đánh giá kết quản phẫu thuật nội soi dây thanh - Pdf 48

Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ
HẠT XƠ DÂY THANH
Trần Việt Hồng*

TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị hạt dây thanh trên tiêu chuẩn chủ quan ( tự cảm
nhận, chỉ số khuyết tật giọng nói VHI, khách quan ( nội soi và soi hoạt nghiệm thanh quản Stroboscopy)
Phương pháp: Tiến cứu mô tả và can thiệp thực hiện tại khoa TMH BV Nhân Dân Gia Định từ 03/2010032012.
Kết quả: Có 50 bệnh nhân (38 nữ, 12 nam), tuổi trung bình 36 (20-70 tuổi), trước phẫu thuật khàn tiếng
100%, mức độ vừa, nặng là 73%, Sau PT: hết giảm khàn tiếng 92%; chỉ số VHI sau PT cải thiện 96%. Nội soi và
soi hoạt nghiệm thanh quản lấy hết bệnh lý và liền sẹo tốt đạt kết quả tốt và rất tốt là 94% và đánh giá tổng hợp là
2 tiêu chuẩn chủ quan và khách quan thành công là 94%.
Kết luận: Phẫu thuật nội soi điều trị hạt dây thanh quản là hiệu quả thành công sớm 94%, an toàn, nhẹ
nhàng.
Từ khóa Hạt dây thanh.

ABSTRACT
EFFECTIVENESS OF ENDOSCOPIC SURGERY IN TREATMENT
OF VOCAL CORD NODULE
Tran Viet Hong * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 - Supplement of No 1 - 2013: 106 - 113
Objective: To evaluate effectiveness of endoscopic surgery in treatment of vocal cord nodule using subjective
criterias (self assessment, voice handicap index VHI), objective criterias (laryngoscopy and stroboscopy).
Method: Clinical trial, performed at ENT Department, from March 2010 to March 2012.
Result- Discussion: 50 patients, including 38 females, 12 males, average age 36 (20- 70 years old). All had
hoarseness, with rate of mild and severe level of 73%. After surgery, rate of partial/ total recovery is 92%, VHI
improvement is 96%. Laryngoscopy and stroboscopy show no more lesions and rate of good/ excellent result is
94%. Overall result of subjective objective criterias is at rate of 94%.


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013
quan liên quan chi phối mà còn do chính quá
trình vận đông phát âm của 2 dây thanh gây ra.
Hạt xơ dây thanh hay viêm thanh quản hạt:
- Bệnh thường gặp ở người lớn và trẻ em, nữ
nhiều hơn nam, ở những người phải nói nhiều,
tiếng nói là công cụ lao động chính như giáo
viên, ca sĩ, phát thanh viên, bán hàng, công nhân
làm trong nhà máy tiếng ồn lớn….Nguyên nhân
chính là lạm dụng giọng nói cao, do cố hát cao
hay hát không đúng âm vực của mình, nói nhiều
khi thanh quản đang bị viêm(2,7).
- Trước đây vi phẫu thuật ở dây thanh được
quan sát dưới kính hiển vi. Ngày nay do sự phát
triển của nội soi, đặc biệt là ống nội soi thanh
quản quang học cứng và sự ra đời của một số
phương tiện hiện đại, trên thế giới cũng như ở
nước ta đã áp dụng phương tiện nội soi vào
phẫu thuật thanh quản. Việc ứng dụng nội soi
vào vi phẫu u hạt xơ dây thanh đã được tôi áp
dụng từ năm 2000 (13,4), nhưng tôi chưa đi sâu
nghiên cứu một cách hệ thống.
- Mặt khác việc đánh giá hiệu quả nội soi vi
phẫu thanh quản các bệnh lý dây thanh bằng kết
hợp cả hai tiêu chuẩn chủ quan như đo chỉ số
khuyết tật giọng nói, tự cảm nhận của bệnh
nhân, và tiêu chuẩn khách quan như soi hoạt
nghiệm thanh quản (stroboscopy). Ở Việt Nam
chưa thấy có báo cáo bằng kết hợp các tiêu

Tiêu chuẩn chọn bệnh
Bệnh nhân trên 16 tuổi có rối loạn giọng nói,
khàn tiếng liên tục, kéo dài đến khám tại phòng
khám TMH của BV NDGĐ.
Nội soi thanh quản và soi hoạt nghiệm thanh
quản có hạt xơ ở 1/3 trước 2 bên dây thanh,
thanh môn khép không kín khi phát âm, sóng
rung niêm mạc bị ngắt quãng.
Thang điểm chỉ số khuyết tật giọng nói ở
trên mức bình thường.

Phương tiện nghiên cứu
- Máy nội soi phẫu thuật, máy nội soi chẩn
đoán Karl-Storz.
- Ống nội soi thanh quản 5.0 (00, 300).
- Bộ soi treo thanh quản.
- Bộ dụng cụ vi phẫu thanh quản: Các loại
kìm thẳng, cong phải, cong trái, cong lên 45; Các
loại kéo thẳng, cong phải, cong trái, cong lên 45;
Máy hút, các loại ống hút có các cỡ nhỏ, trung
bình, cong, thẳng; Que thăm dò, dụng cụ vén.
Thìa nạo vi phẫu, thìa bóc tách vi phẫu; Máy đốt
điện và que đốt điện vi phẫu.

Tiêu chí đánh giá
Tôi thu thập số liệu theo hướng đánh giá kết
quả điều trị vi phẫu qua nội soi, bằng tiêu chuẩn
chủ quan và khách quan.

Đánh giá theo tiêu chuẩn chủ quan

tật giọng nói (mẫu phiếu ở phần phụ lục ),họ tên,
tuổi, nghề nhiệp, ngày mổ, ngày ghi phiếu, đánh
giá cho 30 câu hỏi, bệnh nhân tự đánh giá trước
mổ 1 ngày và sau mổ tối thiểu 1tháng. Tổng kết
số điểm là 120 và đánh giá so sánh mức độ bệnh
trước và sau mổ. Theo Giorgio Peretti (0 điểm:
mức bình thường; 1-30 điểm: mức nhẹ; 31-60
điểm: mức vừa; 61-90 điểm: mức nặng; 91-120
điểm: mức rất nặng).

Đánh giá theo tiêu chuẩn khách quan
Đánh giá qua nội soi và stroboscopy: sau mổ 1
tuần và > 1 tháng.
- “Rất tốt”: Đã lấy hết tổn thương, dây thanh
phẳng đều, không bị sẹo co kéo, không bị teo,
không bị lõm, không bị rách hay phù nề niêm
mạc, thanh môn khép kín khi phát âm, sóng
rung niêm mạc 2 dây thanh đều đặn và chạm
vào nhau khi phát âm.
- “Tốt”: Đạt được các tiêu chuẩn trên nhưng
còn có một vài điểm chưa được hoàn hảo.
- “Không tốt”: Còn tổn thương hoặc tái phát,
có sẹo, thanh môn khép không kín, sóng rung
niêm mạc ít.

Phương pháp tiến hành
Tiến hành soi treo vi phẫu thuật thanh quản
Bệnh nhân được gây mê với ống nội khí
quản số nhỏ 5.5 hay 6.0 qua mũi và với thuốc


mép khuyết cho dính sát vào nhau. Sau đó dùng
ống nội soi 5.0 (0,30) di chuyển sát dây thanh
kiểm tra trên, dưới dây thanh về tổn thương
bệnh lý hoặc vết cắt niêm mạc. Lấy tổn thương
bệnh lý làm Giải phẫu bệnh lý.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Số lượng bệnh nhân: 50, trong đó nam:
12(24%), Nữ: 38 (76%).
Tuổi: 20-70 tuổi, trung bình: 36 tuổi.
Kết quả giải phẫu bệnh: Hạt xơ và viêm
niêm mạc dây thanh 100%.

Mức độ khàn tiếng
Đánh giá kết quả điều trị trước, sau phẫu thuật
Theo dõi kết quả điều trị bệnh sau mổ tối

Chuyên Đề Tai Mũi Họng – Mắt


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013

Nghiên cứu Y học

thiểu một lần sau 1 tháng hoặc những tháng tiếp

(bảng câu hỏi nói ở phần phương pháp nghiên

theo bằng tiêu chuẩn đánh giá chủ quan, khách


14
12
50
48%

28%

24%

100%

Nhận xét: Qua bảng 1 cho thấy: Trước mổ số
bệnh nhân bị khàn tiếng là 100%, trong đó nặng
và vừa chiếm đa số 38 bệnh nhân (76%).
Sau phẫu thuật
Bảng 2: Mức độ khàn tiếng sau phẫu thuật.
Mức độ khàn tiếng
Hết khàn tiếng
Giảm khàn tiếng
Còn khàn tiếng
Tổng cộng

Số bệnh nhân
41
05
04
50

Tỉ lệ %
82%

50
100%
50

Tỉ lệ %
46%
40%
10%
04%
100%

Nhận xét: Qua Bảng 3 cho chúng ta thấy số
bệnh nhân sau phẫu thuật ở mức bình thường và
nhẹ là 86%, vừa 10%.Tổng cộng 96% bệnh nhân tự
khai là có kết quả tốt, chỉ có 04% là còn nặng trong
khi đó trước mổ số bệnh nhân nặng là 24%.

Đánh giá mức độ bệnh theo tiêu chuẩn khách
quan
Đánh giá kết quả qua nội soi và soi hoạt nghiệm thanh
quản
Trước mổ 100% bệnh nhân nội soi và soi hoạt
nghiệm thanh quản có hạt xơ dây thanh 2 bên
đường kính trên 1mm.
Tôi đánh giá kết quả bằng quan sát trên hình
ảnh chụp nội soi và soi hoạt nghiệm thanh quản
(Stroboscopy) sau phẫu thuật trên 1 tháng đưa ra
các mức độ hình ảnh của dây thanh “rất tốt”,
“tốt” và “không tốt”. Tiêu chuẩn đánh giá này
tôi nói ở phần phương pháp nghiên cứu.


Đánh giá tổng hợp hiệu quả điều trị

Đánh giá kết quả chủ quản theo chỉ số khuyết
tật giọng nói
Tôi đánh giá kết quả so sánh trước và sau
phẫu thuật bằng thang điểm dựa vào tổng kết

Chuyên Đề Tai Mũi Họng –Mắt

109


Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013

Đánh giá tổng hợp các tiêu chuẩn chủ quan
và khách quan để thấy hiệu quả của vi phẫu
thanh quản: “Tốt”: bệnh nhân thấy hết khàn
tiếng, chỉ số khuyết tật ở mức độ nhẹ, nội soi và
soi hoạt nghiệm thanh quản ở mức rất tốt. “Cải
thiện”: bệnh nhân khàn tiếng còn ở mức vừa, chỉ
số khuyết tật giọng nói ở mức vừa, nội soi và soi
hoạt nghiệm dây thanh tốt.
“Thành công” của cuộc phẫu thuật gồm có
“tốt” và “cải thiện”.
“Thất bại” là bệnh tái phát hoặc các chỉ số
đánh giá còn mức nặng.
Bảng 5: Đánh giá tổng hợp hiệu quả điều trị.

chuẩn chủ quan và khách quan.
Tiêu chuẩn chủ quan bao gồm: Bệnh nhân tự
cảm nhận về giọng nói của mình và tự đánh giá
trả lời những câu hỏi về chỉ số khuyết tật giọng
nói (VHI)(3).
Tiêu chuẩn khách quan bao gồm: Đánh giá
qua hình ảnh soi hoạt nghiệm thanh quản
(Stroboscopy).

Bàn luận về kết quả điều trị bằng tiêu
chuẩn chủ quan
Bệnh nhân tự cảm nhận

110

Tôi theo dõi kết quả điều trị sau phẫu thuật
một tháng hoặc những tháng tiếp theo tối thiểu 1
lần bằng tiêu chuẩn đánh giá chủ quan. Bệnh
nhân tự cảm nhận, đánh giá mức độ khàn tiếng
của mình sau phẫu thuật so với trước phẫu
thuật. Bệnh nhân cùng tôi nghe lại băng ghi âm
giọng nói đọc phần hành chính, đếm số từ 1-10,
phát âm nguyên âm A, I, Ê,U kéo dài và hát một
đoạn bài hát. Kết quả cho thấy số bệnh nhân hết
khàn tiếng là 82%, số bệnh nhân giảm khàn tiếng
là 10%, còn 08% bệnh nhân không giảm hoặc
khàn tiếng tái phát. So với trước phẫu thuật có
100% bị khàn tiếng, trong đó khàn nhẹ 48%, mức
vừa 28% và mức nặng 24%. Tính tổng cộng sau
phẫu thuật số bệnh nhân hết khàn tiếng và giảm


Chuyên Đề Tai Mũi Họng – Mắt


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013

Nghiên cứu Y học

xã hội của bệnh nhân hay nói cách khác là chất
lượng cuộc sống sau điều trị. VHI được thừa
nhận vào năm 2002 bởi tổ chức Nghiên cứu y tế
và chất lượng (Agency ber Heatheare Reseach
and Quality) nó được xem là một công cụ chẩn
đoán và đánh giá hiệu quả của một phương
pháp điều trị(10). Các câu hỏi về chỉ số khuyết tật
giọng nói phiên bản tiếng Anh đã được tác giả
Huỳnh Minh Trí trong luận án cao học đã phiên
bản ra tiếng Việt. Tôi đã áp dụng câu hỏi này để
đánh giá kết quả điều trị trên số bệnh nhân
nghiên cứu vi phẫu thanh quản qua nội soi.

Dựa theo tiêu chuẩn đánh giá số điểm số
bệnh nhân khai về chỉ số khuyết tật giọng nói
sau phẫu thuật có kết quả từ nhẹ đến bình
thường là 89,1%. Điều này chứng tỏ hiệu quả
điều trị tốt giúp cho chất lượng cuộc sống của
bệnh nhân được tăng lên.

Kết quả nghiên cứu của tôi số bệnh nhân trả
lời câu hỏi khuyết tật giọng nói ở mức độ bình

mức độ bệnh và cũng không theo dõi chỉ số VHI
ở bệnh nhân sau phẫu thuật. Tác giả Virginic và
cộng sự, thực hiện nghiên cứu trên 58 bệnh
nhân, bị rối loạn giọng nói trước phẫu thuật có
số điểm khuyết tật thấp nhất là 4, cao nhất là 95
và số trung bình là 39,76  22,680. Tác giả Isabel
Guimaraes đưa chỉ số khuyết tật trung bình của
bệnh nhân rối loạn giọng nói trước phẫu thuật là
34,4  3,2. Các tác giả trên cũng không đưa ra
mức độ bệnh và số bệnh nhân đo chỉ số VHI sau
phẫu thuật(14).
So sánh mức điểm chỉ số khuyết tật giọng
nói trước phẫu thuật của tôi có khác với một số
tác giả. Số bệnh nhân trong nghiên cứu của tôi
tập trung ở mức điểm (31-60) là 51% có cao hơn
vì tôi chỉ khảo sát có bệnh hạt dây thanh, trong
khi đó các tác giả khảo sát nhiều bệnh (Hạt dây
thanh, Pôlýp, U nang dây thanh, phù Reinke, u
nhú thanh quản, viêm thanh quản vv…).

Chuyên Đề Tai Mũi Họng –Mắt

Bàn luận về kết quả điều trị bằng tiêu
chuẩn khách quan
Có 2 tiêu chuẩn khách quan để đánh giá kết
quả điều trị là nội soi, soi hoạt nghiệm thanh
quản bệnh nhân trước, sau phẫu thuật.

Tôi đã tiến hành nội soi và soi hoạt nghiệm
thanh quản cho 50 bệnh nhân u hạt dây thanh


lấy hết tổn thương. Nguyễn Đức Tùng sau

đoán bệnh bằng Stroboscopy là rất khách quan

phẫu thuật kết quả “ rất tốt” hạt dây thanh rất

và chính xác(10,11).

tốt 92%. So sánh kết quả của tôi có sự khác biệt

KẾT LUẬN

với tỉ lệ của Nguyễn Đức Tùng. Tỉ lệ của
Nguyễn Đức Tùng cao dựa trên đánh giá bằng
nội soi thanh quản thông thường còn tôi đánh
giá mức độ bằng Stroboscopy có lẽ mức độ
đánh giá này khắt khe hơn.
Ở Việt Nam chỉ có một vài cơ sở dùng soi

Phẫu thuật nội soi điều trị hạt xơ dây
thanh là phương pháp điều trị phục hồi giọng
nói, hiệu quả điều trị thành công 94%; là
phương pháp phẫu thuật nhẹ nhàng, chi phí
thấp, có thể tiến hành ở tất cả các cơ sở TMH
có máy nội soi phẫu thuật.

hoạt nghiệm thanh quản để chẩn đoán và đánh
giá tổn thương dây thanh bằng hình ảnh động
trước phẫu thuật, nhưng chưa thấy có bài báo

4.

Qua nghiên cứu của tôi 50 bệnh u hạt dây
thanh được nội soi thanh quản thông thường

5.

bằng ống nội soi mềm Olympus, ống soi cứng
Karl- Storz ngay sau đó tôi soi lại bằng hoạt

6.

nghiệm thanh quản thì độ chính xác đánh giá
tổn thương của Stroboscopy cao hơn, điều này

7.

cũng được chứng minh bởi Scott. Có 10% số
bệnh nhân tôi phải đánh giá lại sau khi soi nội

8.

soi thông thường trước, sau phẫu thuật về tổn
thương cũng như sự liền sẹo. Đặc biệt là phát
hiện tổn thương sẹo dính, ẩn dưới niêm mạc nội

9.

Bening M et al (1998). “Assessing outcome for dysphonic
patients”. Journal of Voice.Vol. 12, No. 4, pp. 540 - 550.



Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013
10.

11.

12.

Schindler A, Spadol BM (2005). “Role of video endoscopy in
phoniatrics: data from three years of daily practice”. Acta
Otorhino Laryngol. Italy, pp. 43 - 49.
Shohet JA, Courey MS, Scott MA, Ossoff RH. (1996) “Value of
videostroboscopic parameters in differentiating true vocal fold
cysts from polyps”. Laryngoscope. 1996 Jan;106(1 Pt 1):19-26.
Thái Thanh Hải (2008). Bước đầu phân tích giọng nói qua máy hoạt
nghiệm thanh quản ứng dụng trong chẩn đoán bệnh lý dây thanh.
Luận văn Chuyên khoa II, Đại học Y Dược TP.HCM.Tr.(65-70)

Chuyên Đề Tai Mũi Họng –Mắt

13.

14.

Nghiên cứu Y học

Trần Việt Hồng, Huỳnh Khắc Cường (2001). “Ứng dụng kỹ
thuật nội soi vào vi phẫu thanh quản”.Tạp chí Y học TP. Hồ Chí
Minh, tập 5(4), tr. 69 - 72.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status