TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NĂNG LƯỢNG MỚI VÀ TÁI TẠO TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM - Pdf 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4

MỤC LỤC

Nội dung phần
Trang
TRANG PHỤ BÌA

LỜI MỞ ĐẦU
1
MỤC LỤC
4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
7
DANH MỤC CÁC BẢNG
8
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
9
CHƢƠNG 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NĂNG LƢỢNG MỚI
VÀ TÁI TẠO TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
11
1.1. Các nguồn và công nghệ sử dụng năng lƣợng mới và tái tạo
11
1.1.1. Các nguồn năng lượng mới và tái tạo
11
1.1.2. Các công nghệ sử dụng năng lượng mới và tái tạo
13
1.2. Vai trò của các nguồn năng lƣợng mới và tái tạo hiện tại và trong
tƣơng lai
20

37
2.2. Tiềm năng năng lƣợng gió ở Việt Nam
39
2.2.1. Tốc độ gió, cấp gió
39
2.2.2. Chế độ gió ở Việt Nam
40
2.3. Sản xuất điện từ năng lƣợng gió ở Việt Nam
43
CHƢƠNG 3: XÂY DỰNG CẤU TRÚC TỔNG QUÁT
HỆ THỐNG PHÁT ĐIỆN BẰNG SỨC GIÓ
46
3.1. Cấu trúc tổng quát của hệ thống phát điện bắng sức gió
46
3.1.1 Tổng quan về hệ thống
46
3.1.2 Cấp điều khiển hiện trường
49
3.1.3 Cấp điều khiển hệ thống
53
3.2. Nghiên cứu về hệ thống Turbine gió
54
3.2.1. Mô tả Turbine
54
3.2.2. Vận hành turbine
56
3.3. Nghiên cứu về máy phát điện sử dụng năng lƣợng gió
59
3.3.1. Phương pháp điều khiển máy phát không đồng bộ
59

88
PHỤ LỤC
90 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT


DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu
Nội dung
Trang
1.1
Một số kết quả chính của hoạt động nghiên cứu ứng
dụng NLTT ở Việt Nam

2.1
Bảng cấp gió Beaufor

2.2

Hệ thống sưởi ấm nhà cửa hay chuồng trại sử dụng
NMT

2.1
Bề mặt cánh bánh công tác động cơ gió chiếm chỗ khi
quay

3.1
Sơ đồ khối hệ thống phát điện sức gió

3.2
Sơ đồ phân cấp trong hệ thống điều khiển trạm phát
điện sức gió

3.3
Các thành phần của hệ thống điều khiển hiện trường

3.4
Cấu trúc phần cứng card điều khiển

3.5
Cấu trúc của Module điện trở hãm

3.6
Các thành phần chính của Turbine WESTWIND

3.7
Hệ thống vành ghóp và thanh quét lấy điện (nằm trong
thân Turbine)


Máy phát đồng hồ kích thích vĩnh cửu có thể được sử
dụng theo 1 trong 2 phương án: a) Điện áp MP được
chỉnh lưu đơn giản; b) Điện áp MP được chỉnh lưu có
ĐK tuỳ theo sức tiêu thụ nhờ NL và MP

3.15
a) Hệ thống PĐCSG dùng MP loại ĐB-KTVC cùng với
bộ CL đơn giản nên phải có thêm mạch tải giả; b) Sơ
đồ chi tiết của mạch tải giả

3.16
Hệ thống PĐCSG với dàn ắc-quy (có bộ ĐK nạp) và
mạch tải giả sen giữa CL và NL

3.17
Khái quát cấu trúc hệ thống PĐCSG sử dụng MP
loại ĐB-KTVC công suất nhỏ

4.1
Mô hình trạm phát điện sử dụng sức gió công suất nhỏ

4.2
Kích thước rãnh lồng dây

4.3
Kích thước thanh nam châm

1
Vũ Thị Thanh Phương
2 TỔNG QUAN

I. Tính cấp thiết của để tài:
Trong các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế xã hội ở Việt
Nam đó chính là hệ thống điện lưới Quốc gia. Nó có ý nghĩa rất quan trọng song song
với sự phát triển nhanh chóng của các lĩnh vực an ninh, quốc phòng, sản xuất, công
nghiệp, du lịch, Nhu cầu về sản xuất và tiêu thụ điện năng tăng lên ngày một rõ rệt.
Trong những năm gần đây các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng năng lượng mới
và tái tạo để thiết kế những hệ thống phát điện ở nước ta đang phát triển khá mạnh mẽ
và rộng khắp. Đặc biệt từ lâu con người đã biết sử dụng năng lượng gió để tạo ra cơ
năng thay thế cho sức lao động nặng nhọc, điển hình là các thuyền buồn chạy bằng sức
gió, các cối xay gió xuất hiện từ thế kỉ XIV. Hơn thế nữa từ vài chục năm gần đây với
nguy cơ cạn kiệt dần những nguồn nhiên liệu khai thác được từ lòng đất và vấn đề ô
nhiễm môi trường do việc đốt hàng ngày một khối lượng lớn các nguồn nhiên liệu hoá
thạch.
Từ những điều kiện và tình hình thực tế trên việc nghiên cứu, sử dụng các dạng
năng lượng tái tạo của thiên nhiên trong đó có năng lượng gió lại được nhiều nước trên
thế giới đặc biệt được quan tâm. Trên cơ sở áp dụng các thành tựu mới của nhiều
ngành khoa học tiên tiến thì việc nghiên cứu sử dụng năng lượng gió đã đạt được
những tiến bộ rất lớn cả về chất lượng các thiết bị và quy mô ứng dụng. Một trong
những ứng dụng quan trọng nhất của sức gió là để tạo ra hệ thống phát điện. Vì vậy đề
tài “Nghiên cứu thiết kế hệ thống phát điện bằng sức gió công suất nhỏ” mang tính
cấp thiết và có ý nghĩa rất quan trọng điều kiện tình hình kinh tế - xã hội ở Việt Nam
hiện nay.
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
- Ý nghĩa khoa học: Đánh giá và dự báo được tình hình nghiên cứu và sử dụng


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11

CHƢƠNG 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NĂNG LƢỢNG MỚI
VÀ TÁI TẠO TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
1.1. Các nguồn và công nghệ sử dụng năng lƣợng mới và tái tạo
1.1.1. Các nguồn năng lượng mới và tái tạo
a. Nguồn năng lượng mặt trời
Đây là nguồn năng lượng vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển
của sự sống trên trái đất. Có thể nói đây là nguồn năng lượng rất phong phú mà
thiên nhiên đã ban tặng cho chúng ta. Năng lượng mặt trời thu được trên trái đất là
năng lượng của dòng bức xạ điện từ xuất phát từ ặt trời đến trái đất. Chúng ta sẽ tiếp
tục nhận được dòng năng lượng này cho đến khi phản ứng hạt nhân trên mặt trời hết
nhiên liệu, vào khoảng 5 tỷ năm nữa.
b. Nguồn năng lượng gió
Năng lượng gió là một dạng chuyển tiếp của năng lượng mặt trời, bởi chính
ánh nắng ban ngày đã đun nóng bầu khí quyển, tạo nên tình trạng chênh lệch nhiệt
độ và áp suất giữa nhiều vùng khác nhau, và các khối không khí từ những khu vực
có áp suất cao sẽ dịch chuyển nhanh đến những vùng có áp suất thấp hơn, tạo ra
hiện tượng gió thổi đều khắp trên bề mặt địa cầu.
c. Nguồn năng lượng thuỷ điện nhỏ
Từ các con sông, suối chảy từ nguồn xuống biển đều mang theo một tiềm
năng về năng lượng (gọi là thuỷ năng). Thông thường nguồn thuỷ năng phụ thuộc
vào độ dốc sông suối và lưu lượng nước chảy qua. Nguồn thuỷ năng có thể phân bố
đều hoặc không đều trên một đoạn sông suối. Để tập trung năng lượng của dòng
chảy, nghĩa là để tạo được độ chênh lệch mực nước giữa thượng lưu và hạ lưu
người ta sử dụng một số phương pháp kiểu trạm thuỷ điện như: Phương pháp tập
trung năng lượng bằng đập ngăn, phương pháp tập trung năng lượng bằng đường
dẫn và phương pháp tổng hợp tập trung năng lượng dòng chảy.

trên cùng của vỏ Trái đất chỉ có nhiệt độ bình quân trong năm là 15
0
C, dưới lớp đó
là một lớp có nhiệt độ bình quân là 540
0
C, còn tại lớp lõi trong nhiệt độ bình quân
là 7000
0
C. Khối năng lượng khổng lồ đó tồn tại đồng hành với Trái đất và là nguồn
năng lượng vô hạn sinh ra từ các chuỗi phản ứng hạt nhân, sự phân hủy các chất
phóng xạ tiến hành thường xuyên trong lòng Trái đất như Thori (Th), Protactini
(Pa), Urani (U) vv, năng lượng do các phản ứng phóng xạ được tích tụ trong lòng
quả đất hàng triệu năm với một lượng khổng lồ làm nóng chảy lõi quả đất dưới áp
suất cao. Đi sâu xuống lòng đất 2-40m (tùy địa điểm) ta sẽ gặp tầng Thường ôn, tức
là tầng có nhiệt độ không chịu ảnh hưởng của nhiệt độ Mặt Trời. Dưới tầng Thường
ôn càng xuống sâu nhiệt độ càng tăng.
NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ HỆ THỐNG
PHÁT ĐIỆN BẰNG SỨC GIÓ CÔNG SUẤT NHỎ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
Theo đánh giá của các chuyên gia, có khoảng 10% diện tích vỏ quả đất có
chữa các nguồn địa nhiệt có thể đánh giá được tiềm năng của nó. Các nguồn này có
thể cung cấp cho nhân loại một nguồn năng lượng rất lớn.
f. Nguồn năng lượng đại dương
Nguồn năng lượng này được chia thành 3 loại chính: Năng lượng thuỷ triều,
năng lượng nhiệt đại dương và năng lượng sóng biển. Tiềm năng là vô cùng to lớn,
gió thổi trên một khoảng không gian bao la trên các đại dương sẽ tạo ra sóng biển
dữ dội, liên tục và mang theo một nguồn năng lượng có thể nói là vô tận. Thuỷ triều
là kết quả giữa lực hút của mặt trời, mặt trăng với quả đất và do sự chuyển động của

2
3
TÊm kÝnh
Líp vá c¸ch nhiÖt
TÊm hÊp thô
Tia s¸ng mÆt trêi
1
2
3
4Hình 1.1. Sơ đồ hộp thu NLMT theo nguyên lý hiệu ứng nhà kính
Các tia bức xạ mặt trời có bước sóng  < 0,7m tới mặt hộp thu, đi qua tấm
kính phủ phía trên (1), tới bề mặt tấm hấp thụ (3). Tấm này hấp thụ năng lượng bức
xạ mặt trời và chuyển hoá thành nhiệt làm cho tấm hấp thụ nóng lên, khi đó nó trở
thành nguồn phát xạ thứ cấp phát ra các tia bức xạ nhiệt có bước sóng  > 0,7m ,
hướng về mọi phía. Các tia đi lên phía trên bị tấm kính ngăn lại, không ra ngoài
được. Nhờ vậy, hộp thu liên tục nhận bức xạ mặt trời nên tấm hấp thụ được nung
nóng dần lên và có thể đạt đến nhiệt độ hàng trăm độ. Như vậy năng lượng nhiệt
mặt trời bị "giam" trong hộp, giống như một cái bẫy nhiệt - năng lượng vào được
nhưng không thể ra đựơc. Đó là nguyên lý “hiệu ứng nhà kính”.
- Bộ thu phẳng:
Bộ thu phẳng có hình khối hộp chữ nhật, trên cùng được đậy bằng một hay
vài lớp kính xây dựng trong suốt. Cũng có thể thay lớp kính này bằng các tấm trong
suốt khác như thuỷ tinh hữu cơ, polyester, v.v Đối với vật liệu ngoài thuỷ tinh tuy
có độ bền cơ học cao hơn, nhưng độ già hoá lại nhanh, do đó hệ số truyền qua sau
khoảng 5 –10 năm có thể giảm 5  10%.
Tấm hấp thụ là một tấm kim loại dẫn nhiệt tốt, mặt trên có phủ một lớp sơn
hấp thụ ánh sáng màu đen. Lớp hấp thụ cần có hệ số hấp thụ càng cao càng tốt, ví

ánh sáng mặt trời thành các nguồn nhiệt có mật độ năng lượng thì ở công nghệ pin
mặt trời, năng lượng mặt trời được biến đổi trực tiếp thành điện năng nhờ các tế bào
quang điện bán dẫn được chế tạo từ các vật liệu bán dẫn điện. Các pin mặt trời sản
xuất ra điện năng một cách liên tục chừng nào còn bức xạ mặt trời tới nó.
Khi chiếu ánh sáng mặt trời vào mặt trên của pin, ánh sáng sẽ tạo ra trong
các lớp bán dẫn lân cận lớp tiếp xúc pn (4) các cặp điện tử – lỗ trống. Các cặp này
NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ HỆ THỐNG
PHÁT ĐIỆN BẰNG SỨC GIÓ CÔNG SUẤT NHỎ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
16
4
3
5
6
1
2
¸nh s¸ng mÆt trêi
7
Líp chÊt chèng ph¶n x¹
¸nh s¸ng
§iÖn cùc lưới mÆt trªn
Líp b¸n dÉn n_Si
1
2
3
Líp tiÕp xóc b¸n dÉn p_n
Líp b¸n dÉn p_Si
§iÖn cùc dưới
Bãng ®Ìn

tới mặt đất.
Đặc tính quan trọng nhất đánh giá động năng của gió là vận tốc. Dưới ảnh
hưởng của một loạt các yếu tố khí tượng (sự nhiễu loạn khí quyển, sự thay đổi tác
động của mặt trời và lượng năng lượng nhiệt truyền tới mặt đất ), đồng thời các
điều kiện địa hình tại chỗ, tốc độ gió thay đổi cả về giá trị và hướng.
Đặc trưng của NLG là tập hợp các dự liệu cần thiết và đủ độ tin cậy đặc
trưng cho gió như là một nguồn năng lượng và cho phép làm rõ giá trị năng lượng
của nó. Đó cũng là một hệ thống các dữ liệu đặc trưng cho chế độ gió ở các vùng
khác nhau, trên cơ sở đó có thể tính toán các chế độ và thời gian làm việc của tổ
máy với công suất này hoặc khác, và năng lượng tổng cộng có thể khai thác được.
Đặc tính đặc trưng quan trọng nhất là mật độ phân bố các vận tốc gió khác
nhau, diễn biến các chu kỳ làm việc và sự lặng gió, các chế độ vận tốc cực đại
(bão). Ngoài ra cần phải kể đến là hàm quy luật thống kê tần số biến đổi vận tốc gió
trong khoảng thời gian xác định. Khi biết quy luật xác định và thông số của hàm
này và khi có các đặc tính của các tổ máy NLG, có thể đánh giá được năng lượng
sản ra, thời gian dừng làm việc, hệ số sử dụng, công suất lắp đặt, hiệu quả kinh
tế vv.
c. Nguồn năng lượng sinh khối
* Các công nghệ nhiệt hoá
Công nghệ sinh hoá sử dụng các phản ứng lên men sinh khối như lên men
rượu, lên men kỵ khí nhờ các chủng loại vi sinh để biến đổi sinh khối ở áp suất và
nhiệt độ thấp thành các loại nhiên liệu khí (khí sinh học) hoặc lỏng (ethanol,
methanol…).
* Các công nghệ biến đổi sinh hoá
Ngược lại công nghệ nhiệt hoá sử dụng các quá trình nhiệt độ cao để biến đổi
sinh khối nhờ các quá trình đốt cháy, nhiệt phân, khí hoá, chất lỏng.
NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ HỆ THỐNG
PHÁT ĐIỆN BẰNG SỨC GIÓ CÔNG SUẤT NHỎ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ HỆ THỐNG
PHÁT ĐIỆN BẰNG SỨC GIÓ CÔNG SUẤT NHỎ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
19
thấm nước.
Các nguồn đá nóng khô bao gồm các khối đá ở nhiệt độ cao từ 90
0
C đến
650
0
C. Các nguồn đá này có thể bị nứt gãy nên có thể chứa một ít hoặc không có
nước nóng. Để khai thác nguồn địa nhiệt này người ta khoan sâu đến tầng đá, tạo ra
các nứt gãy nhân tạo, sau đó sử dụng một chất lỏng nào đó làm chất vận chuyển
nhiệt bơm qua tầng đá đã bị nứt gãy để thu nhiệt.
Năng lượng địa nhiệt ở các lỗ hổng núi lửa đang hoạt động. Magma là đá
nóng chảy có nhiệt độ nóng chảy từ 700
0
C đến 1600
0
C. Khi còn nằm dưới vỏ quả
đất đá nóng chảy là một phần của vỏ quả đất có độ dày khoảng từ 24km đến 48km.
Các nguồn Magma chứa một nguồn năng lượng khổng lồ, lớn nhất trong các nguồn
địa nhiệt, nhưng nó ít khi ở gần mặt đất nên việc khai thác rất khó khăn.
f. Nguồn năng lượng đại dương
* Năng lượng thuỷ triều
Năng lượng thuỷ triều có tính chu kỳ, có thể là nửa ngày, nửa năm hoặc dài
hơn. Các chu kỳ này ảnh hưởng đến độ chênh lệch của thuỷ triều. Biên độ của các
chu kỳ thuỷ triều tăng lên một cách rất đáng kể, ở một số vùng biển có địa hình đặc
biệt như ở các cửa sông, ở các vịnh dạng hình phễu, ở các khu vực có các đảo hay
Hình 1.3. Sơ đồ một bộ thu để sản xuất nước nóng
Về cơ bản một thiết bị sản xuất nước nóng là một bộ thu NMT. Trong thiết bị
đun nước, người ta hàn vào tấm hấp thụ một hệ thống ống kim loại (như các ống
bằng đồng hay ống nước mạ kẽm, xem hình 1.3) và sau đó cho nước chảy qua hệ
ống đó. Nhiệt từ tấm hấp thụ sẽ được truyền qua thành ống vào nước và làm nước
4
1
2
3
5
N-íc nãng ra
N-íc l¹nh vµo
TÊm kÝnh
Líp vá c¸ch nhiÖt
TÊm hÊp thô
1
2
3
Tia s¸ng mÆt trêi
èng dÉn n-íc kim lo¹i
4
5


Hình 1.4. Hệ thống sưởi ấm nhà cửa hay chuồng trại sử dụng NMT
NMT cũng thường được sử dụng để sưởi ấm nhà cửa, chuồng trại chăn nuôi
trong mùa đông. Hình 1.4 là một hệ thống sưởi ấm nhà cửa, chuồng trại nhờ không
khí nóng được sản xuất ra từ các bộ thu NMT.
d. Nguồn điện pin mặt trời nối lưới
Dàn pin mặt trời gồm nhiều modun pin mặt trời được ghép nối lại với nhau
(nối nối tiếp, song song hay hỗn hợp) và lắp đặt trên mái nhà hay nơi có nắng suốt
ngày. Khi có nắng dàn pin mặt trời phát ra dòng điện một chiều. Dòng điện này
NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ HỆ THỐNG
PHÁT ĐIỆN BẰNG SỨC GIÓ CÔNG SUẤT NHỎ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
22
được cho qua Bộ biến đổi điện (inverter) để biến đổi thành dòng điện xoay chiều
(ví dụ dòng điện 220V, 50Hz) và qua công tơ điện CT
1
đưa vào lưới điện quốc gia
(hay địa phương). Trong phương pháp này mạng lưới điện quốc gia hay địa phương
đóng vai trò như một hệ thống tích trữ điện năng (hay một nhà băng điện năng). Tuy
nhiên phương pháp này chỉ ứng dụng được những khu vực có lưới điện.
1.2.2. Các ứng dụng của năng lượng gió
a. Ứng dụng động cơ gió phát điện
Động cơ gió phân làm 3 loại: Loại cánh dạng khí động, loại rôto cánh phẳng
trục đứng và loại rôto cánh tròn trục đứng. Một trong những ứng dụng quan trọng
nhất của động cơ gió là để chạy máy phát điện. Các động cơ gió dùng để kéo máy
phát điện thường là các máy ít cánh có số vòng quay tương đối lớn. Điều quan trọng
khi dùng động cơ gió chạy máy phát điện là phải đảm bảo sự phối hợp tải giữa động
cơ gió và máy phát điện, vì máy phát điện thường có tốc độ quay lớn hơn động cơ
gió do đó cần sử dụng máy phát có tốc độ quay thấp hoặc sử dụng các bộ truyền

nhiệt này có thể cho qua tuabin để phát điện hoặc dùng một cách trực tiếp cho các
quá trình gia nhiệt hoặc chế biến nhiệt công nghiệp. Để khai thác các nguồn địa
nhiệt người ta thường sử dụng phương pháp khoan như: khai tác dầu hay khí đốt.
Đối với các nguồn địa nhiệt nông và nhiệt độ không cao (thấp hơn 170
0
C)
thường người ta khai thác nhiệt một cách trực tiếp hoặc sử dụng gián tiếp qua bộ
trao đổi nhiệt. Để sử dụng năng lượng điạ nhiệt có hiệu quả thông thường người ta
sử dụng ngay tại chỗ, nơi có nguồn địa nhiệt khai thác, vì khi dẫn nhiệt đi xa (ống
dẫn) hao phí nhiệt sẽ lớn.
Năng lượng địa nhiệt có nhiệt độ thấp hay trung bình có thể dùng để sưởi ấm
hay sản xuất nước nóng cho các mục đích sinh hoạt trong các gia đình hay các cơ sở
công cộng như: trường học, bệnh viện, nhà hàng, khách sạn vv.
Các chất lỏng địa nhiệt cũng được dùng để tạo ra nguồn nhiệt cho các quá
trình công nghiệp như sản xuất hoá chất hay đun nấu. Nhiệt và hơi nước từ nguồn
địa nhiệt cũng được sử dụng cho công nghiệp thực phẩm, sản xuất hàng hoá tiêu
dùng, sưởi ấm chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm hay sử dụng trong các nhà
kính trồng rau quả vv. Năng lượng địa nhiệt có thể dùng quay các động cơ tạo ra
cơ năng.
Trong các chất lỏng địa nhiệt còn chứa nhiều kim loại và khoáng chất quý
NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ HỆ THỐNG
PHÁT ĐIỆN BẰNG SỨC GIÓ CÔNG SUẤT NHỎ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
24
như: kali, cacbonat, bạc, bo, chì, kẽm vv. Thu hồi các chất này khi khai thác các
nguồn các nguồn địa nhiệt cũng là một nguồn sản phẩm phụ rất có giá trị.
1.2.6. Các ứng dụng của năng lượng đại dương
a. Phát điện khi thuỷ triều lên, xuống hoặc cả hai chiều
Khi thuỷ triều lên hoặc xuống người ta tạo ra sự chênh lệch giữa nước trong

năng lượng bức xạ mặt trời (NLMT) khá lớn. Tuy nhiên tuỳ thuộc vào điều kiện tự
nhiên mà NLMT có sự biến đổi từ vùng này sang vùng khác.
Vùng Đông Bắc là khu vực chịu ảnh hưởng mạnh nhất của gió mùa Đông
Bắc lạnh và ẩm nên NLMT thấp nhất cả nước. Mật độ NLMT biến đổi trong
khoảng từ 250 đến 400 cal/cm
2
. ngày. Số giờ nắng trung bình cả năm trong khoảng
1600 đến 1900 giờ.
Vùng Tây Bắc gồm các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, và vùng Bắc
Trung Bộ có NLMT khá lớn. Mật độ NLMT biến đổi trong khoảng từ 300 đến 500
cal/cm
2
.ngày. Số giờ nắng trung bình cả năm khoảng 1800 đến 2100 giờ.
Đặc điểm chung của bức xạ mặt trời ở miền Bắcc là có sự thay đổi rất rõ rệt
giữa mùa Đông (tháng 12, 1, 2) và mùa Hè (tháng 5, 6, 7, 8). NLMT về mùa Hè nói
chung lớn gấp 1,5 đến 2 lần so với mùa Đông.
Từ Đà nẵng trở vào NLMT rất tốt và phân bố tương đối điều hoà trong suốt
cả năm. Mật độ NLMT biến đổi trong khoảng từ 350 đến 500 cal/cm
2
.ngày. Số giờ
nắng trung bình cả năm trong khoảng 2000 đến 2600 giờ. Đây là khu vực ứng dụng
NLMT rất hiệu quả
b. Thuỷ điện nhỏ
Thuỷ điện nhỏ được hiểu là các trạm thuỷ điện có công suất dưới 10 MW.
Do không cần phải xây dựng các hồ chứa nước lớn dẫn đến sự huỷ hoại môi trường
cảnh quan nên thuỷ điện nhỏ được xếp vào NLTT. Việt Nam có nguồn tài nguyên
thuỷ điện nhỏ rất lớn, tập trung chủ yếu ở vùng núi phía Bắc và biên giới phía Tây.
Tổng tiềm năng thuỷ điện nhỏ được xác định khoảng 1800 đến 2000 MW, trong đó:
* Loại có công suất 100 đến 10 000 MW có 500 trạm với tổng công suất
1400 đến 1800 MW, chiếm hơn 90% tổng tiềm năng thuỷ điện nhỏ .


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status