Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2006 - Pdf 34

Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam (1996-2006)

Khóa luận tốt nghiệp

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng Đảng là hoạt động xây dựng đảng về mặt trí tuệ, tư tưởng và
chính trị, là công tác cách mạng trên lĩnh vực ý thức của con người, là làm
cho chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh thấm nhuần trong Đảng
và giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội.
Công tác xây dựng Đảng có ý nghĩa, vai trò to lớn và là một bộ phận
cấu thành đặc biệt trong toàn bộ hoạt động của Đảng. Thực tiễn lịch sử 80
năm qua đã chứng minh được điều này. Từ khi Đảng ra đời cho đến nay,
công tác xây dựng Đảng đã góp phần quan trọng trong sự thắng lợi của
cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đi lên xây dựng
chủ nghĩa xã hội.
Trải qua gần 30 năm đổi mới, Đảng ta luôn khẳng định xây dựng Đảng là
nhiệm vụ then chốt, là sự nghiệp sống còn trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng
Việt Nam. Xây dựng Đảng theo văn kiện Đại hội VI gồm 4 mặt cơ bản: Xây
dựng Đảng về chính trị, về tư tưởng, về tổ chức và về phương thức lãnh đạo.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng
luôn quan tâm đến công tác xây dựng Đảng. Là người sáng lập, lãnh đạo và
rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo đến
việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng để Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh,
làm tốt vai trò là Đảng lãnh đạo và Đảng cầm quyền, giữ trọn niềm tin yêu
của nhân dân. Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn
Đảng, với tư cách người khởi xướng và trực tiếp lãnh đạo công cuộc đổi mới
toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã xác định
một cách rõ ràng và dứt khoát rằng, trong suốt tiến trình công cuộc đổi mới
này, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Vị trí then chốt này không chỉ có
nghĩa đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, mà còn có nghĩa là nhiệm vụ

trước những thách thức đó, đòi hỏi Đảng ta phải tăng cường xây dựng Đảng,
bảo vệ nội bộ Đảng và đấu tranh chống “ diễn biến hòa bình ” của các thế lực
thù địch.
Từ năm 1991-1995, Đảng chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện đa phương hóa, đa dạng hóa các
quan hệ đối ngoại. Thực hiện chủ trương này một mặt đem lại cho nước ta
những tác động tích cực, tuy nhiên bên cạnh đó, cơ chế thị trường cũng làm
nảy sinh những mặt tiêu cực tác động đến nước ta nói chung và Đảng ta nói
riêng. Đặc biệt, trong cơ chế thị trường đã làm cho xã hội nước ta phân hóa

Nguyễn Thị Phượng
K31

2

Lịch sử Đảng


Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam (1996-2006)

Khóa luận tốt nghiệp

thành thành nhiều khuynh hướng tư tưởng, trong đó, cần phải đặc biệt đề
phòng khuynh hướng, lối sống chạy theo đồng tiền. Khuynh hướng này đã
gây nên trở ngại rất lớn cho sự phát triển của đất nước ta. Trong khi đó, nhiệm
vụ của Đảng phấn đấu theo Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội
đến năm 2000 đưa nước ta ra khỏi tình trạng khủng hoảng, ổn định tình hình
kinh tế - xã hội, phấn đấu vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát triển,
cải thiện đời sống của nhân dân, củng cố quốc phòng và an ninh, tạo điều kiện


Khóa luận tốt nghiệp

cách mạng của nhân dân ta “ Toàn bộ thành tựu và khuyết điểm của công
cuộc đổi mới gắn liền với trách nhiệm lãnh đạo và hoạt động của Đảng ta. Sự
lãnh đạo và hoạt động của Đảng là một nhân tố quyết định tạo ra những thành
tựu đổi mới ”.
Việc tổng kết công tác Xây dựng Đảng qua từng thời kỳ là một việc
làm rất cần thiết và quan trọng trong quá trình phát triển. Thông qua đó, Đảng
rút ra cho mình những bài học, phát huy những thành tựu, hạn chế, sửa chữa
khuyết điểm, tồn tại của mình, làm cho công tác xây dựng Đảng có hiệu quả
hơn. Các Đại hội Đảng, nhiều Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng đều
có tổng kết về công tác xây dựng Đảng, ngoài ra cũng có các công trình
nghiên cứu, bài viết, bài nói của nhiều tác giả đề cập tới vấn đề xây dựng
Đảng. Tuy nhiên mới chỉ đề cập đến một vấn đề hay khía cạnh nào đó, cũng
như trong một thời gian ngắn, chưa có cái nhìn khái quát cả một thời kỳ dài.
Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của công tác xây dựng Đảng, với
mong muốn tái hiện, đánh giá một cách khái quát, hệ thống về công tác xây
dựng Đảng trong cả một thời kỳ, tác giả khóa luận mạnh dạn chọn vấn đề
“Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2006” làm khóa
luận tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Về vấn đề công tác xây dựng Đảng đã có nhiều công trình khoa học,
các tác phẩm, bài viết, bài nói của nhiều tác giả đề cập đến như:
“Kỷ yếu tổng kết công tác xây dựng Đảng thời kỳ 1975-1995” của tiểu
ban tổng kết xây dựng Đảng (nhiệm kỳ đại hội VII) Ban Chấp hành Trung
ương Đảng, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2001; “Về xây dựng Đảng” của
nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1994; “Mấy
vấn đề xây dựng Đảng vững mạnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới” của Vũ
Oanh, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1999; “Xây dựng Đảng là then chốt”

của Đảng, về phương thức lãnh đạo của Đảng; về các nguyên tắc tổ chức và
sinh hoạt của Đảng. Nhìn chung các vấn đề được đề cập và nghiên cứu khá
toàn diện, sâu sắc về công tác xây dựng Đảng.
Tuy vậy, như đã nói ở trên các tác phẩm đó mới chỉ dừng lại ở các vấn
đề riêng lẻ, hay những thời kỳ nhất định. Chưa có một tác phẩm hay công
trình nghiên cứu nào đề cập đến một cách hệ thống toàn bộ các vấn đề về xây
dựng Đảng trong suốt thời kỳ 1996-2006, chưa tạo được một cái nhìn tổng
quát, về các quan điểm, chủ trương của Đảng, cũng như những thành tựu mà
công tác xây dựng Đảng đã đạt được trong suốt thời gian qua.

Nguyễn Thị Phượng
K31

5

Lịch sử Đảng


Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam (1996-2006)

Khóa luận tốt nghiệp

Do vậy tác giả khóa luận chọn đề tài “ Xây dựng Đảng Cộng sản Việt
Nam từ năm 1996-2006 ” với mong muốn góp một chút vào công tác tổng
kết những thành tựu công tác xây dựng Đảng trong thời kỳ đổi mới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Thông qua khóa luận làm sáng tỏ một cách có hệ thống các quan điểm
về xây dựng Đảng, những thành tựu và hạn chế trong công tác xây dựng
Đảng, rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác xây dựng Đảng thời


Ngoài ra, khóa luận còn sử dụng các phương pháp cụ thể trong nghiên
cứu lịch sử cùng các phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, trừu tượng
hóa, thống kê, so sánh…
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình hình thành và phát triển đường lối của Đảng trong công tác
xây dựng Đảng từ năm 1996-2006.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận đề cập đến công tác xây dựng Đảng của Đảng Cộng sản Việt
Nam trong thời kỳ 1996-2006.
6. Đóng góp của đề tài
Khóa luận đã có một các nhìn khái quát, tái hiện một cách có hệ thống
các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về xây dựng Đảng; đánh giá
được những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong
thực hiện công tác xây dựng Đảng; từ đó nêu lên được những kinh nghiệm
trong công tác xây dựng Đảng.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về xây dựng Đảng thời kỳ đổi mới
Chương 2: Quá trình đổi mới, xây dựng và chỉnh đốn Đảng (1996-2006)
Chương 3: Kết quả, kinh nghiệm xây dựng Đảng (1996-2006)

Nguyễn Thị Phượng
K31

7

Lịch sử Đảng


cho rằng cuộc đấu tranh để giành mục đích cuối cùng của phong trào công

Nguyễn Thị Phượng
K31

8

Lịch sử Đảng


Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam (1996-2006)

Khóa luận tốt nghiệp

nhân – xây dựng Chủ nghĩa Cộng sản – cần phải được kết hợp với cuộc đấu
tranh nhằm thực hiện những nhiệm vụ trước mắt. Coi thường những lợi ích
trước mắt, cấp bách của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động,
nhất định sẽ dẫn đến chỗ tách rời Đảng với quần chúng, biến Đảng thành một
nhóm biệt phái. Ngược lại, nếu chỉ hạn chế hoạt động của Đảng bằng cuộc
đấu tranh nhằm thực hiện những nhiệm vụ trước mắt thì sẽ đưa đến làm tiêu
tan tiền đồ cách mạng. “ Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” đã nêu lên một
trong những luận điểm cơ bản luôn chỉ đạo các Đảng cách mạng của giai cấp
vô sản là “ Những người cộng sản chiến đấu cho những lợi ích và những mục
đích trước mắt của giai cấp công nhân; nhưng đồng thời, trong cuộc vận
động hiện tại họ cũng bảo vệ và đại diện cho tương lai của cuộc vận
động”[12, tr.493].
Xuất phát từ chỗ cho rằng Đảng Cộng sản là đội tiên phong có tổ chức
của giai cấp công nhân, toàn bộ đời sống và hoạt động của Đảng được xây
dựng trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa cộng sản khoa học, Mác - Ăngghen đã
chứng minh luận điểm cho rằng Đảng cách mạng của giai cấp công nhân phải

trung được thực hiện chặt chẽ, các cơ quan cấp dưới phải phục tùng các cơ
quan cấp trên, thiểu số phải phục tùng đa số. Việc phát huy dân chủ được thực
hiện gắn liền với việc tôn trọng kỷ luật của Đảng, là kỷ luật bắt buộc với mọ i
đảng viên, không trừ một đảng viên nào và gắn liền với việc thực hiện các yêu
cầu của Cương lĩnh và Điều lệ Đảng.
Kinh nghiệm của “ Đồng minh những người cộng sản”, đặc biệt là của
Quốc tế thứ nhất đã chỉ rõ rằng tuân thủ đầy đủ nguyên tắc tập trung dân chủ
là điều kiện có ý nghĩa quyết định để đảm bảo sức chiến đấu của một Đảng vô
sản, làm cho Đảng thực hiện được vai trò lãnh đạo của mình.
Mác và Ăngghen đã không ngừng đấu tranh để củng cố sự thống nhất
về tư tưởng và tổ chức đội ngũ của các tổ chức vô sản, kiên quyết chống lại
các phần tử cơ hội chủ nghĩa và xét lại, chống lại tất cả những người vi phạm
kỷ luật của Đảng.
Những nhà sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học đã đặt vấn đề thành
phần xã hội của một Đảng cách mạng một cách hết sức nghiêm túc. Mác và
Ăngghen viết:
“ Nếu các đại biểu của các giai cấp khác tham gia vào phong trào vô
sản thì trước hết phải đòi hỏi họ không được mang theo các quan điểm của
giai cấp tư sản, tiểu tư sản, các thành kiến tư tưởng, mà phải tiếp thu vô điều
kiện thế giới của giai cấp vô sản” [12, tr.322].

Nguyễn Thị Phượng
K31

10

Lịch sử Đảng


Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam (1996-2006)

Nguyễn Thị Phượng
K31

11

Lịch sử Đảng


Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam (1996-2006)

Khóa luận tốt nghiệp

Khi lý luận những tư tưởng về Đảng và Xây dựng Đảng, Mác và
Ăngghen cho rằng những tư tưởng đó không hình thành một lần và vĩnh cửu
mà nó phụ thuộc vào điều kiện và thời gian hoạt động của Đảng, phụ thuộc
vào những nhiệm vụ mà Đảng phải giải quyết. “ Tuyên ngôn của Đảng Cộng
sản” theo Ăngghen đó là Cương lĩnh chung của hàng triệu công nhân trên tất
cả các nước từ Xêbêri đến Caliphoócnia, nhưng khi vận dụng sao cho phù hợp
ở từng nước, từng giai đoạn, không nên quá câu nệ vào một số biện pháp đã
nêu vì tiến hành cuộc vận động những biện pháp ấy để vượt qua bản thân
chúng... Do đó, phát triển, bổ sung là nhiệm vụ của Đảng cách mạng.
1.1.1.2. V.I.Lênin phát triển tư tưởng của C.Mác và Ăngghen về xây
dựng Đảng Cộng sản
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là thời kỳ đánh dấu một bước ngoặt
trong phong trào công nhân quốc tế. Lúc này Chủ nghĩa tư bản đã bước vào
giai đoạn phát triển đế quốc chủ nghĩa, giai đoạn phát triển cao nhất và cuối
cùng của nó. Phát triển sáng tạo tư tưởng của Mác và Ăngghen, Lênin đã đề
ra các cơ sở tư tưởng, chính trị, tổ chức của một Đảng kiểu mới, các tiêu
chuẩn về sinh hoạt Đảng, các nguyên tắc lãnh đạo của Đảng.
Những cơ sở tư tưởng của Đảng: Khi nói về bản chất của một Đảng

các hình thức khác nhau và thực hiện vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân
cho tới khi xây dựng xong Chủ nghĩa Cộng sản.
Sau khi giai cấp công nhân giành được chính quyền, nhiệm vụ chủ yếu
của cách mạng xã hội chủ nghĩa mang tính sáng tạo là: thực hiện sự cải biến
cơ bản về xã hội - kinh tế, quốc hữu hóa các tư liệu sản xuất và tổ chức sản
xuất theo kế hoạch nhằm thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân
dân lao động, thủ tiêu các giai cấp bóc lột, phát triển toàn diện nền dân chủ xã
hội chủ nghĩa, đảm bảo mọi điều kiện để con người phát triển toàn diện.
Quần chúng nhân dân đóng vai trò quyết định trong việc thủ tiêu chế độ
tư bản chủ nghĩa và xây dựng xã hội mới. Nhiệm vụ của Đảng là đoàn kết họ
chung quanh giai cấp vô sản và dẫn dắt họ đi lên Chủ nghĩa xã hội, biểu hiện
cụ thể là xây dựng và ra sức củng cố khối liên minh giữa giai cấp công nhân
với nông dân và các tầng lớp không vô sản khác dưới sự lãnh đạo của giai cấp
công nhân, lực lượng xã hội quyết định trong cuộc đấu tranh lật đổ các giai
cấp thống trị và xây dựng Chủ nghĩa xã hội.
Chỉ có thể chiến thắng chủ nghĩa đế quốc, xây dựng thành công Chủ nghĩa
xã hội và Chủ nghĩa Cộng sản nếu có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Đảng
công nhân được vũ trang bằng lý luận Mác - Lênin và biết vận dụng một cách
sáng tạo lý luận đó vào hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể, liên minh chặt chẽ với
quần chúng nhân dân và đại biểu cho quyền lợi cơ bản của họ.
Nguyễn Thị Phượng
K31

13

Lịch sử Đảng


Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam (1996-2006)


Nguyễn Thị Phượng
K31

14

Lịch sử Đảng


Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam (1996-2006)

Khóa luận tốt nghiệp

Chỉ có tính tổ chức cao mới có thể biến Đảng thành một tổ chức vững
mạnh và có sức chiến đấu, mới có thể đem lại cho Đảng sức mạnh gấp nhiều
lần số lượng của Đảng. Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh, tổ chức nhân sức
mạnh lên gấp hàng chục lần. Khi nói về thực chất công thức của mình trong
chương I của Điều lệ Đảng, trong cuốn sách “ Một bước tiến, hai bước lùi”,
Lênin viết: “ Tôi muốn trình bày một cách tuyệt đối rõ ràng và chính xác
rằng tôi muốn và tôi đòi hỏi Đảng, đội tiên phong của giai cấp, phải hết sức
có tổ chức”[43, tr.286].
Trong cuộc đấu tranh giành chính quyền giai cấp vô sản không có một
thứ vũ khí nào khác là tổ chức. Khi phê phán chủ nghĩa cơ hội trong những
vấn đề tổ chức, Lênin đã chỉ ra rằng trong một Đảng không cho phép pha trộn
những phần tử có tổ chức với những phần tử vô tổ chức, pha trộn những
người phục tùng sự lãnh đạo với những kẻ không phục tùng, những phần tử
tiên tiến với những những phần tử lạc hậu. Lênin cho rằng sư pha trộn như
vậy, một sự pha trộn mà bọn Mensêvích đã đẩy Đảng vào, là nguy hiểm và rất
tai hại đối với Đảng. Chỉ có tính tổ chức cao, Đảng mới có thể bảo đảm sự
thống nhất về tư tưởng, ý chí và hành động của mọi đảng viên.
Đảng Cộng sản là hiện thân của mối liên hệ giữa đội tiền phong của giai

không thể bền vững được. Chỉ có thể kết hợp đúng đắn giữa tập trung và dân
chủ mới đảm bảo được khả năng chiến đấu của Đảng, Đảng mới thực hành
được vai trò của mình là lãnh tụ chính trị của quần chúng.
Khi Đảng Cộng sản Liên Xô vừa mới ra đời, những đại biểu của phái
Bun đã đòi hỏi Đảng phải xây dựng trên cơ sở liên bang, Đảng phải là sự liên
hiệp các tổ chức dân tộc độc lập với Trung ương chung của Đảng. Lênin và
những người ủng hộ Lênin đã chứng minh rằng việc xây dựng Đảng như vậy
chỉ có thể dẫn đến chỗ phân hóa Đảng thành các đội ngũ dân tộc biệt lập, và
như vậy là trái ngược với nguyên tắc quốc tế vô sản, một nguyên tắc thể hiện
bản chất của phong trào công nhân và cộng sản quốc tế. Lênin nói: “ chính vì
thế mà về nguyên tắc chúng tôi bác bỏ chế độ liên bang, bác bỏ ngay từ
ngưỡng cửa”[43, tr.325].
Thứ hai: Lênin còn đề cập đến những tiêu chuẩn sinh hoạt và nguyên
tắc lãnh đạo của Đảng.
Những tiêu chuẩn sinh hoạt đó là quy tắc điều hòa sinh hoạt nội bộ
Đảng xác định các hình thức tổ chức của Đảng, các phương pháp công tác và
tư cách của đảng viên. Nhờ những tiêu chuẩn của Lênin, mà Đảng điều chỉnh
các mặt quan trọng nhất trong đời sống và hoạt động của mình.

Nguyễn Thị Phượng
K31

16

Lịch sử Đảng


Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam (1996-2006)

Khóa luận tốt nghiệp

K31

17

Lịch sử Đảng


Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam (1996-2006)

Khóa luận tốt nghiệp

và phong trào yêu nước Việt Nam; từ những nguyên tắc chung về xây dựng
Đảng đến yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể ở mỗi giai đoạn cách mạng, những đòi
hỏi cụ thể ở mỗi giai đoạn cách mạng, những đòi hỏi cụ thể đối với người cán
bộ, đảng viên như rèn luyện tư tưởng, chính trị, đạo đức cách mạng, nâng cao
giác ngộ và trình độ hiểu biết các mặt, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong
Đảng, đào tạo và sử dụng cán bộ, xây dựng mối quan hệ mật thiết với nhân
dân… Tất cả đến nay vẫn đúng. Tất cả đều toát lên một tinh thần nhất quán,
một sự mong mỏi tha thiết của Hồ Chí Minh: phải hết sức coi trọng và thường
xuyên chăm lo công tác xây dựng Đảng: “ phải xây dựng Đảng ta thật trong
sạch, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân”.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng tuy giản dị nhưng hết sức
sâu sắc, bình dị mà vĩ đại, có tác dụng soi sáng lâu dài cho chúng ta trong việc
chăm lo xây dựng, củng cố và đổi mới chúng ta.
Trong tác phẩm: “ Thường thức chính trị” Hồ Chí Minh viết “ xây
dựng Đảng có ba mặt: Tư tưởng, chính trị và tổ chức.
1.1.2.1. Xây dựng Đảng về chính trị
Về chính trị, cán bộ, đảng viên phải nhận thức được rằng: “ Đảng
không phải là một tổ chức làm quan phát tài ”. “ Vào Đảng để làm đầy tớ cho
nhân dân”. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “ làm đầy tớ cho nhân dân, chứ không

tự mãn, bảo thủ trì trệ, bệnh xa rời quần chúng… mỗi chứng bệnh là một kẻ
địch. Mỗi kẻ địch bên trong là bạn đồng minh của kẻ thù bên ngoài. Địch bên
ngoài không đáng sợ, địch bên trong đáng sợ hơn vì nó phá hoại từ bên trong
phá ra. Kẻ địch bên ngoài là đế quốc, phong kiến cùng tất cả những kẻ phản
cách mạng, thì phải kiên quyết dũng cảm chống lại, nhất định không được
nhượng bộ, không tha thứ.
Đối với công việc: Đảng phải thấy trước, lo trước, tính trước. Phải cân
nhắc kỹ những điều kiện thuận lợi và khó khăn, để kiên quyết vượt qua mọi
khó khăn, phát triển mọi thuận lợi. Bất kỳ công việc to hay nhỏ, đều phải rất
cẩn thận, không hấp tấp, không rụt rè, thắng không kiêu, bại không nản. Tuyệt
đối tránh chủ quan nông nổi. Đảng phải biết rút kinh nghiệm, biết học hỏi để
tiến bộ.
Về xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách và đề ra khẩu hiệu:
trong mỗi giai đoạn cách mạng, Đảng ta căn cứ vào tình hình trong nước và
trên thế giới, đề ra khẩu hiệu, mục đích, kế hoạch đấu tranh. Đảng quy định ở
giai đoạn nào thì phải dựa vào lực lượng nào, đoàn kết lực lượng nào, cô lập
và phân hóa lực lượng nào để tiêu diệt kẻ thù của giai cấp, của nhân dân.

Nguyễn Thị Phượng
K31

19

Lịch sử Đảng


Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam (1996-2006)

Khóa luận tốt nghiệp



20

Lịch sử Đảng


Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam (1996-2006)

Khóa luận tốt nghiệp

chính trị của cán bộ, đảng viên, tẩy bỏ tư tưởng phi vô sản, thống nhất về tư
tưởng, thống nhất hành động, đoàn kết toàn Đảng để Đảng làm tròn nhiệm vụ
nặng nề và vẻ vang của mình. Xây dựng Đảng về tư tưởng không phải là phát
động những cuộc chiến về tư tưởng để quy kết lẫn nhau, làm cho Đảng ta bị
chia rẽ, bị suy yếu.
Nội dung Xây dựng Đảng về tư tưởng: Hồ Chí Minh chỉ rõ: Học tập lý
luận Mác - Lênin, kinh nghiệm cách mạng các nước, học Nghị quyết của
Đảng, nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Hồ Chí
Minh viết: “ Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mệnh
vận động… Chỉ có theo lý luận cách mạng tiền phong, Đảng cách mệnh mới
làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiền phong ”[28, tr.259].
Người cũng chỉ rõ: “ Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt,
trong Đảng ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có lý luận cũng
như người không có trí khôn, tàu không có bản chỉ nam ”[28, tr. 268]. Ngày
nay, “ lý luận chân chính nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Mác - Lê nin ”.
Chủ nghĩa Mác - Lênin là “ trí khôn ” của Đảng, là kim chỉ nam chỉ ra
phương hướng và phương pháp cách mạng. Vì vậy, cán bộ, đảng viên và quần
chúng cách mạng cần học lý luận Mác - Lênin.
Cách học tập chủ nghĩa Mác-Lênin là:
“ Học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với

1.1.2.3. Xây dựng Đảng về tổ chức
Tổ chức là sức mạnh của Đảng. Đảng Cộng sản sinh ra để tổ chức giai
cấp công nhân và nhân dân lao động làm cách mạng vô sản, lật đổ chế độ cũ,
xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa. Muốn tổ chức và lãnh đạo được cách
mạng thì bản thân Đảng phải là một tổ chức chặt chẽ và khoa học.
Xây dựng Đảng về chính trị, Hồ Chí Minh đề cập đến 8 vấn đề lớn:
Giữ vững nguyên tắc xây dựng Đảng: Hồ Chí Minh thường dùng khái
niệm “ nguyên tắc ”, “ chế độ ”, “ luật ”… Người không nói có bao nhiêu
nguyên tắc, tập hợp các tác phẩm của Hồ Chí Minh nổi bật 3 nguyên tắc xây
dựng Đảng:
Nguyên tắc tập trung dân chủ: theo Hồ Chí Minh dân chủ không đối
lập với tập trung. Mặt đối lập với “ dân chủ ” là quan liêu, độc tài. Mặt đối lập
với “ tập trung ” là phân tán, cục bộ. Nguyên tắc tập trung dân chủ vừa bảo
đảm quyền chủ động của mọi thành viên trong tổ chức, vừa đảm bảo thống
nhất ý chí và hành động vì sự nghiệp chung. Hồ Chí Minh khẳng định nguyên
tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản và quan trọng nhất để xây dựng
Đảng và xây dựng Nhà nước.

Nguyễn Thị Phượng
K31

22

Lịch sử Đảng


Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam (1996-2006)

Khóa luận tốt nghiệp



23

Lịch sử Đảng


Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam (1996-2006)

Khóa luận tốt nghiệp

Người chỉ rõ cách đối với cán bộ là: Chỉ đạo, nâng cao, kiểm tra, cải
tạo và giúp đỡ.
Hồ Chí Minh quan tâm vấn đề cán bộ với tầm nhìn xa trông rộng của
một kiến trúc sư về xây dựng Đảng cầm quyền, với sự ân cần trìu mến thiết
tha của người thầy, người cha rất đỗi gần gũi. Người đã dồn hết sức lực, tâm
huyết của mình để xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng, của Nhà nước và cả hệ
thống chính trị. Người đặt niềm tin, tình yêu thương đối với các thế hệ cán bộ.
Chính vì lẽ đó mà trong bất cứ tình huống nào, từng bước chuyển đổi giai
đoạn cách mạng, Đảng và Nhà nước ta dưới sự chỉ đạo của Người không bị
hẫng hụt đội ngũ cán bộ, cán bộ đã ngang tầm với nhiệm vụ cách mạng.
Về vấn đề Đảng viên: theo Hồ Chí Minh “ Đảng viên là tế bào cấu tạo
nên Đảng”. “ Đảng viên tốt thì chi bộ tốt”. Công tác đảng viên là công tác
trọng tâm, công việc gốc của Đảng. Công tác đảng viên được Hồ Chí Minh đề
cập sâu sắc gắn liền với công tác xây dựng Đảng.
Ngoài ra, tư tưởng Hồ Chí Minh còn đề cập đến nhiều khía cạnh khác
trong công tác xây dựng Đảng như: về công tác kiểm tra - kỷ luật của Đảng, về
cách thức lãnh đạo của Đảng, công tác đối ngoại của Đảng và công tác dân vận.
Trên đây là những tư tưởng rất cơ bản của Hồ Chí Minh về xây dựng
Đảng. Những tư tưởng này đã và đang được Đảng ta vận dụng một cách cụ
thể và sáng tạo trong công tác xây dựng Đảng hiện nay, góp phần làm cho

nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và mang tính cấp thiết trong bảo vệ Tổ quốc.
Hai là, thường xuyên chăm lo xây dựng đảng cầm quyền và bộ máy
chính quyền trong sạch vững mạnh, đoàn kết thống nhất cao, xây dựng và
thực hiện tốt chiến lược công tác cán bộ, nhất là lựa chọn và bố trí những cán
bộ chủ chốt, bảo đảm thực sự vững vàng và tin cậy về chính trị.
Ba là, đảng cầm quyền và bộ máy chính quyền phải gắn bó mật thiết
với nhân dân, có đường lối, chủ trương, chính sách và các hoạt động thực tiễn
hợp lòng dân, có đội ngũ cán bộ đảng viên được nhân dân tin yêu và tín
nhiệm, nắm chắc quần chúng và động viên được sức mạnh của nhân dân.
Bốn là, xây dựng nền kinh tế ổn định và phát triển vững chắc, giữ được
độc lập tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả, giữ vững sự lãnh đạo của
đảng cầm quyền và sự quản lý điều hành của Nhà nước đối với nền kinh tế.
Năm là, đảng cầm quyền phải nắm chắc lực lượng vũ trang, đặc biệt
chăm lo xây dựng quân đội nhân dân và công an nhân dân thực sự trung thành
và tin cậy về chính trị, có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao,
làm nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc.

Nguyễn Thị Phượng
K31

25

Lịch sử Đảng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status