tổ chức DH
truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải ở trường THPTnhằm nâng
cao chất lượng DH truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải nói riêng
và DH truyện ngắn sau 1975 nói chung cũng như phát triển NL của người
học, HS lớp 12 ở trường THPT.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận và thực tiễn về DH phát triển NL, DH truyện ngắn
Một người Hà Nội ở trường THPT.
- Nghiên cứu và đề xuất cách thức DH truyện ngắn Một người Hà Nội
của Nguyễn Khải nhằm phát triển những NL của HS như: NL tự học; NL giải
quyết vấn đề; NL sáng tạo; NL tự quản lý; NL hợp tác; NL sử dụng công
nghệ thông tin và truyền thông; NL giao tiếp tiếng Việt; NL thưởng thức văn
học/cảm thụ thẩm mĩ; NL đọc – hiểu truyện ngắn Việt Nam sau 1975…
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Quá trình tổ chức DH truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn
Khải ở trường THPT nhằm phát triển NL người học.
15
16
phân tích, định hướng cách thức tổ chức DH truyện ngắn Một người Hà Nội
của Nguyễn Khải ở trường THPT nhằm phát triển NL HS.
- PP thực nghiệm sư phạm: Để thể nghiệm kết quả nghiên cứu đề tài,
chúng tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm. PP này sẽ kiểm tra tính khả thi của
các vấn đề nêu ra trong luận văn đồng thời kiểm nghiệm, đánh giá kết quả của
giả thuyết khoa học do đề tài đề xuất.
- PP tổng hợp – hệ thống hóa: Từ các kết quả khảo sát, chúng tôi tiến
hành phân tích, so sánh – đối chiếu tư liệu rồi tổng hợp và sắp xếp, hệ thống
hóa một cách lô-gic, mạch lạc và khoa học.
7. Cấu trúc của luận văn.
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc dạy học truyện ngắn “Một người
Hà Nội”của Nguyễn Khải ở trường trung học phổ thông nhằm phát triển năng lực
học sinh.
Chương 2: Tổ chức dạy học truyện ngắn “Một người Hà Nội” của Nguyễn
Khải ở trường trung học phổ thông nhằm phát triển năng lực học sinh.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
17
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN
“MỘT NGƯỜI HÀ NỘI” CỦA NGUYỄN KHẢI Ở TRƯỜNG TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
1.1. Yêu cầu phát triển năng lực người học trong dạy học Ngữ văn
ở trường Trung học phổ thông.
Năng lựcphương pháp
Học để làm
Năng lực xã hội
Học để cùng chung sống
Năng lực cá thể
Học để tự khẳng định
NL thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người
lao động, kiến thức và kĩ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá
nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó. NL có các yếu tố cơ bản mà
mọi người lao động, mọi công dân đều cần phải có, đó là các NL chung cốt
lõi. Yếu tố NL cốt lõi xuyên suốt mọi hoạt động cơ bản của con người. Định
hướng xây dựng chương trình GDPT sau 2015 đã xác định một số NL chung
cốt lõi mà mọi HS Việt Nam đều cần có để thích ứng với nhu cầu phát triển
xã hội. Các NL này liên quan đến nhiều môn học, theo đó, mỗi môn học, với
đặc trưng và thế mạnh riêng của mình, sẽ tập trung hướng đến một số NL, để
cùng với những môn học khác sẽ có mục tiêu hình thành và phát triển một số
NL chung cốt lõi cần thiết đối với mỗi HS.
Theo Tài liệu tập huấn: Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Ngữ văn cấp THPT (năm
2014) của Bộ Giáo dục và đào tạo, các NL chung, cốt lõi được sắp xếp theo các
nhóm sau: NL làm chủ và phát triển bản thân, bao gồm: NL tự học, NL giải quyết
19
đề trong học tập, trong cuộc sống.
- Thu thập và làm rõ các thông tin có liên quan đến
các vấn đề; đề xuất và phân tích được một số giải
pháp giải quyết vấn đề; lựa chọn được giải pháp phù
hợp nhất.
- Thực hiện và đánh giá giải pháp giải quyết vấn đề;
suy ngẫm về cách thức và tiến trình giải quyết vấn
đề để điều chỉnh và vận dụng trong bối cảnh mới.
- Quy trình giải quyết vấn đề nhìn chung được thực
hiện qua các bước cơ bản sau:
+ Xác định vấn đề: chuyển vấn đề trong tình huống
thực tế thành vấn đề đòi hỏi khám phá, giải quyết.
+ Thu thập và phân tích thông tin, từ đó đưa ra các
phương án giải quyết vấn đề.
20
(3) NL sáng tạo
(4) NL tự quản lý
(5) NL giao tiếp
21
+ Chọn phương án tối ưu và biện giải về sự lựa
chọn.
+ Thực hiện phương án đã chọn và điều chỉnh trong
quá trình thực hiện.
- Diễn tả được một số biểu hiện bất thường trong cơ
thể; thực hiện được một số hành động vệ sinh và
chăm sóc sức khỏe bản thân; nhận ra được và không
tiếp cận với những yếu tố ảnh hưởng xấu tới sức
khỏe, tinh thần trong gia đình và nhà trường.
- Xác định được mục đích giao tiếp phù hợp với đối
tượng, bối cảnh giao tiếp; dự kiến được thuận lợi,
khó khăn để đạt được mục đích trong giao tiếp.
- Chủ động trong giao tiếp; tôn trọng, lắng nghe
phản ứng tích cực trong giao tiếp.
- Lựa chọn nội dung, ngôn ngữ phù hợp với ngữ
cảnh và đối tượng giao tiếp; biết kiềm chế; tự tin khi
nói trước đông người.
(6) NL hợp tác
- Chủ động đề xuất mục đích hợp tác để giải quyết
một vấn đề do bản thân và những người khác đề
xuất; lựa chọn hình thức làm việc nhóm với quy mô
phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ.
- Tự nhận trách nhiệm và vai trò của mình trong hoạt
động chung của nhóm; phân tích được các công việc
cần thực hiện để hoàn thành nhiệm vụ đáp ứng được
mục đích chung, đánh giá khả năng của mình có thể
đóng góp thúc đẩy hoạt động của nhóm.
- Phân tích được khả năng của từng thành viên để
tham gia đề xuất phương án phân công công việc; dự
kiến phương án phân công, tổ chức hoạt động hợp
tác.
- Theo dõi tiến độ hoàn thành công việc của từng
bài đối thoại, truyện kể, lời giải thích, cuộc thảo
luận; nói với cấu trúc logic, biết cách lập luận chặt
chẽ và có dẫn chứng xác thực, thuyết trình được nội
dung chủ đề thuộc chương trình học tập; đọc và lựa
chọn được các thông tin quan trọng từ các văn bản,
tài liệu; viết đúng các dạng văn bản với cấu trúc hợp
lý, logic, thuật ngữ đa dạng, đúng chính tả, đúng cấu
trúc câu, rõ ý.
- Sử dụng hợp lý từ vựng và mẫu câu trong hai lĩnh
vực khẩu ngữ và bút ngữ; có từ vựng dùng cho các
kỹ năng đối thoại và độc thoại; phát triển kỹ năng
phân tích của mình; làm quen với các cấu trúc ngôn
ngữ khác nhau thông qua các cụm từ có nghĩa trong
các bối cảnh tự nhiên trên cơ sở hệ thống ngữ pháp.
- Đạt NL bậc 3 về một ngoại ngữ,
(9) NL tính toán
- Vận dụng thành thạo các phép tính trong học tập
và cuộc sống; sử dụng hiệu quả các kiến thức, kỹ
năng về đo lường, ước tính trong các tình huống ở
nhà trường cũng như trong cuộc sống
- Sử dụng hiệu quả các thuật ngữ, ký hiệu toán học,
tính chất các số và tính chất của các hình trong hình
học; sử dụng được thống kê toán để giải quyết vấn
đề nảy sinh trong bối cảnh thực; hình dung và vẽ
được hình dạng các đối tượng trong môi trường
xung quanh, hiểu tính chất cơ bản của chúng.
- Mô hình hóa toán học được một số vấn đề thường
gặp; vận dụng được các bài toán tối ưu trong học tập
và trong cuộc sống; sử dụng được một số yếu tố cua
logic hình thức trong học tập và trong cuộc sống.
cần phát
triển qua
Khái niệm
môn Ngữ
văn cấp
THPT
(1) NL giải Giải quyết vấn đề là
quyết vấn một NL chung, thể
đề
hiện khả năng của
mỗi người trong việc
nhận thức, khám phá
được những tình
huống có vấn đề trong
học tập và cuộc sống
mà không có định
24
Biểu hiện qua môn Ngữ văn
- Quy trình hình thành NL có thể gắn
với các bối cảnh học tập (tiếp nhận
và tạo lập văn bản) của môn học, khi
nảy sinh những tình huống có vấn đề.
- Các nội dung DH cơ bản trong môn
Ngữ văn:
+ Xây dựng kế hoạch cho một hoạt
động tập thể.
+ Tiếp nhận một thể loại văn học
khám phá.
(3) NL hợp NL hợp tác được hiểu
tác
là khả năng tương tác
của cá nhân với cá
nhân và tập thể trong
học tập và cuộc sống.
NL hợp tác cho thấy
25
mới.
+ Viết một kiểu loại văn bản.
+ Lý giải các hiện tượng đời sống
được thể hiện qua văn bản.
+ Thể hiện quan điểm của cá nhân
khi đánh giá các hiện tượng văn học.
-> Qúa trình học tập các nội dung
trên là quá trình giải quyết vấn đề
theo quy trình đã xác định.
- Qúa trình giải quyết vấn đề trong
môn Ngữ văn có thể được vận dụng
trong một tình huống DH cụ thể hoặc
trong một chủ đề DH.
- Xác định những tình huống và
những ý tưởng, đặc biệt những ý
tưởng được gửi gắm trong các văn
bản văn học.
- Tìm hiểu, xem xét các sự vật, hiện
tượng từ những góc nhìn khác nhau.