PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trong văn học nghệ thuật, “biểu tượng” được coi như một “mã nghệ
thuật” quan trọng thể hiện nội dung tư tưởng của tác giả về cuộc đời và thế giới.
Bởi vậy, để khám phá thế giới nghệ thuật của tác phẩm và tìm hiểu phong cách
nghệ thuật của bất kì một nhà văn, nhà thơ nào không thể không khám phá và giải
mã các biểu tượng.
1.2. Chế Lan Viên là một nhà thơ lớn của dân tộc. Suốt cuộc đời, ông đã
không ngừng nỗ lực sáng tạo và cống hiến để lại cho đời một khối lượng tác phẩm
đồ sộ: 14 tập thơ, hàng chục tập bút kí, phê bình, tiểu luận... Kể từ khi xuất hiện trên
thi đàn với tập Điêu tàn, Chế Lan Viên đã tạo cho mình một dấu ấn riêng, độc đáo,
mới lạ. Và đến lúc chuẩn bị bước vào “xứ không màu”, thi nhân vẫn gửi lại cho đời
những vần thơ Di cảo như những dư vang khắc khoải của một hồn thơ không bình
yên. Nghệ sĩ ấy đã sống, cống hiến hết mình cho cuộc đời, cho thơ và luôn đứng ở
những đỉnh cao sáng tạo. Người ta gọi ông là “nhà thơ của thế kỉ” (Nguyễn Văn
Hạnh), là nhà thơ của “ba niềm sửng sốt” (Trần Mạnh Hảo), là “nhà thơ không thể
lấy kích tấc thường mà đo được” (Hoài Thanh)... Sáng tác của Chế Lan Viên thu hút
rất nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình. Cho đến nay, chỉ tính riêng thơ
đã có khoảng hơn 200 công trình, bài viết. Tuy nhiên, không phải mọi vấn đề đã
được nêu ra và không phải mọi vấn đề nêu ra đã có cách giải quyết triệt để. Do vậy,
thơ Chế Lan Viên vẫn là miền đất nghệ thuật còn nhiều bí ẩn, đòi hỏi tiếp tục được
khám phá để những giá trị của nó sẽ tỏa sáng lung linh hơn.
Di cảo thơ của Chế Lan Viên do nhà văn Vũ Thị Thường, người bạn đời của
nhà thơ tuyển chọn và giới thiệu sau khi ông qua đời. Tác phẩm gồm ba tập I, II, III
lần lượt ra đời những năm 1992, 1993, 1996 do nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành.
Di cảo thơ có tất cả 567 bài thơ, có những bài đã hoàn chỉnh nhưng chưa từng được
công bố và có cả những bài còn đang ở dạng phác thảo. Sự xuất hiện của ba tập Di
cảo là cả một niềm kinh ngạc với người đọc. Người đọc kinh ngạc về sức lao động
nghệ thuật của thi nhân, cho đến tận những năm tháng cuối đời, ông vẫn “sống hết
mình trên những trang thơ” (Vũ Tuấn Anh). Người đọc ngỡ ngàng trước bức chân
Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Bình nhận xét: “Thế giới hình ảnh thơ Chế Lan
Viên thật phong phú: có hình ảnh tả thực, có hình ảnh biểu tượng, ẩn dụ, có hình
ảnh thuộc cảm nhận mơ hồ của cõi tâm linh” [4, 239].
2
Đoàn Trọng Huy trong công trình “Nghệ thuật thơ Chế Lan Viên” đã chia
hình ảnh đặc trưng cho thơ Chế Lan Viên gồm ba loại: Hình ảnh vừa thực vừa ảo,
hình ảnh biểu tượng- tượng trưng, hình ảnh liên kết hay hình ảnh chùm [21].
Huỳnh Văn Hoa cũng nhận thấy: “Trong thơ Chế Lan Viên có hai loại hình
ảnh: một loại hình ảnh có tính chất hiện thực và một loại hình ảnh có tính chất ẩn
dụ tượng trưng. Loại thứ hai này mới là những gì tiêu biểu cho thế giới nghệ thuật
thơ Chế Lan Viên (…). Hầu hết hình ảnh trong thơ ông, kể cả trước và sau năm
1945, đều cơ bản tồn tại dưới dạng biểu tượng, tượng trưng, khái quát. Những
xương, sọ đầu lâu, thành quách tượng đài, tháp, tháng ngày biền biệt, mùa xuân,
mùa thu...và những hình ảnh về đất nước, con người, nhân dân (sau 1945)...đều
mang giá trị ẩn dụ. Nói thơ của Chế Lan Viên là thơ của hệ thống những biểu
tượng, ẩn dụ không có gì là quá đáng” [19].
Nguyễn Bá Thành cắt nghĩa phương thức tạo nên vẻ đẹp độc đáo của biểu
tượng trong thơ Chế Lan Viên: “Chế Lan Viên có một lối liên tưởng tạo những hình
ảnh, những biểu tượng tượng trưng vừa sinh động cụ thể, vừa trừu tượng, vô hình,
khó nắm bắt” [43, 184].
Tác giả Ngô Thị Kết chỉ ra sự vận động của biểu tượng thơ từ “Điêu tàn”
đến “Ánh sáng và phù sa” có mối quan hệ trực tiếp với cái tôi trữ tình: “Từ cái tôi
cô đơn buồn đau, bế tắc gắn với hình ảnh giàu sức biểu tượng trong “Điêu tàn”,
tới cái tôi hòa hợp riêng chung, trở về với nhân dân, đất nước gắn với hình ảnh
chân thực, mĩ lệ ở “Ánh sáng và phù sa” và cả hai tập “Điêu tàn” và “Ánh sáng và
phù sa” đều xuất hiện những hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng” [22, 80].
Nguyễn Văn Đông trong luận văn của mình chỉ ra sự vận động của biểu
vì bị chồng chất bởi sự trùng điệp của biểu tượng và ngôn từ” [43, 185] .
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Lâm Điền cũng đã đề cập Di cảo thơ ở phương
diện hình ảnh ảo: “Đặc biệt, các bài thơ Chế Lan Viên viết khi lâm trọng bệnh, hình
ảnh ảo xuất hiện khá nhiều. Hình ảnh của “xứ không màu”, “mé hư không”, “các trời
khác cũng đầy hoa”…ở trong thơ Chế Lan Viên không phải là sự ám ảnh của cái chết
mà chính là những biểu hiện sinh động, đúng đắn của ông về lẽ sống chết” [9, 83].
Như vậy, trong các ý kiến trên, các tác giả đều thừa nhận sự hiện hữu và giá
trị của biểu tượng trong Di cảo thơ. Nhưng cho đến nay, chưa có một công trình
nghiên cứu khoa học nào chuyên biệt về “Thế giới biểu tượng trong Di cảo thơ
của Chế Lan Viên”. Tuy nhiên, những ý kiến đó sẽ là một gợi ý quan trọng để
chúng tôi tìm hiểu đề tài này.
4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Biểu tượng là một trong những đặc điểm nổi bật, góp phần hình thành phong
cách nghệ thuật thơ Chế Lan Viên. Trong khuôn khổ của luận văn, người viết chủ
yếu tập trung vào hệ biểu tượng đa sắc, phong phú trong Di cảo thơ.
Di cảo thơ là tập hợp của những sáng tác kéo dài từ năm 1936 cho đến khi
nhà thơ giã biệt cuộc đời. Nhưng chúng tôi chủ yếu tập trung tìm hiểu những sáng
tác được Chế Lan Viên viết trong những năm cuối đời.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng những phương pháp sau:
4.1 Phương pháp thống kê, phân loại
Chúng tôi khảo sát ba tập Di cảo thơ, thống kê các biểu tượng, thống kê tần
số xuất hiện của chúng …Việc làm này giúp chúng tôi có các số liệu cụ thể, từ đó
có cái nhìn chính xác về hệ biểu tượng. Phân loại các biểu tượng sẽ tạo điều kiện
thuận lợi cho việc phân tích, giải mã các biểu tượng.
4.2 Phương pháp tiếp cận hệ thống
6
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: BIỂU TƯỢNG, KHÁI LƯỢC VỀ BIỂU TƯỢNG
TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN
1. 1 Biểu tượng
Biểu tượng (tiếng Anh: symbol, tiếng Pháp: symbole) là một thuật ngữ khoa
học được sử dụng trong nhiều ngành khoa học với những nội hàm khác nhau. Khái
niệm này cũng được dùng rộng rãi cả trong đời sống. Tuy nhiên, trong đời sống nó
được sử dụng với nội hàm chưa thống nhất. Có khi biểu tượng được dùng với nghĩa
là một hình ảnh tượng trưng mang tính ổn định như: chim bồ câu là biểu tượng của
hòa bình, vòng nguyệt quế là biểu tượng của chiến thắng... Có khi biểu tượng lại
được xem như là một kí hiệu- một logo đã được thiết kế sẵn mang ý nghĩa cố định
như: lá cờ đỏ sao vàng biểu tượng cho tổ quốc Việt Nam, hoa sen là biểu tượng cho
hãng hàng không Việt Nam Airline...Đôi khi biểu tượng còn được dùng như một
dấu hiệu đặc trưng vùng miền hay một quốc gia nào đó như tháp Ép-phen biểu
tượng cho nước Pháp, tháp Rùa và Hồ Gươm là biểu tượng của Hà Nội và Việt
Nam.... Như vậy, rõ ràng với những cách dùng khác nhau, biểu tượng lại mang
trong nó những ý nghĩa khác nhau. Nghiên cứu về biểu tượng, đến nay cũng tốn
không ít giấy mực nhưng để hiểu được một cách đầy đủ về biểu tượng không hề
đơn giản. Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi nhận thấy cần thiết phải tìm hiểu nội
hàm khái niệm này trong mối liên hệ với các ngành khoa học khác nhau, từ những
góc nhìn khác nhau.
1.1.1 Biểu tượng từ những góc nhìn
- Xét theo tâm lý học, phân tâm học
Các nhà tâm lý học coi biểu tượng là một “hiện tượng tâm sinh lý do có một
sự việc của ngoại giới tác động vào giác quan khiến ý thức nhận biết được sự vật
kích thích hoặc thấy hình ảnh của nó trở lại trong trí tuệ hay kí ức” (Dẫn theo [3,
94]). Như vậy, biểu tượng là hình ảnh cảm tính về hiện thực khách quan, là hình
là một yếu tố tĩnh mà phải xem xét trong quá trình vận động, trong việc sử dụng và
tái tạo biểu tượng của đời sống xã hội. Ý nghĩa của biểu tượng không phải là một
hằng số mà là một biến số. Nó không khép kín mà ngược lại còn có khả năng gợi ra
các chiều liên tưởng khác nhau trong thế giới tinh thần của con người.
Ví dụ: Từ “mẫu gốc” (còn được gọi là nguyên mẫu, nguyên sơ tượng) bầu
trời sản sinh ra hàng loạt các “biểu tượng gốc” như: mặt trời, mây, sao, gió, sấm, ...,
8
thiên đàng, thiên thần.... Từ hệ biểu tượng gốc này lại tiếp tục sản sinh các hệ biểu
tượng mới và các ý nghĩa mới.
Hay biểu tượng “áo” cũng vậy. Từ biểu tượng gốc này sản sinh hàng loạt các
biến thể như: vạt áo, thân áo, đường tà, áo nâu, áo xanh, áo tím... Ban đầu, “áo” chỉ
mang nghĩa là một giá trị vật chất, là vật che phủ thân thể con người trước biến đổi
của môi trường. Sau đó, nó liên tục được bồi đắp thêm các ý nghĩa khác như: biểu
trưng cho giới tính (áo tứ thân: nữ tính, áo the: nam tính), cho tầng lớp giai cấp
trong xã hội (VD: áo hoàng bào, áo triều bào biểu tượng cho vua chúa, áo nâu
sòng biểu tượng cho dân đen...), biểu trưng cho tình yêu, cho lời hẹn thề chung
thủy...
Biểu tượng văn hóa có mối liên hệ chặt chẽ với biểu tượng văn học, thậm chí
chúng có thể chuyển hóa ý nghĩa cho nhau. Ví dụ như biểu tượng “hoa hồng”. Trong
“Từ điển văn hóa thế giới”, các tác giả cho rằng hoa hồng “biểu thị một sự hoàn mĩ
trọn vẹn, một sự hoàn thành không thiếu xót (...). Nó còn tượng trưng cho phần thưởng
của cuộc sống, tâm hồn, trái tim, tình yêu”, “biểu tượng của tình yêu và cao hơn thế,
của sự hiến dâng tình yêu, của tình yêu trong sáng...” [5, 429]. Với những ý nghĩa đó,
các thi nhân cũng dùng biểu tượng “hoa hồng” để bộc lộ tình yêu:
Cô kia cắt cỏ bên sông
Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang
(Ca dao)
tượng phong phú, nhiều tầng bậc ẩn kín bên trong, nhiều khi khó nắm bắt” [12].
Đặt trong mối quan hệ với văn hóa dân gian, PGS.TS Nguyễn Bích Hà cho rằng
biểu tượng mang tính phổ biến và chứa đựng nội dung ý nghĩa phong phú, nhiều
tầng bậc. Tuy nhiên, đặt trong mối quan hệ với văn học, biểu tượng không phải bao
giờ cũng mang tính phổ biến, được sử dụng rộng rãi, đôi khi biểu tượng là dấu ấn
riêng của một cá nhân và chỉ tiếp nhận được ý nghĩa trong một văn cảnh nhất định.
Còn PGS.TS Lê Lưu Oanh lại khẳng định: “Biểu trưng được xem là những
hình ảnh cảm tính về hiện thực khách quan bộc lộ quan điểm thẩm mĩ của từng tác
giả, từng thời đại, từng dân tộc, thường được biểu hiện bằng các ẩn dụ, hoán dụ,
tượng trưng” [33, 176]. Ở đây, PGS.TS Lê Lưu Oanh nhấn mạnh đến khái niệm
biểu tượng ở phương diện cá nhân, thời đại, dân tộc cũng như các phương thức biểu
hiện của biểu tượng như các ẩn dụ, hoán dụ...
Cũng bàn về vấn đề này, TS Nguyễn Thị Ngân Hoa quan niệm : “Theo
nghĩa rộng nhất, khái niệm biểu tượng dùng để chỉ một thực thể bao gồm hai mặt:
10
mặt tồn tại cảm tính trong hiện thực khách quan hoặc trong sự tưởng tượng của
con người (cái biểu trưng) và mặt ý nghĩa có mối quan hệ nội tại, tất yếu với mặt
tồn tại cảm tính đó nhưng không bị rút gọn trong những đặc điểm bản thể của sự
tồn tại này (cái được biểu trưng). Do đó, mối quan hệ giữa cái biểu trưng và cái
được biểu trưng mang tính đa trị” [18, 38]. Như vậy, ở đây nhà nghiên cứu
Nguyễn Thị Ngân Hoa cho rằng biểu tượng gồm hai mặt: cái biểu trưng và cái
được biểu trưng, hai mặt này vừa có mối quan hệ nội tại, tất yếu, cảm tính với
nhau vừa có tính đa trị. Nói như Todorov “chỉ một cái biểu đạt giúp ta nhận ra
nhiều cái được biểu đạt ” [5, XXVII].
Như vậy, dù phát biểu bằng những hình thức khác nhau nhưng các nhà
nghiên cứu đều nhận thấy biểu tượng gồm những phương diện sau:
- Biểu tượng gồm hai mặt: cái biểu trưng và cái được biểu trưng. Nó có khả
văn, nhà thơ lấy chất liệu từ kho tàng biểu tượng văn hóa của nhân loại rồi nhào nặn
lại tạo cho biểu tượng thêm những lớp nghĩa mới. Vì vậy mà ý nghĩa của biểu tượng
liên tục được bồi đắp, được làm đầy, làm mới. Đó chính là đặc trưng thứ 2 của biểu
tượng văn học.
Ý nghĩa của biểu tượng văn học không hề khép kín, đóng khung ở một
khuôn mẫu nhất định mà nó luôn được bồi đắp, được kiến tạo thêm những lớp nghĩa
mới. Hơn nữa, trong môi trường văn hóa, văn học của mỗi quốc gia, mỗi thời đại, ở
từng tác giả khác nhau biểu tượng lại mang trong mình những ý nghĩa đặc trưng.
VD: Biểu tượng “trăng”. Nếu như trong cao dao, trăng là biểu tượng cho tình
yêu thiên nhiên, yêu đất nước, yêu cuộc sống của người dân lao động thì trong Truyện
Kiều trăng lại là biểu tượng cho tình yêu bị chia cắt, cho sự bơ vơ, cô quạnh:
Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường
(Truyện Kiều)
Trong thơ của Hàn Mặc Tử, “trăng” là biểu tượng cho nỗi đau thương gặm
nhấm, giằng xé tâm can, biểu tượng cho khát vọng mãnh liệt về tình yêu và cuộc sống:
“Gió rít tầng cao trăng ngã ngửa
Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô
Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy
Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra”
12
Hay trong Thơ Mới, “dòng sông” ( Quê hương) của Tế Hanh là biểu tượng
của tình yêu quê hương đất nước nhưng “dòng sông” (Tràng giang) của Huy Cận
lại là biểu tượng cho dòng đời rộng lớn với những kiếp người nhỏ bé, trôi dạt.
Thậm chí, do quá trình liên tục sáng tạo và mở rộng nội hàm, biểu tượng đôi
khi còn chứa đựng trong nó những ý nghĩa trái ngược nhau:
VD: Thuyền- bến trong ca dao là biểu tượng cho tình yêu chung thủy:
cùng với quá trình bồi đắp, sáng tạo dồi dào về nghĩa làm cho biểu tượng văn học
ngày càng phong phú và có chiều sâu, vượt ra ngoài khuôn khổ của chính nó, tạo
nên sức sống lâu bền của tác phẩm.
c. Tính dân tộc và tính thời đại
Để thực hiện chức năng phản ánh đời sống của mình, văn học sáng tạo ra hệ
biểu tượng. Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia dân tộc, mỗi thời đại khác nhau hệ biểu
tượng ấy lại mang những đặc trưng riêng. Bởi vậy mà chúng mang tính dân tộc và
thời đại.
VD: Trong các thể loại trữ tình dân gian Nga, “cây táo trổ hoa” là biểu
tượng cho sắc đẹp tuổi thanh xuân còn “chim ưng” là biểu tượng cho lòng dũng
cảm, cho sức mạnh, “chim họa mi” là biểu tượng cho hạnh phúc, tình yêu, niềm
tin…[25, 50] Còn trong thơ cổ Trung Quốc, “mây trắng giữa bầu không” là biểu
tượng mang ý vị triết học cho một tâm hồn nhàn tản, phiêu du đi một mình bên trên
cuộc đời, sự tồn tại mơ hồ của con người trước hư không. “Nhành liễu” là tượng
trưng cho người con gái, cho sự chia ly:
Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu
Xuân nhật ngưng trang thướng thúy lâu
Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc
Hối giao phu tế mịch phong hầu
(Khuê oán-Vương Xương Linh)
Trong ca dao Việt Nam, biểu tượng cho tình yêu nam nữ thủy chung son sắc
là thuyền -bến, trầu- cau…, biểu tượng cho tình nghĩa mẹ cha là núi cao, biển cả,
nước trong nguồn... Đến Nguyễn Bính, biểu tượng con thuyền, dòng sông cũng đã
khác với ca dao rất nhiều. Cánh buồm xuất hiện trong thơ của thi sĩ chân quê hư hư
thực thực. Một cánh buồm mà mở cả thời gian, không gian chia ly, chất chứa rất
nhiều tâm trang, sự xót xa, tiếc nuối:
14
Tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành hệ thống biểu tượng
trong thơ Chế Lan Viên quả thật không dễ dàng. Số lượng tác phẩm của Chế Lan
Viên quá đồ sộ. Chỉ tính riêng thơ, ông đã để lại cho đời hơn 10 tập thơ: Điêu tàn
(1937), Gửi các anh (1955), Ánh sáng và phù sa (1960), Hoa ngày thường, chim
báo bão (1967), Những bài thơ đánh giặc (1972), Đối thoại mới (1973), Hái theo
mùa (1977), Hoa trên đá (1984), Ta gửi cho mình (1986) và ba tập Di cảo thơ xuất
bản sau khi ông mất. Thời gian sáng tác trải dài theo chiều vận động của lịch sử, ở
giai đoạn nào thì ông cũng để lại những dấu ấn của mình trong nền văn học nước
nhà. Tựu chung lại, chúng tôi nhận thấy, các yếu tố cơ bản sau ảnh hưởng trực tiếp
đến sự hình thành biểu tượng trong thơ Chế Lan Viên:
1.2.1 Quê hương
Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 23-10-1920 trong một
gia đình viên chức nghèo ở Cam Lộ, Quảng Trị. Từ năm 1927, gia đình chuyển vào
An Nhơn, Bình Định. Đây trở thành quê hương thứ hai của ông. Bình Định là miền
đất giao thoa bởi các nền văn hóa khác nhau. Từ sau năm 1471 những lớp cư dân
Việt đầu tiên đã đến sinh cơ lập nghiệp trên vùng đất Bình Định ngày nay, bắt đầu
một quá trình giao thoa và hỗn dung văn hóa. Người Việt mang tới mảnh đất này
những truyền thống được tích lũy hàng nghìn năm từ thủa Hùng Vương dựng nước.
Nơi đây đã hình thành một nền văn hóa giàu bản sắc. Một nếp nhà lá mái hay
hương vị mặn mòi của nước mắm Gò Bồi, một đêm diễn xướng hát Bội, những môn
phái quyền roi cùng truyền thống thượng võ đặc sắc .....đều để lại dấu ấn khó phai
mờ cho ai đó đã từng một lần đặt chân lên mảnh đất này. Đặc biệt, thành Bình Định
còn chính là Đồ Bàn, kinh đô của nước Chiêm Thành xưa, nơi có những Tháp
Chàm cổ kính, sừng sững trên các sườn đồi hoang vắng. Đây chính là những chứng
tích cho một nền văn minh đã sụp đổ. Và “Chế Lan Viên bị ảnh hưởng hoàn toàn
bởi những ngọn tháp Chàm nằm rải rác khắp Bình Định” [1, 527]. “Trên đường đi
về hằng ngày, từ thành Bình Định đến trường học ở Quy Nhơn, hai ngôi tháp ở
làng Hưng Thạnh nghiêng mình đứng sừng sững, cắm sâu vào mắt chàng như hai mũi
Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra trang sử mới cho đất nước. Cách
mạng cũng giải thoát các thi nhân ra khỏi tình trạng bế tắc trong tư tưởng, mở ra
nguồn cảm hứng mới cho tâm hồn nghệ sĩ. Từ bóng tối của chế độ cũ, nhà thơ bước
theo ánh sáng chói lọi của lý tưởng cách mạng, “đi từ thung lũng đau thương ra
cánh đồng vui” để cất tiếng ca ca ngợi cuộc sống mới. Hiện thực cuộc sống của đất
nước đã thổi đến trang thơ của Chế Lan Viên một luồng gió mới nên một “cuộc tái
17
sinh màu nhiệm”, khơi dậy niềm tin yêu, lòng biết ơn và sự gắn bó sâu sắc của nhà
thơ với Đảng, với nhân dân và đất nước. Tuy nhiên, ông tìm đến hiện thực bề bộn,
phong phú của cuộc sống không phải để miêu tả một cách giản đơn, phản ánh
nguyên dạng mà khái quát, nâng lên thành các biểu tượng giàu giá trị triết lý. Bởi
vậy, thơ Chế Lan Viên sử dụng các biểu tượng phong phú, đẹp đẽ để đủ sức để diễn
tả hiện thực cuộc sống sôi động, nhiều màu sắc.
Sau năm 1975, đất nước bước sang một trang sử mới. Chiến tranh đã đi qua,
sau niềm vui ngây ngất của chiến thắng, con người quay trở lại với cuộc sống đời
thường, phải đối diện với bao khó khăn, bộn bề của đời sống, với bao mối quan hệ
thế sự phức tạp... Cuộc sống thời hậu chiến có quá nhiều điểm khác biệt so với cuộc
sống thời chiến tranh. Điều đó đòi hỏi nghệ sĩ phải xác lập vị thế của mình sao cho
thích hợp với hoàn cảnh lịch sử mới.
Thời kì này, đã có sự nhận thức lại về bản chất, chức năng của thơ. Thơ
không còn được xem là “ngôi đền thiêng bí ẩn” dành riêng cho những người có khả
năng và người ta cũng không khoác cho thơ sứ mệnh cải tạo xã hội nữa. Thơ được
nhìn nhận với đúng bản chất, khả năng và giới hạn của nó. Thơ được đặt giữa cuộc
đời, không cao hơn và cũng không thấp hơn. Từ chỗ là những ca sĩ ngợi ca đất nước
và nhân dân bằng cái nhìn sử thi và cảm hứng lãng mạn, giờ đây các nhà thơ
“chuyển giọng” từ “giọng cao” sang “giọng trầm”:
Giọng cao bao nhiêu năm, giờ anh hát giọng trầm
Chế Lan Viên là một con người có năng khiếu thơ văn bẩm sinh, trí tuệ uyên
bác, thông hiểu văn hóa Đông Tây từ cổ chí kim đặc biệt đó là con người ham học
hỏi, say mê học hỏi. “Ông đọc nhiều và suy tư sâu sắc cả Đông Tây kim cổ, với văn
hóa dân tộc ông có sự say mê, có ý thức tìm hiểu, kế thừa đặc biệt nghiêm túc” [29].
Phan Thị Vàng Anh, con gái của nhà thơ có kể lại rằng: Cha tôi “học thơ từ cổ chí
kim, của bất cứ ai, miễn đáng gọi là thơ, học kịch, học văn (…) Cho đến lúc gần
bảy mươi, cha tôi vẫn là một học trò ngoan, bất chấp tuổi già mà len lỏi vào bất cứ
góc nào của khu vườn văn hóa [2]. Xuân Diệu gọi Chế Lan Viên là một nhà bách
khoa toàn thư. Có thể nói, bằng một tinh thần học hỏi nghiêm túc, một vốn năng
khiếu bẩm sinh, Chế Lan Viên sớm trở thành một nhà thơ uyên bác, trí tuệ
“Chế Lan Viên là một nhà thơ trước sau đều có ý thức về thơ, về bản chất
của thơ, vai trò của thơ” [39]. Ông chưa bao giờ bằng lòng với chính mình; chưa
bao giờ ngừng tìm tòi và thể nghiệm. Trước cách mạng, Chế Lan Viên quan niệm:
“Làm thơ là làm sự phi thường. Thi sĩ không phải là người. Nó người mơ, người
19
say, người điên. Nó là tiên, là ma, là quỷ, là tinh, là yêu. Nó thoát hiện tại. Nó xối
trộn dĩ vãng. Nó ôm trùm tương lai” [49]. Quan niệm này xuất phát từ sự ảnh
hưởng của chủ nghĩa tượng trưng ở phương Tây, một trào lưu nghệ thuật xuất hiện
vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Ta có thể nhận ra bóng dáng của Baudelaire và
Edgar Poe- những đại biểu của chủ nghĩa tượng trưng khi họ quan niệm: “Làm thơ
là làm những điều kì lạ, dị thường, vượt lên trên mọi giới hạn thông thường”. Trong
các công trình nghiên cứu về thơ Mới, nhiều nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra đặc
điểm này. Phan Cự Đệ khẳng định trường thơ loạn (do Chế Lan Viên và Hàn Mặc
Tử sáng lập) “chịu ảnh hưởng trực tiếp những quan niệm thẩm mĩ của Edgar Poe”,
“càng về sau, họ không chỉ chịu ảnh hưởng của một mà rất nhiều thi sĩ Pháp, trong
đó Baudelaire là để lại chứng tích sâu đậm nhất” [8]. Cùng quan điểm này, Hoài
Thanh cũng thừa nhận sự ảnh hưởng của thơ tượng trưng trong sáng tác của hai chủ
tưởng, hay phải diễn tả những ý tưởng dính hình ảnh, bằng hình ảnh. Đó là hai mặt
của một việc là làm thơ, như bật một ngọn lửa lên vừa có một hình ảnh sáng, vừa
có một sức nóng, không thể bảo cái nào trước, cái nào sau được” [58,72]. Nói cách
khác là “ý tưởng chính là hình ảnh hay hình ảnh là hiện thân của ý tưởng cũng
vậy” [21,47]. Bởi vậy, có thể thấy thơ ông không phụ thuộc vào cái cụ thể của hiện
thực, thường ít chi tiết của hiện thực trong nguyên dạng sống động của nó mà
ngược lại, hình ảnh đó thường được khái quát, nâng lên một tầm nhận thức mới,
biểu thị những ý nghĩa vượt tràn ra khỏi vỏ ngôn ngữ vốn có của nó. Đó chính là
một trong những cơ sở để hình thành nên biểu tượng. Ngay cả khi đã sang tuổi xế
chiều, quan niệm đó vẫn còn nguyên giá trị: “Những chiếc lá thơm hái lúc về già/
Những chiếc lá có hương tư tưởng”.
Càng đến chặng cuối của cuộc đời thì Chế Lan Viên càng trăn trở nhiều hơn
về nghề nghiệp của mình. Ông quan niệm thơ của thời nào cũng phải biết tạo ra chất
lửa từ nỗi đau của chính mình và nhân thế (Giàn hỏa). Trước yêu cầu thời đại mới,
ông nhận thấy thơ cần “chuyển giọng”, cần thay đổi “đề tài” để “mỗi câu thơ hôm
nay phải tiến hơn hôm qua một ít”, cần “lộn trái” mọi vấn đề lên để không chỉ thấy
mặt này mà còn thấy được cả “bề thêu trái” của nó. Chế Lan Viên cũng nhận rằng
nhiệm vụ tất yếu của thơ phải thay đổi thi pháp, đó là tiền đề cho sự tồn tại của nó:
“Câu thơ phải luôn luôn bất ổn
Luôn xôn xao
Không thể nằm im mà ngủ được nào”
21
Khi Tuyển tập của mình ra đời, Chế Lan Viên tâm sự: “Ra xong cái tuyển,
tôi xem như đắp xong cái mộ rồi. Khá cũng đến thế mà kém cũng đành thế, biết sao,
cả đời mình gắng mãi chứ có chơi đâu” [36]. Một nhà thơ ở vào cái tuổi thất thập
cổ lai hy, dẫu tự coi đã “đắp xong mộ” cho mình ấy vẫn mà vẫn say sưa, cần mẫn
viết. Để rồi từ đó, Di cảo thơ ra đời.
hay. Có thể nói, trong phản ứng hóa học của tư tưởng và cảm xúc để tạo ra một
chất thứ ba là thi ca, cái chết là một chất xúc tác kì diệu của Chế Lan Viên. Và
những cơn đau chính là nhiệt độ, là lửa để tạo ra phản ứng thi ca của ông” [16].
Người đọc vẫn bắt gặp trong Di cảo một Chế Lan Viên “vừa quen vừa lạ” và trên
hết là một nhà thơ lớn đến phút cuối đời “chuẩn bị đi” vẫn khát khao tận hiến cho
cuộc đời và thơ. “Con người này quả là người của trời đất, của bốn phương, không
thể lấy kích tấc thường mà hòng đo được” [41].
Có thể nói, ảnh hưởng của quê hương, thời đại, và những yếu tố thuộc về bản
thân con người nhà thơ đã tạo nên sự đa sắc, đa diện của hệ biểu tượng trong thơ
Chế Lan Viên nói chung và Di cảo thơ nói riêng.
1.3 Sự vận động của biểu tượng trong thơ Chế Lan Viên qua một số tập
thơ tiêu biểu
1.3.1 Biểu tượng trong Điêu tàn
Trong lời tựa tập Điêu tàn, Chế Lan Viên viết: “Tôi nằm ngủ ở trong sao,
nghe được, tung mây ngồi dậy, vồ lấy cái quà quý giá ấy rồi say sưa, rồi ngây ngất,
rồi điên cuồng vỗ lên đầu sao Khuê sao Đẩu, lên cả Nguyệt Cầu mà bảo chúng nó
rằng: - Ha , ha, bay ôi! Loài người thành thi sĩ như Ta cả rồi” [50]. Chế Lan Viên
với trường thơ Loạn đã “xác lập một thế giới mới trong thi ca khác với quan hệ của
đời thường” [11]. Đó là một thế giới dị thường. Trong thế giới ấy, mọi sự vật hiện
tượng được sinh ra lần đầu, được định danh bằng cách viết hoa để trở thành những
biểu tượng mang ý nghĩa mới như: Sông Linh, Cõi U Buồn, Cõi Tang, Cõi Hư Vô,
Suối Khổ…., cả những cảm xúc của con người cũng được viết hoa và cho nó những
ý nghĩa mới: Lầm Lạc, Chán Nản, U Buồn…
Bằng khả năng tưởng tượng, liên tưởng tuyệt vời, chàng thi sĩ tài hoa ấy còn
tạo nên ở Điêu tàn một thế giới thi ca với vô vàn các biểu tượng khác nhau như:
“bóng tối”, “mồ hoang”, “sọ người”, “ hồn ma”, “ huyệt”, “ xương”, “đầu lâu”,
...Với những biểu tượng này, thi sĩ dẫn ta về đến tận cùng của những đau thương,
oán hận nơi cõi chết, thế giới của các hồn ma dật dờ, quờ quạng trong bóng tối.
Cũng ở Điêu tàn người đọc còn bắt gặp một thế giới khác, thế giới của cái đẹp bị
mỗi lời thơ đều là vũ khí đánh giặc. Trong Ánh sáng và phù sa, ta cũng gặp rất
nhiều biểu tượng chỉ màu sắc và chủ yếu là những gam màu nóng như: “đỏ”, “xanh
biếc”, “vàng”, “vàng rực”, “hồng”…Đây là những biểu tượng biểu trưng cho sự
24
thay da đổi thịt của đất nước, sự hồi sinh của nhân dân cũng như của tâm hồn người
nghệ sĩ “khi đã có hướng rồi”.
Tập thơ “Hoa ngày thường, chim báo bão” là một bước phát triển mới trong
thơ Chế Lan Viên. Từ sắc thái trữ tình đậm nét trong “Ánh sáng và phù sa” chuyển
sang sắc thái thời sự, chính trị. Vì thế biểu tượng thơ trong “Hoa ngày thường, chim
báo bão” cũng được mở rộng thêm một bước nữa. Đó là những biểu tượng nói lên
vẻ đẹp tinh thần của con người Việt Nam trong kháng chiến như “hoa”, “sao”,
“sao chiến thắng”, “mặt trời hồng”... Hay đó là những biểu tượng về tội ác của
giặc cũng như những đau thương mất mát mà đất nước ta phải hứng chịu trong suốt
những năm kháng chiến như “máu”, “máu xương”, “bão”, “bom”…Ở đây, tác giả
cũng sử dụng rất nhiều biểu tượng khi viết về Bác Hồ, vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu
của chúng ta, linh hồn của cuộc kháng chiến.
Có thể nói, hệ thống biểu tượng được mở rộng phong phú hơn, giàu màu sắc
hơn bởi cái tôi trữ tình của thi nhân đã có sự thay đổi lớn “đi từ thung lũng đau
thương đến cánh đồng vui”. Hệ thống biểu tượng ấy ngày càng bám sát hiện thực,
gắn với hiện thực, thoát hẳn khỏi sự u ám, cô đơn, bế tắc trong “Điêu tàn” mà
hướng đến những gì tươi vui, đầy hy vọng và tin tưởng.
1.3.3 Biểu tượng trong Di cảo thơ
Ba tập Di cảo thơ được xuất bản sau khi nhà thơ qua đời. “Di cảo là sự trút
sổ cuối cùng đầy đau đớn những tư tưởng nghệ thuật đã được Chế Lan Viên hoài
thai từ rất lâu” [27,6]. “Chế Lan Viên xứng đáng là cây đại thụ của thơ ca dân tộc.
Đến cuối đời ông còn đăng quang vòng nguyệt quế trong giải thưởng Hội nhà văn
1994; với tập Di cảo” [33, 81]. PSG. TS Nguyễn Phạm Hùng gọi những vần thơ Di