Nhận thức về quá khứ
trong "Di cảo thơ" của
Chế Lan Viên
Trong Di cảo thơ có trên dưới năm chục bài viết trực tiếp hoặc có hình ảnh về
cuộc sống đã đi qua. Trong đó, có 23 bài viết trong hai năm 1987-1988 (hai năm đầu khi
đất nước và văn học tiến hành công cuộc đổi mới) hoặc viết trước đó nhưng hoàn thành
vào hai năm này. Nhận thức về quá khứ là một vấn đề lớn, nhiều khi lại vượt sang
những lĩnh vực khác mà người làm văn nghệ khó am tường hết nên có thể chưa nói
đúng, nói trúng tất cả những gì đã diễn ra trong lịch sử. Bởi vậy, qua khảo sát Di cảo
thơ, bài viết này tập trung vào những vấn đề xuất hiện nhiều và rõ nét nhất mà Chế Lan
Viên đề cập đến để rút ra những cảm nghĩ về tác giả về vấn đề phức tạp này.
1. Trước hết về vấn đề truyền thống lịch sử. Số bài, số câu viết về chủ đề này
không nhiều song lại giúp người đọc nhìn nhận khá cụ thể thông điệp của tác giả.
Nhận thức về đặc điểm lịch sử của nước ta đã có nhiều người đề cập đến, nhưng
các ý kiến đó thường nghiêng về những thuận lợi. Ở Chế Lan Viên lại khác, ông cho
rằng từ lúc sinh ra, dân tộc ta đã phải chống chọi với giặc giã, với những âm mưu… Mà
tuổi thơ thường chưa nhận thức hết được những âm mưu. Giặc ngoại xâm tràn đến đồng
loã với nạn lũ lụt, hạn hán hoành hành. Cái vòng xoáy dữ dằn đó luôn chụp xuống đầu
dân tộc ta suốt mấy ngàn năm: “Đất nước gì mà tuổi trong nôi đã phải nhảy lên mình
ngựa thép đi đánh giặc/ Đang cưỡi trâu, chơi cờ lau cũng phải bỏ chơi mà đánh giặc/
Chiếc gối lông nga cũng có âm mưu của giặc trộn vào/ Yêu mà bị chém rơi đầu vì Mị
Châu hoá giặc!/ Cho đến cùng phải hoá Sơn Tinh, Thuỷ Tinh/ Đánh giặc cùng nhau huy
động núi non, lũ lụt vào vòng chiến tình yêu/ Mà cướp một cô Nàng” (Đất nước ta)
(1)
Những bài thơ viết về Nguyễn Trãi và nhất là về Nguyễn Du trong Di cảo thơ cho
thấy sự trăn trở của Chế Lan Viên về di sản văn hoá, văn học của dân tộc. Viết về
Nguyễn Trãi, nhà thơ thấm thía nỗi đau và oan khuất của thi hào. Mỗi dòng thơ có một
từ “máu”, từ “máu thấm” cho đến “máu đỏ lòm” và “máu của hồn oan”. Nhưng cao hơn
là sự bất tử của “ngọc sáng ngời” của con người và của thơ:“Giọt máu thấm từ trang
sách ra bìa hay bìa vào ruột sách/ Từ trang đầu đến trang chót thơ kia đều thấm máu
đỏ lòm/ Chúng tru di máu, tru di người, chứ tru di thơ sao được?/ Ngọc sáng ngời là
hoá thân của máu, của hồn oan” (Thơ Nguyễn Trãi)
(5)
.
Số lượng những bài thơ viết về Nguyễn Du và tác phẩm của ông còn nhiều hơn
(gần mười bài). Trước Di cảo thơ, Chế Lan Viên đã có thơ, trong đó có nhiều bài hay
viết về Nguyễn Du và Truyện Kiều cũng như viết về các tác phẩm khác hoặc về các
nhân vật khác trong tác phẩm của Nguyễn Du. Theo thời gian, có thể kể đến: Đọc Kiều;
Gửi Kiều cho em năm đánh Mỹ; Gửi Nguyễn Du; Nghĩ thêm về Nguyễn… Đó là chưa kể
đến nhiều câu nằm rải rác trong các bài thơ khác viết về đại thi hào và về tác phẩm mà
nhiều người luôn nhớ:
- “Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hoá thành văn…”
- “Văn chiêu hồn từng thấm giọt mưa rơi!”
- “Cho thịt những chàng Kim không còn đốt cháy những cô Kiều”.
Ở Di cảo thơ, có hai bài Kỷ niệm Nguyễn Du. Trong đó, Chế Lan Viên đều nhắc
đến một ý là việc tổ chức kỷ niệm chả có ích gì cho đại thi hào cả: “Khi ta kỷ niệm
Nguyễn Du chả ích gì cho Nguyễn/ Chả qua để kẻ yêu thơ khỏi tủi trong lòng” (Kỷ niệm
Nguyễn Du)
(6)
. Và: “… Kỷ niệm Nguyễn Du chỉ thoả lòng ta thôi/ Chứ ích gì cho ông
nữa?/ Mái tóc ông hoa râm thì đã hoa râm rồi/ Thuốc nào cứu chữa?/ Đói ăn hoa cúc
thay cơm trừ bữa/ Ta có thương ông thì ông cũng đã chết lâu rồi” (Kỷ niệm Nguyễn
Du)
(7)
khổ, chết chóc, Chế Lan Viên viết: “Nhớ năm đói mẹ bế anh về vùng than xứ bể/ Giá
mạng người thua một xẻng than” (Nhặt xương)
(9)
.
Sau cách mạng, cuộc sống của cả dân tộc và của mỗi người dân đã đổi khác. Chế
Lan Viên ý thức được món “nợ máu xương, áo cơm, một ngụm nước khát lòng” nên
trong hai bài thơ viết về Côn Đảo, nhà thơ như muốn tính cho mình những thứ mà mình
còn ghi nợ. Nhưng cao hơn là sự thán phục các chiến sĩ cách mạng đã chịu đựng hy sinh
và đã hiên ngang bất khuất trước cảnh lao tù của thực dân, đế quốc: “Năm tháng trại tù
có màu trắng bệch của tường vôi thời gian ẩm mục/ Lại có màu lá bàng đỏ úa máu tù
nhân/ Đo nó, tính nó bằng số trận đòn nhận trên mình, số mộ chôn ngoài cát/ Có khi lại
là màu không đo được, thẳm sâu của bầu trời xanh thủng đáy/ Và màu mây vây kín đảo,
bốn bề che hết cả bình minh” (Màu sắc Côn Đảo)
(10)
.
Thậm chí, đơn vị đo lường ở nơi ấy cũng rất đặc biệt " chỉ có bọn giết người và
người bị giết biết thôi". Chế Lan Viên nói đến ranh giới giữa cái sống và cái chết, giữa
trung dũng và thoái bộ. Tố Hữu đã có bài Con cá, chột nưa viết về chủ đề này. Nhưng ở
đây, Chế Lan Viên nói đến trong bối cảnh cụ thể của địa ngục trần gian ở Côn Đảo
thì:“Nháy mắt nhảy vào cái chết/ Chặc lưỡi đầu hàng/ Đưa tay xin không còn là người
trinh trắng nữa Nhích lên một bước lấy thân mình che bạn/ Lùi một ly tránh dùi cui/
Dành cái sống cho mình, mặc bạn chịu đòn, chôn xác Hàng Dương!” (Đơn vị ở Côn
Sơn)
(11)
.
Cảm nhận được quá trình đấu tranh gian khổ, hy sinh, bất khuất của những người
cách mạng nên vào những năm cuối đời, Chế Lan Viên còn viết được những vần thơ rất
hào sảng, đầy trách nhiệm: “Ta đến sau, tựa vào thời đại biến trang thơ ta thành sấm
sét/ Thành lá cờ đỏ chói sắc vàng tươi” (Cờ đỏ sao vàng)
(12)
chống Mỹ để thấy được chất thơ “hậu chiến”. Còn những bài viết về chiến tranh biên
giới thì lại có khoảng thời gian đồng thời với tác giả. Ngay cả khi tác giả đã qua đời,
xung đột biên giới còn kéo dài thêm vài năm nữa. Một số bài phê bình về Di cảo
thơ trước đây đã không phân biệt điểm này nên phân tích chưa thoả đáng. Chẳng hạn
bài Hoa chạc chìu, cuối bài ghi: “mùa bệnh 1988” thì phải là bài thơ hồi ức về chiến
tranh chống Mỹ. Nhưng bài Tái ngũ thì là bài thơ viết về nhớ bạn không còn nữa để
cùng mình đi tham gia chống chiến tranh biên giới.
Thời chiến, thơ ca ta nói nhiều đến cái ác liệt của chiến tranh cùng những chiến
công chói lọi của quân và dân ta. Hình tượng “Bộ đội Cụ Hồ” được tô điểm rõ nét nhất.
Thơ Chế Lan Viên ở giai đoạn hậu chiến lại chủ yếu đi vào khía cạnh khác. Cái nhìn của
tác giả không còn là cái nhìn từ góc độ của một nhà tư tưởng, một vị chỉ huy mà là cái
nhìn từ góc độ người lính, những người trực tiếp đặt tay lên cò súng nhả đạn. Vì là
người trong cuộc nên người lính cảm nhận rõ ràng hơn các chi tiết của đời sống chiến
tranh: “Bốc lửa máy bay thù mà suýt nữa ta thua/ Quần với giặc suốt ngày, chưa hạt
cơm nào vào bụng/ Kìa Bụt hiện lên rồi giữa đất trời cháy bỏng/ Dân bò đến tận chiến
hào cho một bát canh chua” (Bát canh chua)
(15)
.
Câu thú nhận “suýt nữa ta thua” đúng là chỉ có thể ra đời vào thời hậu chiến.
Những kỷ niệm khác của thời chiến tranh len lỏi trong ký ức: trường sơ tán, cùng reo khi
máy bay B52 bị hạ, cởi áo đắp cho súng, gội tóc nơi trọng điểm, ngủ rừng đã bổ sung
cho mảng thơ lớn về chiến tranh mà Chế Lan Viên theo đuổi hơn bốn mươi năm trời.
4. Sẽ là thiếu sót lớn khi không nhận ra rằng thơ hậu chiến trong Di cảo thơ có
cái nhìn chân thực hơn về những mất mát của chiến tranh. Cái mất mát về xương máu
thì nhiều người đã nói. Chế Lan Viên cũng từng viết: “ngỡ trời sao chảy máu dải Ngân
Hà”. Nhưng cái mất mát của những người sống sót qua cuộc chiến trở về thì cho đến
thời điểm Chế Lan Viên còn sống, vẫn chưa có nhiều người viết. Thanh Thảo
trong Những người đi tới biển, Hữu Thỉnh trong Đường tới thành phố… cũng đã nói
mất mát của chiến tranh. Còn Chế Lan Viên có cách tiếp cận khác.
Bài thơ Ai? Tôi! được nhiều người quan tâm và có cách hiểu khác nhau trên một
rung tiếng chuông báo động về ý thức tự phê bình của con người trước thành bại của lịch
sử? Đảng ta đã từng dũng cảm nhận ra sai lầm trong cải cách ruộng đất và trong mười
năm phát triển kinh tế sau chiến tranh trước khi đổi mới đó sao? Còn những cá nhân liên
quan trực tiếp đến sự thất bại trong trận chiến nói trên phải lên tiếng mới là hợp lẽ. Đoạn
thơ tiếp theo nói về cảnh khó khăn của một trong ba mươi người sống sót đó:“Một trong
ba mươi người kia ở mặt trận về sau mười năm/ Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con
nhỏ/ Quán treo huân chương đầy, mọi cỡ - Chả huân chương nào nuôi được người lính
cũ!”. Đáng quý và dũng cảm biết bao, nhà thơ lại lên tiếng nhận lấy trách nhiệm về
mình: “Ai chịu trách nhiệm vậy?/ Lại chính là tôi!/ Người lính cần một câu thơ giải đáp
về đời - Tôi ú ớ”.
Đúng là văn chương không thể là yếu tố quyết định làm thay đổi các lực lượng
khác giúp cho người lính thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn. Điều này Chế Lan Viên đã thú
nhận: “Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay/ Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ/ Giữa buồn
tủi chua cay vẫn có thể cười” (Ai? Tôi!)
(18)
.
Như vậy, bài thơ thể hiện trách nhiệm cao của Chế Lan Viên trước cuộc đời, trước
số phận con người (trong thời chiến và trong thời bình). Không có nghĩa là Chế Lan
Viên nhận rằng mình đã sai lầm khi viết những vần thơ cổ vũ kia. Chúng ta cầm súng
chiến đấu là tự giác, là vì độc lập tự do, là chính nghĩa. Hoàng Trung Thông từng viết:
“Ta đâu có thích gì máu đổ/ Thích gì nghe đạn nổ bom rơi/ Ta chiến đấu vì không cam
cúi cổ/ Không khom lưng cho giặc Mỹ chém ngang người” (Bài thơ báng súng)
(19)
.
Cũng trên ý nghĩa ấy, đời sống người lính sau chiến tranh cần được quan tâm từ
mọi phía chứ không chỉ bằng sự bất lực của nhà thơ. Sự thú nhận của tác giả cũng đã là
một tấm lòng đáng quý rồi. Không phải chỉ có người lính sống sót trong bài thơ nói trên,
mà còn nhiều số phận khác qua chiến tranh, chịu hy sinh mất mát nhiều, cần được quan
tâm: “Chả ai nhớ bà mẹ cắm chông bạc tóc/ Nhớ một cô gái chèo đò vượt lửa qua
sông” (Thời thượng)