1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thoát vị bẹn là tình trạng tạng trong ổ bụng rời khỏi vị trí chui qua ống
bẹn hoặc một điểm yếu của thành bụng vùng bẹn, trên dây chằng bẹn ra dưới
da hay xuống bìu. Có 25% đàn ông và 2% phụ nữ ít nhất một lần mắc bệnh
này trong đời. Tỷ lệ mắc bệnh tăng theo tuổi, ở tuổi 75 là 50%.
Phẫu thuật là phương pháp chủ yếu điều trị thoát vị bẹn. Các phương
pháp mổ kinh điển như: Bassini, Ferguson, Shouldice, McVay... dùng mô tự
thân để kéo che phủ lỗ khuyết hổng của thành bẹn nên đường khâu căng, đau,
sẹo không tốt dẫn đến chậm hồi phục vận động, dễ tái phát [13], [21], [22],
[30], [62]...
Để hạn chế sự căng kéo, các kỹ thuật Lichtenstein, Rotkow...đặt mảnh
ghép nhân tạo hoặc Desarda tạo mảnh ghép tự thân đắp vào chỗ yếu của thành
bẹn được sử dụng nhiều tại các nước Âu- Mỹ [41], [43], [46].
Trên thế giới, mổ nội soi điều trị thoát vị bẹn chiếm 15- 20%, đặc biệt
tại Scotland tỷ lệ này là > 65%. Hiện tại, có hai phẫu thuật đang được ứng
dụng là phẫu thuật nội soi qua ổ bụng đặt mảnh ghép ngoài phúc mạc (Trans
Abdominal Preperitoneal- TAPP) và đặt mảnh ghép hoàn toàn ngoài phúc
mạc (Total Extraperitoneal- TEP). Với TAPP, trocar xuyên vào ổ bụng, mở
phúc mạc để tiếp cận vùng bẹn, tổn thương xác định được ngay khi đặt
Camera, khoang thao tác rộng, dễ làm, tiếp cận trực tiếp và làm vững chắc
thành bẹn sau nên thực hiện được cả với thoát vị nghẹt, hơn thế nữa việc ứng
dụng TAPP để sửa chữa thoát vị tái phát sau các phương pháp mổ khác lại dễ
dàng hơn. Từ 2009, kỹ thuật nội soi một cổng (single port) được ứng dụng
trong cả 2 phương pháp TAPP và TEP nhưng còn chưa phổ biến, thiết bị đắt
2
và hiệu quả của 2 phương pháp được đánh giá là ngang nhau [37], [47], [78],
phía trên là cơ chéo trong và cơ ngang bụng, phía ngoài là cơ thắt lưng chậu,
phía trong là cơ thẳng bụng, phía dưới là mào lược của xương mu [3], [6].
1.1.1. Thành bụng vùng bẹn
- Cân cơ chéo bụng ngoài (musculus obliques externus abdominis): là
phần dưới của cơ chéo bụng ngoài. Cân cơ chéo bụng ngoài tận hết ở dưới,
tạo nên dây chằng bẹn đi từ gai chậu trước trên tới củ mu. Cân cơ chéo bụng
ngoài có phần bám vào xương mu bởi hai dải cân gọi là hai cột trụ:
+ Cột trụ ngoài bám vào củ mu.
+ Cột trụ trong chạy ra trước cơ thẳng bụng và cơ tháp tới bám vào thân
xương mu và đường trắng.
- Cân cơ chéo bụng trong (musculus obliques internus abdominis):
nguyên ủy của cân cơ chéo bụng trong ở cân chậu của cơ thắt lưng chậu, vì
các sợi thấp của cơ chéo bụng trong có vẻ như xuất phát từ phía sau dây chằng
bẹn. Ở dưới cơ chéo bụng trong và cơ ngang bụng bám vào đường lược xương
mu. Cung của cơ chéo bụng trong có thể ở vị trí khác nhau tùy từng người,
nếu cung xuống thấp tam giác bẹn sẽ được che nhiều, ngược lại cung đóng
cao sẽ để hở vùng bẹn, đây là một trong những yếu tố để tạo nên thoát vị bẹn
(TVB) [8], [24].
4
- Mạc ngang (fascia transversalis): là một lớp cân mỏng nằm giữa phúc
mạc (PM) và cơ ngang bụng. Ở ngoài mạc ngang bám vào cân chậu, ở trong
chạy phía sau cung đùi và dây chằng khuyết đến bám vào dây chằng Cooper
và mào lược xương mu, ở dưới mạc ngang đi sau dây chằng bẹn xuống tận đùi
và ở phía trước bó mạch đùi. Mạc ngang có thể mỏng và dính sát vào phần
cao cơ ngang bụng ở phía trên, nhưng ở các vùng khác có thể dày lên để tạo
nên một số dây chằng đặc biệt những dây chằng gian hố, dải chậu mu và một
phần dây chằng lược [3], [6], [14].
Lỗ bẹn nông là lỗ nằm giữa hai cột trụ ngoài và trong của cân chéo
ngoài. Hai cột trụ này giới hạn một lỗ hình tam giác, được các thớ liên trụ và
dây chằng bẹn phản chiếu kéo lại thành một lỗ tương đối tròn. Lỗ bẹn nông
nằm ngay dưới da, sát phía trên gai mu, là chỗ thoát ra của thừng tinh. Qua
ngón tay đội da bìu lên ta có thể tìm được lỗ bẹn nông ở ngay dưới da. Theo
Condon bình thường ta không thể đưa ngón tay qua lỗ bẹn nông vào ống bẹn
được, nhưng ở bệnh nhân (BN) TVB thì do lỗ này được khối thoát vị làm giãn
rộng, nên ta có thể dễ dàng đưa ngón tay qua nó để thăm khám ống bẹn được
[3], [6], [14].
* Lỗ bẹn sâu:
Lỗ bẹn sâu nằm ở trên điểm giữa của dây chằng bẹn khoảng 1.5-2 cm,
là một chỗ lõm của mạc ngang. Nếu nhìn từ bên trong sẽ thấy rất rõ lỗ này
6
nhờ vào vị trí ở bờ ngoài của dây chằng gian hố. Lỗ bẹn sâu có cân cơ ngang
bụng và cân cơ chéo trong bao vòng phía trên và phía ngoài, phía dưới có dải
chậu mu, phía trong là động mạch thượng vị dưới và dây chằng gian hố. Tại lỗ
bẹn sâu, các thành phần của thừng tinh sẽ quy tụ lại để chui vào ống bẹn.
Hình 1.2. Bao đùi và ống bẹn.
Nguồn: Netter F. H. 2010 [80].
Lỗ bẹn sâu tương ứng với hố bẹn ngoài, là nơi mà TVB gián tiếp đi
qua. Túi thoát vị đi qua lỗ bẹn sâu, trong thừng tinh, về bản chất là do sự tồn
tại của ống phúc tinh mạc, gọi là TVB gián tiếp [3], [6], [14].
* Thừng tinh:
Thừng tinh là thành phần chứa trong ống bẹn. Cấu tạo từ ngoài vào
trong gồm mạc tinh ngoài, cơ bìu và mạc cơ bìu (có nguồn gốc từ cơ chéo
bụng trong), mạc tinh trong, ống dẫn tinh, động tĩnh mạch và đám rối thần
Tam giác Hesselbach: theo quan niệm kinh điển được giới hạn bởi động
mạch thượng vị dưới, bờ ngoài bao cơ thẳng bụng, và dây chằng bẹn. Nhưng
theo quan niệm hiện nay, tam giác được mở rộng xuống dưới bao gồm cả lỗ
đùi, nghĩa là được giới hạn bởi động mạch thượng vị dưới, bờ ngoài bao cơ
thẳng bụng, dây chằng Cooper. Với quan niệm này, TVB trực tiếp và thoát vị
đùi có cùng một cơ chế, đó là do sự phá vỡ của mạc ngang thuộc hố bẹn
trong, chỉ khác nhau ở chỗ túi thoát vị đi trên hay dưới dây chằng bẹn.
Hình 1.4. Tam giác bẹn.
Nguồn: Netter F. H. 2010 [80].
- Hố trên bàng quang: nằm giữa nếp rốn chính giữa và nếp rốn trong.
Thành bụng ở đây chắc chắn, vì có cơ và bao cơ thẳng bụng che chở, nên rất
hiếm khi xảy ra thoát vị.
1.1.3. Thần kinh và mạch máu vùng bẹn
* Phân bố thần kinh vùng bẹn:
Những nhánh thần kinh vận động và cảm giác của cân cơ và da thuộc
vùng bẹn chủ yếu xuất phát từ 2 dây thần kinh chậu bẹn và chậu hạ vị, vốn bắt
nguồn từ rễ thần kinh thắt lưng 1, 2 và ngực 12. Thừng tinh và tinh hoàn thì
9
được phân bố những nhánh cảm giác và giao cảm bắt nguồn từ các rễ ngực
10, ngực 11, ngực 12, thắt lưng 1.
- Hai dây thần kinh chậu bẹn và chậu hạ vị đi xuyên qua cơ ngang
bụng, ở vùng hông trên mào chậu, rồi chen giữa cơ này và cơ chéo trong để
đến mé trong của gai chậu trước trên. Tại đây, chúng lại xuyên tiếp qua cơ
chéo trong để chen giữa cơ này và cơ chéo ngoài và đi vào vùng bẹn.
- Thần kinh chậu hạ vị chia ra nhánh chậu và hạ vị:
+ Nhánh chậu, tách ra ngay sau khi xuyên qua cơ ngang bụng, đi đến
11
thắt mà không sợ gây thiếu máu. Các tĩnh mạch cùng tên đi cùng động mạch
và cùng đổ vào tĩnh mạch đùi.
- Các mạch máu của lớp sâu vùng bẹn:
+ Động mạch chậu ngoài đi dọc theo bờ trong cơ thắt lưng chậu, dưới
dải chậu mu để vào bao đùi, tạo nên động mạch đùi chung. Nó cho những
nhánh nuôi cơ thắt lưng chậu, và 2 nhánh phụ là động mạch thượng vị dưới và
động mạch mũ chậu sâu. Tĩnh mạch chậu ngoài chạy phía trong và hơi lệch ra
sau so với động mạch chậu ngoài.
+ Động mạch thượng vị dưới cho ra 2 nhánh gần nơi xuất phát là nhánh
động mạch tinh ngoài và nhánh mu rồi tiếp tục chạy hướng lên trên trong
khoang tiền PM. Động mạch thượng vị dưới có 2 tĩnh mạch cùng tên đi kèm 2
bên, 2 tĩnh mạch này hợp nhất lại khi đến gần bao đùi để nhập vào tĩnh mạch
chậu. Động mạch tinh ngoài, xuất phát từ động mạch thượng vị dưới ở ngoài
lỗ bẹn sâu, xuyên qua mạc ngang rồi đi vào thừng tinh.
Nhánh mu là một nhánh nhỏ, xuất phát gần nguyên ủy của động mạch
thượng vị dưới, đi xuống trước dải chậu mu chạy ngang qua dây chằng
Cooper xuống dưới để nối với động mạch bịt. Nhánh mu thường có những
tĩnh mạch tương đối lớn đi kèm theo, những tĩnh mạch này dễ bị tổn thương
gây chảy máu khi mổ TVB trực tiếp và thoát vị đùi.
12
Hình 1.6. Mạch máu vùng bẹn.
Nguồn: Netter F. H. 2010 [80].
+ Động mạch mũ chậu sâu cũng xuất phát từ động mạch mũ chậu
tiếp túi này còn được che phủ bởi mạc ngang bị mỏng đi. Trong TVB lớn,
những thớ cân cơ chéo bụng ngoài có thể bị kéo giãn cũng không quan trọng
vì phục hồi thành bụng chủ yếu là ở lớp sâu [11], [12], [35].
- Thoát vị bẹn gián tiếp: Trong TVB gián tiếp, khiếm khuyết cơ bản là
sự tồn tại của ống phúc tinh mạc, nhưng để cho thoát vị xuất hiện thì phải có
sự suy yếu của các cấu trúc chống đỡ xung quanh lỗ bẹn sâu. Kế đó là sự suy
yếu của cơ ngang và mạc ngang sẽ quyết định kích thước của lỗ bẹn sâu và độ
chắc của bờ lỗ bẹn sâu. Khi khối thoát vị còn nhỏ, nó chỉ làm giãn rộng lỗ bẹn
sâu, nhưng khi khối thoát vị lớn lên thì nó sẽ ảnh hưởng đến thành sau ống
bẹn, làm dạt động mạch thượng vị dưới vào trong và choán chỗ của hố bẹn
trong. Khi đó, khối thoát vị càng lúc càng theo lộ trình “ trực tiếp” hơn, khiến
lỗ bẹn sâu bị toác rộng gần về phía trong. Khi đó, 2 lỗ bẹn sâu và nông gần
như thẳng hàng theo hướng từ sau ra trước chứ không hoàn toàn theo hướng
trước nữa.
14
- Thoát vị bẹn trực tiếp: Trong TVB trực tiếp, khiếm khuyết cơ bản là
sự suy yếu của cân cơ ngang và mạc ngang tại hố bẹn trong, trong khi đó tác
dụng màn chập của cung cân cơ ngang không đủ bổ khuyết cho chỗ yếu này.
Ngoài ra, còn có tác động của các yếu tố thuận lợi là sự tăng áp lực trong ổ
bụng như ho nhiều, táo bón hay đái khó [11], [12], [35]. Sự suy yếu của của
thành sau hố bẹn trong phụ thuộc vào:
+ Cung cân cơ ngang bụng có thể ở vị trí khá cao so với ngành trên
xương mu, làm cho chỗ yếu vốn có này càng thêm rộng
+ Chỗ bám tận của cân cơ ngang bụng tại xương mu có thể chỉ giới hạn
trong một vùng hẹp cạnh gân cơ thẳng, hoặc phát triển rộng ra ngoài dọc theo
nghành trên xương mu một đoạn 2- 3 cm.
+ Dải chậu mu có thể là một dải cân chắc và chỗ bám của nó vào đường
1.3. NGUYÊN NHÂN VÀ PHÂN LOẠI THOÁT VỊ BẸN
1.3.1. Nguyên nhân thoát vị bẹn
* Nguyên nhân bẩm sinh:
Đây là một loại thoát vị thường gặp ở trẻ em, do sự tồn tại ống phúc
tinh mạc sau khi sinh. Bình thường ống phúc tinh mạc sẽ được bít lại từ lỗ bẹn
sâu tới tinh hoàn sau khi tinh hoàn đã nằm dưới bìu. Phần xa bọc lấy tinh hoàn
trở thành tinh mạc, phần trên biến thành dây xơ.
Thực tế trên lâm sàng cho thấy có một tỷ lệ khá cao sự thông thương
của ống phúc tinh mạc ở những trẻ bình thường nhiều tháng sau khi sinh. Tại
khoa phẫu thuật Nhi – Bệnh viện Nhi Đồng I Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ
tồn tại ống phúc tinh mạc là 0,8 – 4,4%, ở trẻ sinh non tỷ lệ này có thể lên tới
30% tùy theo tuổi thai. Cloquet (1817) nhận thấy ống phúc tinh mạc không
thường xuyên được bít lại sau khi sinh. Khi phẫu tích trên xác ông nhận thấy ở
nhóm những người đàn ông trưởng thành có 15 – 30% còn tồn tại ống phúc
tinh mạc nhưng không có biểu hiện bệnh lý thoát vị trên lâm sàng.
16
* Nguyên nhân mắc phải:
Ngày nay, người ta đã chứng minh được có nhiều nguyên nhân gây nên
TVB trực tiếp hoặc gián tiếp. Bất cứ tình huống nào làm gia tăng áp lực trong
xoang bụng hoặc làm yếu thành bụng đều có thể gây ra TVB [11], [12].
* Các nguyên nhân làm tăng áp lực trong xoang bụng như: Cổ trướng,
mang thai, khối u lớn trong ổ bụng, hoạt động thể lực thường xuyên, ho mãn
tính (viêm phế quản mãn tính), rặn tiểu (do phì đại tuyến tiền liệt), táo bón
kinh niên.
* Các yếu tố làm yếu cơ thành bụng: suy dinh dưỡng sinh đẻ nhiều,
chấn thương thành bụng, mô thành bụng lão hóa ở người cao tuổi.
1.3.2. Phân loại thoát vị bẹn
+ Loại 3: thoát vị gián tiếp lớn và thoát vị trực tiếp.
+ Loại 4: thoát vị đùi.
- Phân loại của Gilbert (1986)
Dựa vào 2902 BN do chính tác giả mổ dưới gây tê tại chỗ hoặc gây tê
ngoài màng cứng từ 1975 – 1986, ông đã đề nghị chia TVB đùi thành 5 loại
như sau:
+ Loại 1: TVB gián tiếp, lỗ bẹn sâu không giãn, sàn bẹn còn tốt, đẩy túi
thoát vị vào, khi ho túi thoát vị không trở lại.
+ Loại 2: TVB gián tiếp, lỗ bẹn sâu dãn < 4 cm, đẩy túi thoát vị vào,
khi ho túi thoát vị ra trở lại.
+ Loại 3: TVB gián tiếp, lỗ bẹn sâu > 4 cm, đẩy túi thoát vị vào, túi ra
lại ngay khi buông tay.
+ Loại 4: TVB trực tiếp chiếm toàn bộ sàn bẹn.
+ Loại 5: TVB trực tiếp dạng túi thừa nguyên phát.
- Phân loại TVB theo Nyhus.
Nyhus là phẫu thuật viên chủ trương phẫu thuật điều trị TVB theo ngả
sau (ngả trước PM), và phân loại thoát vị như sau:
18
+ Loại I: TVB gián tiếp, lỗ bẹn sâu tốt, sàn bẹn bình thường.
+ Loại II: TVB gián tiếp, lỗ bẹn sâu rộng, sàn bẹn tốt.
+ Loại III chia làm 3 loại nhỏ: IIIa (thoát vị trực tiếp), IIIb (thoát vị gián
tiếp lỗ bẹn sâu rộng hỏng sàn bẹn, thoát vị hỗn hợp), IIIc (thoát vị đùi).
+ Loại IV: mọi loại thoát vị tái phát.
- Gần đây vào năm 2002, trong hội nghị về phẫu thuật TVB của hội
Ngoại khoa Đức tại Magdeburg đã thống nhất chia thoát vị vùng bẹn thành 5
loại chủ yếu bao gồm: (1) thoát vị gián tiếp, (2) thoát vị trực tiếp, (3) thoát vị
phối hợp, (4) thoát vị đùi, (5) thoát vị tái phát.
định rõ được tinh hoàn.
- Tinh hoàn lạc chỗ: tinh hoàn nằm trong ống bẹn nhầm tưởng là khối
thoát vị. Dưới bìu không có tinh hoàn, chỉ thấy tinh hoàn bên đối diện.
- Giãn tĩnh mạch thừng tinh: nghiệm pháp Curling (+), sờ khối phồng
thấy rõ tĩnh mạch giãn như búi giun, đau tức dọc thừng tinh.
- U nang nước thừng tinh: khối u tròn nhẵn nằm trên đường đi của
thừng tinh, sờ nắn không đau, không thay đổi vị trí.
- Hạch viêm vùng bẹn: khối sưng, nóng, đỏ, đau vùng bẹn. Thường
xuất hiện khi có ổ viêm nhiễm vùng bẹn, đùi.
- Áp xe cơ thắt lưng chậu.
- Áp xe các tạng khác trong ổ bụng chảy xuống bẹn.
1.5. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ
BẸN
Từ 1500 năm trước Công Nguyên, TVB đã được ghi nhận như một chỗ
phồng lên ở vùng bẹn bởi những người Ai Cập cổ đại. Điều trị TVB chủ yếu
sử dụng một dải băng treo để cố định khối thoát vị vừa đủ chặt. Vào những
năm đầu của thế kỷ thứ I sau công nguyên, Celsus đã mô tả một loại phẫu
thuật và đã trở nên phổ biến ở vùng Greco – Roma: Thông qua một đường
20
rạch ở cổ bìu, túi thoát vị được phẫu tích ra khỏi thừng tinh và giải phóng cho
tới tận lỗ bẹn sâu [34].
Năm 1363, Guy de Chauliac đã phân biệt hai loại thoát vị khác nhau là
TVB và thoát vị đùi, và miêu tả kỹ thuật làm hạn chế thoát vị nghẽn bằng
cách cho nằm đầu thấp
Năm 1556, Franco mở lỗ bẹn sâu cắt cổ túi thoát vị giải phóng thoát vị
nghẹt và đóng lại chỗ khuyết hổng bằng những mối chỉ khâu rời.
Năm 1559, Casper Stromayr giới thiệu cuốn sách về thoát vị, trong đó
được thực hiện lần đầu tiên vào năm 1884 và báo cáo vào năm 1887. Cũng
giống như các phương pháp mổ điều trị TVB sử dụng mô tự thân, phương
pháp Bassini được thực hiện lần lượt qua các bước sau [1], [4], [36].
- Đường rạch da: là phân giác của cung đùi và bờ ngoài cơ thẳng to.
- Phẫu tích ống bẹn, nhận diện, bộc lộ và di động thừng tinh.
- Rạch mạc ngang từ củ mu tới lỗ bẹn sâu: đây là phương pháp quan
trọng để sửa chữa thành bẹn sau theo đúng phương pháp Bassini. Nó cũng cho
phép bộc lộ và cột túi thoát vị cao hơn.
- Tách và cắt cơ bìu để bộc lộ, giải phóng túi thoát vị ra khỏi thừng tinh,
khâu và cắt cổ bao thoát vị tại mức lỗ bẹn sâu.
- Sửa chữa lỗ cơ lược, chuyển vị trí thừng tinh và đóng lại ống bẹn.
1.5.2. Phương pháp McVay – Lotheissen
Năm 1897, Lotheissen lần đầu tiên dùng dây chằng Cooper khâu với
gân kết hợp để điều trị một trường hợp thoát vị đùi tái phát [34]. Năm 1942,
McVay dựa trên khảo sát về cơ thể học vùng bẹn, kết luận rằng: Cơ ngang
bụng phải được khâu vào dây chằng Cooper, vốn là vị trí bám bình thường
của mạc ngang chứ không phải khâu vào dây chằng bẹn.
- Phục hồi thành bẹn sau bằng cách khâu cung cơ ngang bụng vào dây
chằng Cooper. Bắt đầu từ củ mu bằng các mối khâu rời chỉ silk số 1 hoặc số 0,
22
khâu dọc theo dây chằng Cooper tới sát bờ trong của bao mạch đùi, mũi khâu
ngoài cùng được gọi là mùi khâu chuyển, vì đường khâu từ đây sẽ chuyển từ
dây chằng Cooper sang lá trước bao mạch đùi. Đường khâu tiếp tục thêm ra
phía ngoài bằng khâu mạc ngang vào lá trước bao mạch đùi, và như thế đường
khâu sẽ đẩy thừng tinh ra phía mép ngoài của sàn bẹn. Lưu ý khi khâu vào bao
mạch đùi tránh làm thương tổn tĩnh mạch đùi.
- Kiểm tra độ khít của lỗ bẹn sâu mới đươc tạo hình tốt nhất chỉ để vừa
nhiều kinh nghiệm.
Các phương pháp dùng mô tự thân do phải kéo hai mô, cân từ hai vị trí
vốn xa nhau lại gần để khâu vào với nhau nên tất yếu dẫn đến việc gây căng ở
đường khâu [4], [10], [64].
Sự căng giãn ở đường khâu tạo hình sẽ gây nên:
* BN đau nhiều sau mổ, chậm hồi phục sinh hoạt cá nhân sau mổ, nằm
viện lâu, chậm trở lại lao động bình thường.
* Thiếu máu nuôi ở lớp khâu tạo hình khiến sẹo lành không tốt có thể
dẫn đến thoát vị tái phát.
- Thì phẫu tích và xử lý thoát vị cũng như các phẫu thuật khác.
- Tái tạo thành sau ống bẹn: Thành sau ống bẹn sẽ được gia cố bằng
một mảnh polypropylene rộng từ 4 – 6 cm x 11cm đặt dọc theo chiều ống bẹn
từ ngoài vào trong và cắt dọc đầu ngoài (đuôi) làm 2 vạt sao cho điểm dừng
tương ứng với bờ trong lỗ bẹn sâu. Cần phải cho đầu trong mảnh ghép vươn
đến hoặc phủ lên được dây chằng bẹn và đuôi mảnh ghép có thể nhét gọn
được vào bên dưới lá trên của cân cơ chéo ngoài. Góc dưới trong của mảnh
ghép phải được khâu vào mô mềm trên củ mu bằng chỉ prolene 0/0, và mảnh
ghép phải phủ chồng lên 1- 2cm tại đây. Khâu bờ dưới mảnh ghép vào dây
chằng bẹn bằng mũi chỉ khâu vắt liên tục hoặc mũi rời, bờ trên mảnh ghép
được may vào cân cơ chéo trong ở vị trí sát dưới lá trên của cân cơ chéo
24
ngoài. Khâu 1 – 2 mũi vào đuôi mảnh ghép nơi hai nhánh ôm lấy thừng tinh
sao cho vừa đủ cho thừng tinh đi qua.
- Đặt lại thừng tinh về vị trí tự nhiên của nó.
- Khâu lại hai mép cân cơ chéo ngoài như các phương pháp khác.
Năm 2001, phương pháp Desarda được báo cáo lần đầu tại Ấn độ. Tác
giả muốn phát triển một phương pháp thừa hưởng những ưu điểm của phẫu
ứng dụng rộng rãi, phương tiện, dụng cụ còn đắt và hiệu quả điều trị bước đầu
được đánh giá là ngang nhau [69], [74], [81].
Ngày nay, PTNS điều trị TVB được áp dụng khá rộng rãi ở các nước
phát triển, đặc biệt ở các nước Âu và Mỹ [28], [42], [45], [48], [52], [66].
Ở Việt Nam, từ năm 1997, PTNS điều trị TVB đã được triển khai tại
thành phố Hồ Chí Minh, sau đó áp dụng rộng rãi ở các bệnh viện khác [2], [7],
[16], [18], [19].
Tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108, PTNS điều trị TVB đã được
thực hiện từ năm 2004 và đã mang lại kết quả khả quan cho người bệnh.
Cho tới nay, hầu hết phẫu thuật phục hồi thành bẹn nội soi được thực
hiện bởi hai phương pháp đó là: PTNS qua ổ bụng đặt mảnh ghép ngoài phúc
mạc - TAPP và nội soi đặt mảnh ghép hoàn toàn ngoài phúc mạc – TEP [27],
[33], [44], [49], [91], [93], [94].
* Phẫu thuật nội soi qua ổ bụng đặt mảnh ghép ngoài phúc mạc (TAPP)
Chỉ định: Phương pháp phẫu thuật nội soi qua ổ bụng đặt mảnh ghép
ngoài phúc mạc có chỉ định điều trị cho tất cả các loại thoát vị theo Nyhus
1991, kể cả thoát vị nghẹt, thoát vị 2 bên [26], [29], [39], [73], [81].
PTNS qua ổ bụng đặt mảnh ghép ngoài PM (TAPP) có các ưu, nhược
điểm như sau [50], [51], [54], [61], [86], [88]:
- Ưu điểm của phương pháp TAPP: