Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ loại tiếng Việt là một hệ thống phong phú và đa dạng gồm nhiều tiểu
loại khác nhau. Trong hệ thống đó, quan hệ từ thường ít được quan tâm
nghiên cứu bởi lẽ nú khụng mang ý nghĩa từ vựng mà chỉ là một công cụ nối
kết.
Quan hệ từ trong thơ càng ít được chú ý hơn. Trong các trang thơ truyền
thống, số lượng câu chữ đều bị câu thức theo thể loại, niêm luật nên số lượng
các hư từ không nhiều. Theo tinh thần “quý hồ tinh, bất quý hồ đa”, các nhà
thơ trung đại rất ít sử dụng hư từ đặc biệt là quan hệ từ trong thơ. Cùng với sự
phát triển của văn chương, lớp ngôn từ giản dị, gần gũi với lời ăn tiếng nói
hàng ngày đã dần dần bước vào những trang thơ hiện đại, tạo luồng gió mới
cho nền thơ ca hiện đại. Song, giá trị của hư từ nói chung và các quan hệ từ
nói riêng trong thơ vẫn chưa được nghiên cứu nhiều. Vì vậy, nghiên cứu quan
hệ từ trong thơ là một vấn đề mới mẻ, hấp dẫn nhưng cũng nhiều thử thách.
Với hành trình sáng tác gần một thế kỷ, Chế Lan Viờn đó để lại cho nền
văn học nước nhà một khối lượng tác phẩm lớn gồm nhiều tập thơ, tiểu luận,
trong đó “Di cảo thơ” được xem là một trong những tập thơ xuất sắc nhất.
Trong suốt cuộc đời sáng tác của mỡnh, ụng được xem là người có vốn tri
thức uyên bác về ngôn ngữ, và là người rất có ý thức trong việc lựa chọn, vận
dụng ngôn ngữ dân tộc. Một trong những bất ngờ khi nghiên cứu tập “ Di cảo
thơ” là số lượng lớn quan hệ từ được sử dụng cùng với cỏc cỏch biểu đạt độc
đáo góp phần tạo nên một giọng thơ đậm chất suy tư, triết lí rất “ Chế Lan
Viờn”.
Vì lẽ đó, chúng tôi chọn đề tài: “Quan hệ từ trong tập Di cảo thơ của
Chế Lan Viên” để nghiên cứu và tìm hiểu với mong muốn sẽ tìm ra được
những giá trị nghệ thuật mà các từ công cụ đã tạo ra trong tập thơ nhiều giá trị
Dương Thị Ngà
1
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội
trong “Truyện Kiều” – Nguyễn Du, Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ văn);
Nguyễn Thị Thu Hạnh (2006, Hư từ trong thơ tình yêu Nguyễn Bính, Luận văn
thạc sĩ Khoa học Ngữ văn)… Nhìn chung, những luận văn này đã chỉ ra những
giá trị cơ bản mà hư từ góp phần làm nên giá trị nội dung và nghệ thuật của tác
phẩm đó đồng thời khẳng định tài năng sử dụng ngôn từ của các nhà thơ, nhà
văn.
Trong khả năng bao quát tài liệu của mình, chúng tôi chưa khảo sát được
công trình nào đi sâu nghiên cứu về vai trò của quan hệ từ - một lớp hư từ trong
tiếng Việt đối với thành công chung của tác phẩm văn học. Vì vậy, chọn đề tài
“Quan hệ từ trong tập Di cảo thơ của Chế Lan Viên”, chúng tôi muốn đi sâu
khảo sát số lượng quan hệ từ và những giá trị mà những quan hệ từ này đem
đến cho tập thơ.
Thơ Chế Lan Viên không chỉ là mạch nguồn dồi dào đối với các nhà
nghiên cứu mà cũn cú một sức hấp dẫn lớn đối với độc giả yêu thơ. Đặc biệt,
kể từ khi ba tập “Di cảo thơ” của ông được nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành,
tập thơ này lập tức thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu có tên tuổi.
Trần Mạnh Hảo trong “Người làm vườn vĩnh cửu” (1995, NXB Hội
nhà văn, H) đã xem “Di cảo thơ” là sự hòa hợp giữa cảm xúc và lớ trớ và với
tập thơ này, Chế Lan Viên trở thành “cõy đại thụ thế kỷ XX của nền văn học
nước nhà” [13]. Nguyễn Bá Thành trong cuốn “Thơ Chế Lan Viên và phong
cách suy tưởng” (1999, NXB GD, H) đã đề cập đến sự chuyển đổi trong tư
duy nghệ thuật của Chế Lan Viờn, ụng khẳng định “với Di cảo thơ, Chế Lan
Viờn đó trở về với thuở Điêu tàn”[29]. Đỗ Lai Thúy trong bài viết “Thỏp
Chàm bốn mặt” (2010, Tạp chí sông Hương, số 1) cho rằng “trong Di cảo
thơ, người ta sống lại những yếu tố của Điêu tàn, đó là những giằng co nội
tâm, những giay dứt về số phận con người”[30]. Trong“Nhận thức về quá
khứ trong Di cảo thơ” (2008, tạp chí văn học số 03), Thạc sĩ Nguyễn Diệu
Linh đã chỉ ra và phân tích khỏ rừ những vấn đề về truyền thống lịch sử, về
Dương Thị Ngà
Dương Thị Ngà
4
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội
Trong phạm vi một khóa luận, chúng tôi nghiên cứu đề tài này với mục
đích sau:
• Tìm hiểu khái quát về quan hệ từ.
• Trên cơ sở khảo sát, thống kê số lượng quan hệ từ được sử dụng trong
ba tập “Di cảo thơ” tìm ra tác dụng mà các quan hệ từ đem lại, những giá trị
mà quan hệ từ tạo nên cho thành công chung của cả tập thơ.
• Đánh giá vai trò của quan hệ từ với tập “Di cảo thơ” nói riêng và thơ
Chế Lan Viên nói chung.
4. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học sau: phương
pháp khảo sát - thống kê, phương pháp phân tích- tổng hợp, phương pháp
nghiên cứu liên ngành, phương pháp giải thích đánh giá.
5. Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của khóa luận gồm ba
chương sau:
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Chương 2. KHẢO SÁT QUAN HỆ TỪ TRONG TẬP “DI CẢO THƠ”
Chương 3. Ý NGHĨA CỦA QUAN HỆ TỪ TRONG TẬP “DI CẢO THƠ”
PHẦN NỘI DUNG
Dương Thị Ngà
5
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Quan hệ từ
1.1.1. Vị trí của quan hệ từ trong hệ thống từ loại tiếng Việt
Từ loại tiếng Việt bao gồm một số lượng lớn nên khi nghiên cứu các
nhà ngôn ngữ học phải tiến hành phân loại. Mỗi hướng nghiên cứu khác nhau
làm thành tố
chính
Những từ loại
chỉ có khả năng
làm thành tố
phụ
Từ loại có
khả năng kết
hợp hai chiều
Từ loại có khả
năng kết hợp
một chiều
Danh
từ
Đại
từ
Tính
từ
Động
từ
Số
từ
Phụ
từ
Quan
hệ từ
Trợ từ Thán từ
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư Phạm Hà
Nội
Các tác giả Bùi Minh Toán, Nguyễn Thị Lương phân chia từ loại tiếng
thuần nhất. Vì vậy, bên cạnh tên gọi này, quan hệ từ cũn cú một số tên gọi
khác như từ nối, kết từ, giới từ…
Bùi Minh Toán, Nguyễn Thị Lương gọi lớp từ có chức năng nối kết
này là quan hệ từ và định nghĩa như sau: “Quan hệ là những từ biểu thị quan
hệ ngữ pháp giữa các từ, các cụm từ, giữa các bộ phận của câu hoặc giữa cỏc
cõu với nhau.” [33; tr48]. Tên gọi và chức năng này được chia sẻ bởi các tác
giả Lê A, Đinh Trọng Lạc, Hoàng Văn Thung: “Quan hệ từ (còn gọi là kết từ)
Dương Thị Ngà - G K58
8
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư Phạm Hà
Nội
là loại hư từ biểu hiện các quan hệ ngữ pháp giữa các từ, các cụm từ, cỏc cõu
hay đoạn văn.” [1; tr40]; Diệp Quang Ban: “Quan hệ từ (còn gọi là kết từ, từ
nối) là những hư từ diễn đạt các quan hệ logic dùng để nối các từ, các tổ hợp
từ, cỏc cõu, thậm chí các tổ chức lớn hơn câu với nhau” [4]; và tác giả Lờ
Biên: “Quan hệ từ là những hư từ không có nghĩa sở chỉ, sở biểu mà là
những từ có chức năng diễn đạt các mối quan hệ giữa các khái niệm trong
tư duy.” [5].
Vẫn hiểu chức năng của quan hệ từ như các nhà nghiên cứu khác
nhưng tác giả Đinh Văn Đức đó tách lớp từ này thành hai loại liên từ và
giới từ: “Ngữ pháp truyền thống gọi các hư từ cú pháp là liên từ và giới từ.
Trong tiếng Việt cũn cú những thuật ngữ khác để gọi chúng, chẳng hạn là
các từ nối hoặc quan hệ từ” [10; tr 207]. Như vậy, theo ông, liên từ chính là
một nhóm của quan hệ từ hay từ nối; giới từ được tách ra và gọi tên thành
một tiểu nhóm thuộc quan hệ từ.
Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau về tên gọi của quan hệ từ như: kết
từ, từ nối, từ quan hệ, liên từ, giới từ nhưng nhìn chung, các khái niệm đó đều
thống nhất trong chức năng kết nối các đơn vị ngôn ngữ với nhau của quan hệ
từ. Khóa luận dùng thuật ngữ quan hệ từ để chỉ các từ có chức năng nối kết
các đơn vị ngôn ngữ với nhau.
chỉ có một đối tượng miêu tả:“mẹ”.
1.1.4. Phân loại quan hệ từ
Theo quan điểm phân loại quan hệ từ của tác giả Bùi Minh Toán,
Nguyễn Thị Lương (2007, Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt, NXB ĐHSP, H),
quan hệ từ tiếng Việt được chia thành hai loại lớn như sau:
• Các quan hệ từ phục vụ cho quan hệ đẳng lập: và, rồi, với, nhưng,
song, mà, chứ, hay, hoặc…
Ví dụ:
Dương Thị Ngà - G K58
10
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư Phạm Hà
Nội
“Anh đắn đo chi câu ngắn với câu dài
Mưa bắc lòng hay nam lòng cũng thế
Hoa sen tím, hoa sen hồng đều là em đấy cả
Và buồn lau hay buồn sậy cũng buồn thôi”
(Đằng nào cũng vậy - Di cảo thơ 1)
Trong bài thơ này, tác giả sử dụng ba quan hệ từ để nối cụm với cụm và
câu với câu: ngoài quan hệ từ “và” nối câu với cõu, cỏc quan hệ từ còn lại:
“với”, “hay” đều nối hai cụm từ có quan hệ đẳng lập.
- Quan hệ từ: “với”.
- Đơn vị nối kết: hai cụm danh từ:“cõu ngắn”, “cõu dài”, cả hai cụm
danh từ này đều có danh từ “cõu” làm thành tố chính.
câu ngắn (với) câu dài
- Quan hệ từ: “hay” .
- Đơn vị nối kết: hai cụm danh từ với danh từ trung tâm “lũng”:“bắc
lũng”, “nam lũng”.
bắc lòng (hay) nam lòng
- Quan hệ từ: “hay”.
- Đơn vị nối kết: “buồn lau”, “buồn sậy”. Đây là hai cụm danh từ có
Cặp quan hệ từ nối “Nếu… thỡ…” mang ý nghĩa chỉ điều kiện, giả thiết
– kết quả dùng để nối hai côm C – V, tạo thành một câu ghép. Hai cụm C – V
này đều khuyết thành phần chủ ngữ, vị ngữ là những cụm động từ.
1.2. Chế Lan Viên và Di cảo thơ
1.2.1. Chế Lan Viên
Chế Lan Viên (1920 -1989) được xem là một trong những tác giả có
sức sáng tạo không mệt mỏi và là một cây đại thụ trong làng thơ ca Việt Nam
thế kỷ XX. Trong suốt hơn 50 năm cầm bút sáng tác, ụng đó để lại một khối
lượng tác phẩm đồ sộ cả về nội dung và số lượng. Quê gốc ở Quảng Trị, sinh
ra ở Nghệ An nhưng sống chủ yếu ở Bình Định, Chế Lan Viờn được xem là
người “cú mối duyên tiền định với dân tộc Chàm”. Mười bảy tuổi, ông cho ra
đời “Điờu tàn” “như một niềm kinh dị” [29] với một nỗi buồn thời thượng
“vang lên như một dàn đồng ca thế hệ”, đến những năm cuối đời, ông viết
Dương Thị Ngà - G K58
12
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư Phạm Hà
Nội
“Di cảo thơ” với một “nỗi đau đớn nảy sinh từ những điều trông thấy,
nghiệm thấy” [20].
Trong cuộc đời lao động nghệ thuật của mình, Chế Lan Viờn đó để lại
13 tập thơ gồm hơn một nghìn bài thơ, và trở thành một hiện tượng nổi bật
trong đời sống văn học đương đại. Ông được xem là người có vốn tri thức
uyên bác, rộng rãi với một quan niệm thơ rõ ràng. Quan niệm thơ ấy có sự
vận động phù hợp với chặng đường sáng tác của nhà thơ nhưng vẫn có những
yếu tố ổn định, nhất quán. Ba tập “Di cảo thơ” được xuất bản sau khi ông qua
đời được xem là bước chuyển thứ ba trong đời thơ của ông. Sau khi Nhà xuất
bản Thuận Hóa liên tiếp cho in ba tập thơ này vào những năm: 1992, 1993,
1996, người đọc đã thực sự bất ngờ trước một Chế Lan Viên “hết sức đa dạng
sâu sắc, vừa quen thuộc, vừa mới lạ”. [24]
1.2.2. Tập “Di cảo thơ”
hướng ngoại sang hướng nội, nhà thơ thay đổi cả điểm nhìn. Từ một con
người đại diện cho dân tộc, mang vẻ đẹp trong cảm xúc cũng như tư duy của
thời đại, nhà thơ quay về với thế giới tâm hồn phức tạp của con người. Điều
này kéo theo cả sự thay đổi không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ ông.
Trước đây, Chế Lan Viên chuộng không gian cao rộng của đất nước, của lịch
sử, giờ đây ông chuyển dần về không gian đời tư, không gian của thế giới tâm
linh tinh tế huyền diệu. Từ thời gian lịch sử với những thời điểm có tính quyết
định vận mệnh dân tộc, ông trở về với những khoảnh khắc cảm xúc cá nhân.
Khi trở về với cuộc sống đời thường, thơ Chế Lan Viên không còn những
hình ảnh biểu tượng phù hợp với dòng văn học sử thi mà thay vào đó là
những hình ảnh dân dã, bình dị nhưng vẫn giữ được phong cách đa dạng
mang đầy tính trí tuệ. Càng về cuối đời, thơ Chế Lan Viên càng có nhiều đổi
mới. Từ một nhà thơ luôn hướng tâm hồn mình ra đất nước, ông có xu hướng
đi vào khám phá những trạng thái bí ẩn và tinh tế của tâm hồn. Đó là một cái
tôi cá nhân mang đầy dấu ấn của một con người từng trải qua nhiều thăng
trầm, biến đổi của cuộc đời. Và ở “Di cảo thơ”, người ta thấy nỗi cô đơn của
một con người đang đứng ở giai đoạn cuối cuộc đời, sắp sửa bước sang một
thế giới khác.
Dương Thị Ngà - G K58
14
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư Phạm Hà
Nội
Một điều dễ dàng nhận thấy là ở “Di cảo thơ”, thơ Chế Lan Viờn đó cú
sự đa dạng hóa cả về đề tài và giọng điệu. Có khi là một giọng thơ tâm sự, thủ
thỉ, có khi lại là giọng tiếc nuối và cú chỳt ân hận hay một giọng châm biếm,
chế giễu hoặc an ủi, động viên đã thay thế cho một giọng điệu sử thi hào
sảng ở thời kì của “Ánh sáng và phù sa”.
Những thay đổi về nội dung, tư tưởng kéo theo sự thay đổi về hình
thức. Viết về đề tài thế sự, đời tư với những số phận đời thường, những cuộc
đời bình thường, Chế Lan Viờn đó sử dụng các quan hệ từ với một số lượng
Chương 2: QUAN HỆ TỪ TRONG TẬP “DI CẢO THƠ”
2.1. Dẫn nhập
Chế Lan Viên thuộc số ít những nhà thơ có sức ảnh hưởng lớn đến thế hệ
cầm bút đi sau. “Di cảo thơ” – tập thơ cuối đời chủ yếu được viết khi nhà thơ
nằm trên giường bệnh là một trong những đỉnh cao của thơ ca Chế Lan Viên và là
tập thơ khá đặc biệt bởi lẽ ngôn ngữ thơ được kéo gần với ngôn ngữ đời thường,
một ngôn ngữ dung dị nhưng giàu tính triết lí, suy luận. Có nhiều yếu tố tạo nên
thành công ấy nhưng không thể không nhắc đến sự xuất hiện của quan hệ từ.
Trong những vần thơ Di cảo, Chế Lan Viờn đó sử dụng quan hệ từ với một số
lượng lớn khác thường so với các tập thơ khác. Vì vậy chúng tôi tiến hành khảo
sát quan hệ từ và tìm ra giá trị mà những quan hệ từ ấy đem lại tập thơ này.
2.2. Cách thức và kết quả khảo sát
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là 814 quan hệ từ và 30 cặp quan
hệ từ được sử dụng trong toàn bộ 567 bài của tập thơ Di cảo. Những quan hệ
từ và cặp quan hệ từ này biểu thị cả quan hệ chính phụ và quan hệ đẳng lập.
Sau khi thống kê số lượng và các quan hệ từ có trong tập thơ, chúng tôi
tiếp tục phân loại theo các tiêu chí:
- Khảo sát những quan hệ từ được sử dụng trong cả tập thơ Di cảo.
- Khảo sát số lượng và tần xuất xuất hiện của quan hệ từ trong tập “Di
cảo thơ”.
- Khảo sát chức năng của quan hệ từ, bao gồm chức năng nối kết từ với
từ, từ với cụm, cụm với cụm, câu với câu.
- Khảo sát vị trí của quan hệ từ, cụ thể: quan hệ từ đứng đầu câu, quan
hệ từ đứng giữa câu.
Sau đây, chúng tôi, xem xét vào từng trường hợp khảo sát cụ thể:
Dương Thị Ngà - G K58
17
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư Phạm Hà
Nội
2.2.1. Khảo sát các quan hệ từ và cặp quan hệ từ trong tập “Di cảo thơ”
Bên
Cạnh
Ở
Giữa
Bảng 1: Các quan hệ từ và cặp quan hệ từ trong tập “Di cảo thơ”
Dương Thị Ngà - G K58
18
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư Phạm Hà
Nội
* Nhận xét: Như vậy, hầu hết các quan hệ từ và cặp quan hệ từ trong
lớp quan hệ từ tiếng Việt đều được Chế Lan Viên sử dụng trong tập “Di cảo
thơ”. Kết quả khảo sát cho thấy có 31 quan hệ từ và 5 cặp quan hệ từ cùng 4
cặp quan hệ từ ở dạng kết hợp đặc biệt được sử dụng trong hơn 500 bài thơ Di
cảo. Trong đú cú cả những quan hệ từ được dùng phổ biến trong tiếng Việt
(và, mà, với, nhưng…) và cả những quan hệ từ được nhà thơ kết hợp với các
từ ngữ khác nhau (cho dù, thế rồi, cho nên, ). Bên cạnh đú cũn cú một số
dạng kết hợp không theo quy tắc thông thường được nhà thơ sử dụng tạo ra
những giá trị nghệ thuật cho cả tập thơ (“Nhưng thỡ…”; “Mà… thỡ…”;
“Vỡ… mà…”;…). Đây không chỉ là một sự khác biệt so với ngôn ngữ thơ ca
thông thường mà còn là một công cụ nghệ thuật độc đáo được nhà thơ sử
dụng hợp lí tạo nên những thành công cho tập thơ.
2.2.2. Khảo sát số lượng và tần xuất sử dụng quan hệ từ - cặp quan hệ từ
trong tập “Di cảo thơ”
Chế Lan Viờn đó sử dụng mỗi loại quan hệ từ, cặp quan hệ từ trong tập
thơ cuối đời này với số lượng và tần xuất khác nhau. Qua khảo sát, chúng tôi
thu được kết quả như sau:
Quan hệ từ Số lượng Cặp quan hệ từ Số lượng
Và 202 Nếu…thì… 9
Mà 165 Vì…nên… 2
Nhưng 83 Dẫu…thì… 3
Ở 3
Giữa 2
Tổng 814
Bảng 2: Số lượng quan hệ từ và cặp quan hệ từ trong tập “Di cảo thơ”
* Nhận xét: Bảng số liệu cho thấy, quan hệ từ và cặp quan hệ từ trong
tập “Di cảo thơ” được sử dụng với số lượng lớn: 814 lượt quan hệ từ; 17 lượt
cặp quan hệ từ cùng 13 lượt cặp quan hệ từ được nhà thơ kết hợp không theo
quy tắc kết hợp thông thường.
Nhiều nhất phải kể đến quan hệ từ “và” (202/814). Đây là một quan hệ
từ có thể đứng ở cả hai vị trí: đầu câu, giữa câu; đồng thời có thể thực hiện
Dương Thị Ngà - G K58
20
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư Phạm Hà
Nội
được nhiều chức năng khác nhau: nối từ với từ, từ với cụm, cụm với cụm, câu
với câu. Vì vậy nó được sử dụng phổ biến với tần xuất lớn nhất trong số
những quan hệ từ của tập Di cảo:
Ví dụ 1: “Cho dù băng hà sẽ hủy diệt hết nhân loại và sinh vật
Và cái huyệt cá nhân sẽ vùi lấp từng người”
(Cho dù – Di cảo thơ)
Ví dụ 2: “Trời và bể, anh và em, cây và người cùng đối xứng”
(đối xứng – Di cảo thơ)
Ví dụ 3: “Chỳng ta là con của mây cha ta và sóng bể mẹ cha ta từng ly biệt”
(Sử - Di cảo thơ)
Quan hệ từ được sử dụng nhiều thứ hai là quan hệ từ: “mà” (165/814).
Điều này có thể dễ dàng giải thích bởi lẽ quan hệ từ “mà” có thể đứng ở đầu
câu hoặc giữa câu, được sử dụng trong cả quan hệ chính phụ và quan hệ đẳng
lập để nối từ với từ, từ với cụm, cụm với cụm, câu với câu.
Ví dụ: “Sức lực bé mà ham nói điều vĩ đại”
(Đất nước ta - Di cảo thơ)
(Hai chiều – Di cảo thơ)
Ví dụ 3: “Tỡnh sử ấy vựi sõu thành ánh lửa
Nhưng bên ngoài ư, thì rêu phủ xanh rỡ.”
(Đá – Di cảo thơ)
Ví dụ 4: “Giờ anh đã là bọ dòi, là sọ dừa, là cả bộ xương
Nhưng đừng tiếc nuối
Ta đã nghĩ ra cái đẻ không đau
Nhưng cái chết không đau thì chưa nghĩ tới”
(Đến ngày – Di cảo thơ)
Dương Thị Ngà - G K58
22
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư Phạm Hà
Nội
2.2.3. Khảo sát chức năng của quan hệ từ trong tập “Di cảo thơ”
Quan hệ từ Cặp quan hệ từ
STT Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ
Từ - từ 387 47,5%
Từ - cụm từ 46 5,7%
Cụm từ – cụm từ 185 22,7% 21 70%
Câu – câu 196 24,1% 9 30%%
Tổng 814 100% 30 100%
Bảng 3: Chức năng của quan hệ từ - cặp quan hệ từ trong tập “Di cảo thơ”
* Nhận xét: Qua bảng số liệu trên chúng ta nhận thấy trong tập “Di
cảo thơ”, quan hệ từ đảm nhiệm đầy đủ những chức năng nối kết có trong từ
loại tiếng Việt. Trong đó nhiều nhất là quan hệ từ nối từ với từ: 387/814,
chiếm 47,5%, quan hệ từ nối từ với cụm ít hơn (46/814, chiếm 5,7%). Quan
hệ từ nối câu với câu được sử dụng với số lượng tương đối lớn (196/814,
chiếm 24,1%) bởi lẽ trong tập thơ này, Chế Lan Viờn đó sử dụng cách ngắt
dòng đặc biệt, các ý thơ được ngắt xuống dòng kèm theo những quan hệ từ
góp phần tạo ra giá trị nghệ thuật cho cả tập thơ.
Chất ngất
Theo các con đường ngoắt ngoéo chữ chi
Gẫy gặp
Mà đâu được gì?
Khi tôi cười trờn mõy
Thì máu người rên dưới đất
Mẹ tôi hỏi:
- Con lên cao mà làm chi?
Mẹ ở dưới này cơ cực
Về đi !”
(Tìm đường – Di cảo thơ 3)
Đây là một trong những bài tiêu biểu cho cách ngắt dòng có phần đặc
biệt trong những vần thơ Di cảo. Hai từ nối “mà”, “thỡ” đứng ở đầu câu
Dương Thị Ngà - G K58
24
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư Phạm Hà
Nội
mang ý nghĩa chỉ kết quả thể hiện những hụt hẫng thất vọng của nhà thơ khi
đánh giá lại chặng đường thơ của mình trong suốt những năm qua.
Chế Lan Viên là nhà thơ có ý thức cao trong việc tìm ra con đường đi
cho nghệ thuật thơ ca của mình nhưng đến những năm cuối đời, ông lại tự
đánh giá rằng đó là những “con đường không ra đường của kẻ tìm thơ” và
thơ ông cũng là “cỏi thơ không ra thơ của kẻ tìm đường”. Quan hệ từ đứng
đầu câu có tác dụng thể hiện những giằng xé nội tâm của Chế Lan Viên khi
nghĩ về con đường thơ ca của mình trong những năm tháng đã qua.
2.3. Phân tích một số ví dụ
2.3.1. Quan hệ từ nối từ - từ
Theo kết quả thống kê, số lượng quan hệ từ làm chức năng nối kết từ
với từ là 387/814 từ, chiếm 47,5% (bảng 3), nhiều hơn so với các quan hệ từ
nối kết từ với cụm từ (5,7% - bảng 3), cụm từ với cụm từ (22,7% - bảng 3),